Việt Văn Mới
Việt Văn Mới

Đọc lại thơ Trịnh Cốc :

HOÀI THỦY BIỆT HỮU

(Hoài thượng biệt cố nhân)

淮 水 別 友 人

郑 谷


楊 子 江 頭 楊 柳 春
楊 花 愁 殺 度 江 人
數 聲 風 笛 離 亭 晚
君 向 瀟 湘 我 向 秦


Dương Tử giang đầu Dương Liễu xuân,
Dương Hoa sầu sát độ giang nhân;
Sổ thanh phong Địch ly đình vãn,
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần.

TRỊNH CỐC


Dịch :

CHIA TAY BẠN TRÊN SÔNG HOÀI (1)

*1- Sông Dương, Dương Liễu đua tươi,
Hoa Dương buồn chết dạ người sang sông;
Đình hôm tiếng sáo não nùng
Anh đi bến Sở , tôi trông bén Tần.

(Ngô Tất Tố)

*2- Đầu sông Dương Tử, Liễu đương tươi,
Qua bến hoa Dương xót dạ người;
Bóng xế ly đình phong Địch vẳng
Kẻ Tần, người Sở, ngán đôi nơi.

(Bùi Khánh Đản)

(1) các sách xưa nay đều chú thích là sông Tần Hoài, NK sang thực tế cũng thấy như vậy là hợp lý với bài thơ "Hoài thủy biệt hữu" của Trịnh Cốc.


LỜI DẪN DỤ:

Tháng 6/2006 NK tôi cùng Nhà thơ Vũ Quang Tần (Hải Phòng) sang vãng cảnh Nam Kinh (TQ) đến Bến Tần Hoài đọc thơ Đỗ Mục "Bạc Tần Hoài", rồi lại chạnh lòng với Trịnh Cốc cũng trên sông Tần Hoài này (xưa) một chiều cuối xuân chia tay bạn đã để lại một áng thơ tuyệt cú thất ngôn tuyệt tác.

Trịnh Cốc : tự Thủ Ngư, hiệu Diệc Sơn, đỗ Tiến sĩ năm 887, làm quan tới chức Lang Trung (cỡ Vụ trưởng), sau về ẩn ở Bắc Nham nổi tiếng có bài "Chim Giá Cô".

Trước tiên cần nói rõ : sông Hoài ở đây là sông Tần Hoài ở ngoài thành Nam Kinh, phát nguyên từ tỉnh Giang Tô, qua huyện Giang Minh rồi chảy vào sông Dương Tử...chứ không phải là sông Hoài (Hoài Hà) như tác giả Thu Tứ ( đã viết ở trang Web "Chim Việt cành nam"-số 51 ngày 15-5-2013, đó là con sông lớn thứ 3 sau Hoàng Hà, Dương Tử ở mãi tỉnh Hà Nam chia đôi nam/ bắc Trung Hoa ?) ; còn sông Tiêu Tương (Tương giang) một sông lớn ở nước Sở (xưa) do 2 sông Tiêu và sông Tương hợp thành. Sông Tương xuất phát từ núi Dương Hải, tỉnh Quảng Tây chảy qua phủ Trường Sa (Hồ Nam) rồi vào hồ Động Đình, Sông Tiêu xuất phát từ núi Cửu Nghi, huyện Ninh Viễn (Hà Nam) chảy đến huyện Ninh Lăng thì nhập vào sông Tương. Sông Tiêu Tương gắn với sự tích 2 nàng Nga Hoàng & Nữ Anh xưa khóc chồng là vua Thuấn đến nỗi nước mắt vẩy vương vào những khóm trúc 2 bên bờ sông Tương làm cho trúc ở đây bị lốm đốm vàng ĐẸP thành giai thoại "mành Tương" nói lên sự chia ly , buồn nhớ trong thơ ca Trung Hoa xưa?

BÌNH :

Bài thơ tứ tuyệt (4 câu) 28 chữ mà khái quát cả một không gian rộng lớn để nói lên cái tình người (tình bạn) mênh mông: chia tay tuy ở trên sông Tần Hoài mà như lại tưởng thấy mãi phía xa kia : đầu sông Dương Tử, nơi con thuyền của bạn sẽ đến đang là lúc cuối mùa xuân, khi hoa Dương Liễu đã tàn (chết) ấy làm chết cả lòng người (ta đây) trong lúc tiễn bạn qua sông (sầu sát = buồn thối ruột, buồn héo lòng...) là vậy ! Cái "sầu sát" này là cái buồn biệt ly ở nới "đình chiết liễu" ( có cần gì bẻ Liễu tặng nhau - thơ Tế Hanh), xa lần này chắc gì đã gặp lại ? vì thế cho nên tiếng Sáo (tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng) cũng não nùng cùng trời nước mênh mang : anh thì đi về phía sông Tiêu Tương (Hồ Nam - nước Sở) còn tôi thì trông bến Tần Hoài này vọng mãi tới đầu sông Dương Tử nhìn hoa Dương Liễu mà buồn xót lòng...Trịnh Cốc qua bài thơ HOÀI THỦY BIỆT HỮU đã hiến cho thi đàn 2 chữ "sầu sát" bất hủ, xưa nay chưa thấy ai viết được như vậy ?


Góc thành nam Hà Nội 15-7-2013
______________________________________________