Nguyễn Lương Vỵ
Thêm Bước Đột Phá Trên Đường Thơ  


TRẦN TRUNG THUẦN

Quý vị đang nghe Dolanne

Đường Thơ là con đường dài, dài lắm, có khi quen thuộc, có khi lạ lùng, có khi là con đường tưởng như cụt. Nó có thể là con đường trên trời, con đường trên sông rạch biển khơi, con đường trên đất liền,…cả con đường trong lòng đất nữa! Trên con đường thơ, người ta không thấy có bảng cấm nào.

Đường thơ là con đường Tự Do. Dĩ nhiên nó không phải là con đường có tên hồi ở Sài Gòn trước 30 tháng Tư bảy lăm sau khi bỏ tên Catinat – tên một chiếc tàu Pháp chở Cha Cả Bá Đa Lộc về Pháp sau khi gặp Vua Gia Long ở Huế năm 1802 với lời khẩn cầu của nhà Vua nhờ chuyển lên Giáo Hội Pháp: cho người Nam Việt theo đạo Gia Tô thờ cúng cả Ông Bà Tổ Tiên và những người thân quá vãng. Cha Cả Bá Đa Lộc trở lại và lắc đầu. Năm 1804, Vua Gia Long quyết định ngăn cấm dân mình theo Đạo thờ Chúa dẫn đến những hệ lụy mất nước sau năm mươi năm sau đó, kể từ trận hải chiến với quân Pháp tại Đà Nẵng năm 1858. Quân Pháp đánh Đà Nẵng, chiếm Gia Định, lấy đất này lập nên thành phố Sài Gòn (chữ Tàu viết là Tây Cống vì triều đình nhà Nguyễn, Vua Đại Nam Tự Đức Cống-Cho-Tây sau khi ông Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp cầu hòa về, năm 1864, người Pháp bỏ tên Gia Định, hoan hỉ nhận tên Tây Cống và viết theo chữ Pháp mà đọc âm như Tàu: Se-goong, Saigon. Tên Catinat, từ cái tên của một con tàu, người Pháp lấy đặt cho con đường đẹp nhất thành phố: Đường Catinat! Tổng Thống Ngô Đình Diệm, dù theo Đạo Ca Tô nhân đã tới lúc không còn Giáo Hội Pháp nữa mà Giáo Hội này sau thời Napoléon đã chịu phục tùng Giáo Hội La Mã, một Giáo Hội có chủ trương phóng khoáng, bèn gỡ bỏ tên Catinat đặt lại Đường Tự Do. Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết tâm “bài phong đả thực”, ghét tên chữ Tây. Vừa dùng chữ Tự Do, đã hay, vừa nói lên cái lòng mình ghét Pháp nữa, lại càng hay!.

Sau ngày 30 tháng Tư bảy lăm, Sài Gòn đổi chủ, mất tên, tự do không còn giá trị gì cả dưới chế độ chuyên chính vô sản, nên được thay thế bằng tên mới: Đồng Khởi. Ca dao có câu…như sấm: Đồng Khởi lên rồi mất Tự Do.

Không người Việt Nam nào có địa chỉ cư trú trên đường Catinat / Tự Do / Đồng Khởi sống và làm thơ. Con đường Tự Do với cái tên Tự Do, nó là con đường…nhân tạo, con đường điên đảo, con đường không thơm tho cho người làm thơ đi dạo.

Nguyễn Lương Vỵ ở Sài Gòn khá nhiều năm, trước 4 -1975 từ Đà Nẵng vào đây học Đại Học và sau 4 – 1975 ở lại đây sinh hoạt trong cuộc đổi đời nhiều năm trước khi qua Mỹ năm 2000, anh không cư ngụ trên đường Đồng Khởi bao giờ. Trên đường này, sau 30-4-1975, thi sĩ Trần Thy Nhã Ca có một tiệm buôn tạp hóa, chồng là thi sĩ Trần Dạ Từ…không ở đây mà đi du học và nội trú ở Kon Tum, bà ở nhà trông con không làm được lấy nửa câu thơ, rồi qua Mỹ, tịt luôn!

Nguyễn Lương Vỵ sống và lao động tại thành phố có tên mới, Thành Phố Hồ Chí Minh, anh trở thành thi sĩ chắc nhờ cái duyên: đi đâu cũng nghe vợ mấy người Cải-Tạo-Viên cho biết tình trạng của chồng họ học tập thế nào trong các trại rào dây kẽm gai nhiều lớp có treo câu biểu ngữ…rất biểu tượng Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do. Ăn Thì Ăn Cực Khổ Mà Xúc Cát Cả Ngày! Câu “Ăn cực khổ mà xúc cát cả ngày” khi người ta “phát biểu” nghe như môt câu thơ có đối, như một câu hát xẩm, hát xoan…Hay chi lạ! Chắc chắn là Nguyễn Lương Vỵ lậm nặng vì cái câu cà chớn đó nên chi mới làm thơ hay chịu hết Ý…ta lia luôn!

Tôi nói Nguyễn Lương Vỵ làm thơ Hay (hay hết ý nhận xét gì thêm ngoài cái chữ Hay định phận cho anh rồi). Tôi không đùa giỡn đâu. Tôi khen anh với thật tấm lòng tôi. Tôi không biết gì về anh trước năm 1975, chỉ biết anh trong vòng hơn mười năm nay thôi, thích anh ngay khi nghe anh hát một bài hát của Trịnh Công Sơn bằng giọng Quảng Nam rất chi là ấn tượng.. Tôi từ từ biết Nguyễn Lương Vỵ là thi sĩ, thi sĩ rất có tài, anh Hồ Thành Đức, một họa sĩ nổi tiếng, người Quảng Nam, khẳng định: “Vỵ nó có tài làm thơ, tôi ủng hộ nó ngay tập thơ đầu tiên nó in ở Mỹ, tập Hòa Âm”. Chính tôi thấy anh đưa cho nhà phê bình cũng rất là nổi tiếng, Đặng Phú Phong, số tiền rất lớn để…gọi là nhờ trao lại cho Nguyễn Lương Vỵ thanh toán với nhà in thủ công của nhà văn Trần Hoài Thư. Và nhà văn Vương Trùng Dương chắc cũng “vị” cái tài thơ của Nguyễn Lương Vỵ, đã bỏ nhiều ngày đêm o bế cho tập Hòa Âm một cách toàn tâm toàn ý. Tôi có một bài “nghị luận” về tập Hòa Âm này, được nhiều báo đăng, được lòng tác giả lắm…vì tôi cũng “tán” quá mạng thần tình! Mà tôi, nói đi, nói lại, nói hoài: Thơ Nguyễn Lương Vỵ Là Thơ Hay!

Chuyện về tập Hòa Âm đã lâu rồi, bây giờ chúng ta có tập thơ mới nhất của Nguyễn Lương Vỵ: tập thơ Tám Câu Lục Huyền Âm, chúng ta nên nói về tập này kẻo đi lạc đề tùm lum.

Tám Câu Lục Huyền Âm là tập thơ thứ bảy trong đời thơ còn dài của Nguyễn Lương Vỵ. Ở Mỹ thì đây là tập thơ thứ năm. Bốn tập trước có nhan đề rất “nổ” và đều đúc từ một khuôn “Âm”.: Hòa Âm Âm Âm Âm, Huyết Âm, Tinh Âm, Bốn Câu Thất Huyền Âm.

Cũng nên nhắc một điều lý thú, tập thơ đầu tay của Nguyễn Lương Vỵ có tên là Âm Vang Và Sắc Màu. Có chữ Âm đấy nhé! Tập do nhà xuất bản ở Sài Gòn xuất bản. Tập Phương Ý, không có Âm mà có Ý. Tập Phương Ý do nhà Thanh Niên ở Sài Gòn xuất bản. Thú vị ở chỗ: Nguyễn Lương Vỵ đi suốt với Đường Âm. Thiếu Âm, anh chịu không nổi? Chẳng thể đoán được tập thứ tám trong tương lai sẽ có nhan đề gì đây? Mà còn in thơ được nữa thì hẳn phải trông chờ vào sự Ủng Hộ của bạn yêu thơ thôi. Hai chữ Ủng Hộ, tui nói, nghe vui vui…Chữ Âm đi kèm với chữ nào thấy cũng có Lý nhỉ?

Nguyễn Lương Vỵ là một người làm thơ có vốn học thức rất đáng nễ: anh là Cao học Triết. Với bằng cấp này, Nguyễn Lương Vỵ chỉ thua Phạm Công Thiện. Tôi đọc thơ Nguyễn Lương Vỵ, quen thân kết bầu kết bạn với anh, tôi học thêm nhiều thứ lắm, hút thuốc và uống bia là hai “bộ môn” căn bản. Anh nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, anh thấp hơn tôi về dáng người, nhưng tài anh cao, tình anh bát ngát, thơ anh chất ngất, tôi nễ nang anh nghĩ cũng đúng, Ba Má tôi biết được hẳn mừng cho tôi chớ không trách móc gì tôi. Dù sao thì “tụi nó” cũng đều “người nhớn” cả rồi…May cho tôi, Ba Má tôi đều khuất núi hết, bạn bè trang lứa với tôi thì “nhiệt liệt” tán đồng!

Tôi nói lòng thòng về tác giả tự nãy giờ trong khi nói về tác phẩm thì chỉ có một chữ Hay. Nếu tôi chỉ nói thơ Nguyễn Lương Vỵ Hay, Hay làm sao đây? Một chữ, tức một từ, tức một tiếng? Hai chữ Gọn Lõn, ý chỉ một điều mà còn phải viết hai chữ Gọn và Lõn, còn Hay thì một chữ duy nhất: Hay! Hay là tôi nên nói thêm (cũng rất thật lòng à nha): Thơ Nguyễn Lương Vỵ Hay Quá! Thơ Nguyễn Lương Vỵ Hay Quá Xá! Thơ Nguyễn Lương Vỵ Hay Tuyệt Vời! Thơ Nguyễn Lương Vỵ Hay Tuyệt Cú Mèo. Càng thêm chữ nào thì tôi khen Nguyễn Lương Vỵ đều không uổng, đều không thừa!

Trước khi tôi viết bài này, tôi có đọc được bài nhận định của ông Phan Tấn Hải đăng trên blog sangtao.net. Ông Phan Tấn Hải là một Thiền Sư, ông viết rất nghiêm túc, ông hoàn toàn ca ngợi Nguyễn Lương Vỵ, thơ Nguyễn Lương Vỵ, qua cái nhìn của một bậc Thiền Sư. Có thể có người nghĩ rằng vì chỗ thân tình mà ông Phan Tấn Hải ưu ái Nguyễn Lương Vỵ. Tôi nghĩ rằng không! Với Nguyễn Lương Vỵ, tác giả và tác phẩm, rất nên khen, không nên chê. Có điều, khen hay chê, dành cho Nguyễn Lương Vỵ, chưa đủ, nếu chúng ta có cái bụng khen chê một thi tài đặc biệt, một đường thơ thăm thẳm mà Nguyễn Lương Vỵ khai phá và đang còn đi…

Ông Phan Tấn Hải kết luận bài nhận định của ông, tôi chịu câu này: “Đây là một tập thơ xuất sắc”.

Với một câu, ông Phan Tấn Hải giàu chữ nghĩa hơn tôi. Tôi không xấu hổ, trái lại thấy rất tự hào là mình có một người đáng kính phục…vì người đó giống mình ở quan điểm và cái chỗ đứng của người đó nhìn thấy Nguyễn Lương Vỵ, tác phẩm của Nguyễn Lương Vỵ bao quát hơn mình. Bảy chữ: Đây Là Một Tập Thơ Xuất Sắc”, ông Phan Tấn Hải viết không dè dặt. Ông viết trước tôi, ông dùng hết chữ của tôi rồi. May tôi còn chữ Hay dành cho Nguyễn Lương Vỵ!

Tập thơ thứ bảy của Nguyễn Lương Vỵ, Tám Câu Lục Huyền Âm, với tôi bài nào cũng Hay, nhưng tôi thấy mình nên chọn ra năm (5) bài tiêu biểu để khoe cho hết thảy mọi người.

Năm bài đó, thưa đây (mà tôi chỉ trích vài đoạn thôi…để nhem thèm):

1, ÂM BẢN THÁNG MƯỜI HAI

Vâng! Thưa Mẹ, con đã về bên Mẹ

Ngồi bên hiên nhà cũ để tâm tình

Trời xuống thấp, đất lên cao. Nắng xế

Chiều u trầm chiều êm như trang Kinh.

Mẹ rất mỏng, bóng với hình rất mỏng

Con rất ngây, hình với bóng rất ngây

Và đôi tay rất ấm trong đôi tay

Và đôi mắt rất nồng trong đôi mắt.

Con nhìn mãi chiều Thu xa, xa lắc

Nhìn rất lâu, lâu lắm giữa chiều phai

Chiều huyễn ảo, Mẹ đẹp như trăng cài

Trên đỉnh núi trên đỉnh trời chói rạng.

….(còn 6 khổ nữa)

2, GỬI MỘT NGƯỜI THƠ

(tặng thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh)

Ngồi thưa thốt với người thơ

Trời Bolsa đẹp ngẩn ngơ

Nhớ Sài Gòn không thể tả

Thương miền Trung quá sững sờ

Nha Trang Bùa Huơng mấy độ

Chiên Đàn tháp cổ bao giờ

Niềm u uẩn không thành tiếng

Trời quen đất lạ bơ vơ…

Thưa cùng nữ sĩ Khờ Em

Chiều phai trong sợi tóc mềm

Thơ vốn không bờ không bến

Đời đâu có tuổi có tên

Lắng cùng ta Thượng Thanh Khí

Nghe cùng ta âm Lục Huyền

Vậy đó Chữ là tri ngộ

Xanh ngời giọt máu Đỗ Quyên…

(bài có cả thảy 7 khúc, tôi trích 2…để nữ sĩ Khờ Em lim dim chơi)

3, MỘT NGÀY VỚI NGUYỄN QUẾ PHƯƠNG

Cha và con rong chơi suốt ngày

Hai hạt bụi

Bay!

Nam Calif. lạnh. Nắng đẹp

Nam Calif. lạnh. Con rất đẹp

Cha già hồn nhên. Con trẻ hồn nhên

Cha không có nhà. Có sao đâu Ba!

Đường trăm lối mộng

Căn nhà di động

Chếc xe cà tàng

Cha lái đàng hoàng

Cha con ngắm cảnh

Đất trời quá bảnh

Con cười thiệt ngon.

(Còn 4 khổ nữa, hai cha con thiệt vui, thiệt dễ thương)

4, GỬI NGƯỜI MAI SAU

Tặng thi sĩ Du Tử Lê, nhân một hôm cao hứng, tầm ruồng về thi ca.

(bài gồm 7 phần, mỗi phần 4 khổ, ở đây chọn 1 khổ…tầm ruồng nhất)

…Ghiền ngắm em nằm ngủ như nguyệt

Khép hai tà và mím hai môi

Tiếng mớ mộng, lời thon hai búp

Niềm rưng rưng thơ vuột mất rồi!

Ôi những tiếng thất thanh cổ độ

Bóng ta ngồi nhìn dáng em nằm

Một chớp nháy ngàn thâu vắn số

Một thoáng đời, vạn thuở mất tăm.

Thời ta trú ngụ người giết người

Chết rất oan và chết rất tươi

Người khôn quá thành ra … ác quá

Chủ nghĩa thành bom dội ngút trời!!!

Sầu khôn kham, mộng cũng khôn kham

Loay hoay chờ chết không càm ràm

Chặc lưỡi, đôi khi cũng tiếc thật

Trần gian đẹp quá, chết sao cam?!

5, GỬI QUOẢNG NÔM

Chưa mưa đất đõa thấm rồi

Chưa nhắp rượu đõa mềm môi

Câu hoát hay kinh thiệt hỉ

Bừa thơ lọa gướm rứa thôi

Đứa nồ ưng núa thì núa

Thèng mô thích cười thì cười

Núa cho hung cười cho sướng

Tồ lô thiên tẹc đõa đời…

Bài này gồm 7 đoạn, mỗi đoạn là một bài thơ theo kiểu Nguyễn Lương Vỵ, tám câu lục huyền âm. Có lẽ Nguyễn Lương Vỵ muốn chứng tỏ mình là Người Quảng Nam nên không e dè gì, cứ viết theo giọng Quảng Nam của mình. Bà con ở Quảng Nam hiển nhiên là khoái, bạn bè ở khắp nơi thì tha hồ vui! Nguyễn Lương Vỵ dõng dạc làm thơ như một cách tuyên bố: Thơ Vui! Từ nay bỏ cha cái câu Chửi Choa Không Bèng Phoa Tiếng. Nước nhà thống nhất rồi, chia rẽ chi nữa cho phiền?

Nguyễn Lương Vỵ làm thơ theo cách Nguyễn Lương Vỵ. Ông Phan Tấn Hải vạch ra cái trường phái của Nguyễn Lương Vỵ mà thán phục. Phần tôi, tôi thấy Nguyễn Lương Vỵ như một dũng sĩ cỡi con ngựa ô đi trên đường thơ thỉnh thoảng lại đột phá…bằng cách rung lạc ngựa vang rền trời đất! Bài thơ nào của Nguyễn Lương Vỵ…cũng có hồn, không hết hồn thì cũng âm hồn. Mà âm hồn có lẽ đúng hơn vì Nguyễn Lương Vỵ từ khởi thủy mới nửa chừng, theo con Đường Âm! Ngắm một người con gái ngủ mà đâm ghiền, Nguyễn Lương Vỵ quả có số đào hoa chi bổn mệnh! Cô gái này chắc bổn chất là Khờ nên để cho thơ dạo chơi thoải mái? “Tiếng mớ mộng lời thon hai búp, niềm rưng rưng…”, đọc chưa hết hơi, chợt nhớ Hàn Mạc Tử: “Trăng nằm sóng soãi trên nhành liễu/lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, thấy chưa, trăng Khôn quá, nằm chỗ nhành liễu, vừa đủ cho một mình trăng…Hàn Mạc Tử chết sớm, có thể vì lội xuống khe “lụm” cái khuôn vàng?

Nguyễn Lương Vỵ chắc chắn sống lâu! Dưới con mắt của Vỵ đời đẹp…não nùng! “Trần gian đẹp quá chết sao cam?” Đợi tập thơ thứ tám của Nguyễn Lương Vỵ, chữ Âm của chàng chắc lúc đó có đối tượng? Mong lắm thay! Đường Thơ là đường Tự Do, không có bảng cấm. Tới nữa đi Bác…Tài!




© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ Hoa Kỳ ngày 23.03.2013.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com