TỪ VỰNG TRẦM HƯƠNG

“NÓI TRẠI” TRONG NGHỀ ĐI ĐỊU

Nói “trại”, là nói lệch sang một từ khác tương đương ngữ nghĩa, hoặc có thể là một biệt ngữ, để ám thị về công việc trong những lúc đang thao tác, hay là các danh từ chung, tên riêng, nhằm tránh né, vì sợ “phạm húy”. Một ý tưởng mang tính thiêng liêng, mà ông cha ta đã quy ước, những quy luật “bất thành văn”, được nối đời sử dụng.

Hầu hết, trong các nghề truyền thống, nhất là đối với những nghề nghiệp thường gây rủi ro, ảnh hưởng đến tính mạng, công việc, càng khó khăn, càng nguy hiểm, thì sự kiêng cử lại càng nhiều. Nghề đi địu tìm trầm không vượt ra ngoài phạm trù biểu thị định lệ quy thức đặc trưng này.

Ăn: Được chuyển thành xóc ( xóc xóc rồi lại nằm ình = ăn rồi lại nằm nghỉ.) Từ này, còn được nói là “xực phàn”. Tiếng Quảng Đông, có nghĩa là ăn.

Bao tử: Nói là bao tải. Hàm ý tránh chữ tử, sợ điều chết chóc.

Bệnh (đau, ốm): Nói là se. Đau bao tử, chuyển thành”se bao tải”.

Bị: Có hai cách dùng. Khi với nghĩa là “mắc phải, gặp phải”, thì nói là bợi. Nếu trong trường hợp dùng để ám chỉ ông cọp , phải gọi là ông Ba, ông Bốn, hoặc ông Thầy. Hết sức kính nễ, vì sợ cọp thường bắt người ăn thịt.

Cái võng: Gọi là cái đưa. Gọi lệch như thế, là vì: Sợ phải nằm võng khiêng về. Hơn nữa, trên núi cao, có nhiều sợi dây rừng cổ thụ rất to, người đi núi không dám quỡ, họ ngầm bảo là “võng của Bà”.

Chạy: Nói lệch là sãi

Cháo = Nhão

Chết = trẫu (trỗi)

Chó: Gọi là cẩu. Ý sợ chó sói, chó rừng.

Cầu: Nói thành kiều.

Cọp: Có nhiều tên thay thế: Ông Ba, ông Bốn, ông Thầy.

Dời (dời trại): Chuyển trại đến nơi khác, gọi là lấn trại.

Đá (hòn đá): = hòn đớ. Hòn đá, dùng làm bàn cúng.

Đói : nói là xót

Đồng hồ = đồng ảnh

Đường: = Đàng

Gà =

Gạo = Mễ

Gối = đầu kê

Heo rừng (lợn): Gọi là con dũi

Hổ (cọp) = hảo

Khỉ = khởi, hoặc hón. Loài khỉ thường hay phá phách, đập chén, bát, lục lạo nồi niêu, phải kiêng nễ.

Lạc đường: Trong rừng sâu, trên núi cao, rất dễ bị đi lạc. Phải dùng hai chữ lục xính. ( tiếng Quảng Đông).

Lạt (trong mặn, lạt): Nói là nhẹ

Lương: Do trùng tên của Cậu Hai (Nguyễn Lương), nên chuyển thành lang.(sông Hiền Lương = sông Hiền Lang).

Ly (ly uống nước): Nói là lơi. Sợ điều ly tán, chia lìa.

Mặn (mặn, lạt): Nói là nặng

Mót trầm (đi mót): Đi tìm lại gốc trầm cũ. Chuyến đi này, được gọi là giũ rơm.

Muối: Chuyển thành diêm.

Mưa : rơi

Ngủ lở đường giữa rừng: Lạc đường, về trại không kịp. Phải ngủ trên cây, vì để tránh thú dữ. Ngủ như vậy, gọi là ngủ khởi (khỉ).

Ong (con ong) = con uông.

Rắn = râu dài

Rít = râu ngắn, hay còn được gọi là con tôm.

Sạp ngủ: = Cái đoan ( lót đoan, nằm đoan).

Té (trợt té) = nhễu

Trăn (động vật): Nói là râu dài

Trăng (mặt trăng): Gọi là nàng nàng. (Đêm nay, nàng nàng sáng quá).

Nàng nàng đứng ở giữa trời

Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy

Những từ con trăn – mặt trăng, dồng âm với trăn trối, phải tránh, né.

Tử: Làm liên hệ đến ý tưởng chết chóc, cho nên nóí là trẫu. Nhưng thực ra, là trỗi, cách noi do phương ngữ vùng – miền.

Về = trở

Về nhà = trở chợ

Voi = ông Lớn

Xa = khơi ( xem núi khơi)

Y: Mỗi khi hàm ý so sánh, phải gọi là giống (như) Chữ Y, phạm húy. Kiêng tên Bà Thiên Y Ana.

Đối với những “mật ngữ” nói lệch góp nhặt từ thế hệ cao niên trong nghề đi tìm trầm hương, ngày nay đã không còn nhiều nữa. Những con người “xưa cũ” ấy, rồi lần lượt sẽ bước vào “thiên cổ”. Lớp trẻ bây giờ còn “sót lại” nhiều, ít chi đó, về những từ vựng này trong đầu, nhưng mà mấy ai để ý đến cho! Họ cùng bảo rằng không thể hợp thời. Thậm chí, đồng nghĩa với lạc hậu. Đối đãi với rừng thiêng không cần kiêng cử. Đâu có còn việc “ mở miệng thì phải dưỡng thân”, cứ đốn hạ cây dó một cách bừa bãi vô tội vạ, chẳng chút nghĩ đến mai sau. Lấy cái “cẩu thả” mà đối đãi với điều phép tắc. Nhìn từ góc độ tâm linh, và ý thức bảo vệ, gìn giữ rừng, thì quả là là “quy phạm”.

“Nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc”, sự ứng xử của người “dậm sơn”, tỏ ra điều ý tứ, tôn trọng, thì việc đãi ngộ của rừng sẽ đem lại cho con người khai thác những lợi ích quý báu, không những từ ước vọng tâm linh, mà còn cả cho hậu thế. Qúy người thì được người quý lại. Qúy rừng thì rừng hậu đãi. Lấy lẽ tự nhiên mà suy luận, như việc ăn, cái uống, việc ở, sự làm, đều không phải là “đất lề quê thói” hay sao.

Sự mai một lệ xưa cũng là hình thức tự mình đánh mất cái tinh túy của cha ông.

Ý niệm về mỗi ngữ nghĩa nói “trại”, cho ta nhiều điều thú vị vô cùng.


© Tác giả giữ bản quyền
Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Vạn Ninh ngày 14.03.2013.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com