Mai Thục- Tinh Hoa Hà Nội




Trần Thiện Đạo



Cứ mỗi lần vượt trùng dương bay về đất tổ, vừa bước chân tới Hà Nội là chúng tôi tức khắc tìm đủ mọi cách để được hàn huyên với Mai Thục ngay liền. Là bởi, ngoài dáng vẻ “Mai cốt cách” bẩm sinh của phái nữ, Mai Thục còn có cái duyên thầm trong giao tiếp, tạo nên một sức hấp dẫn lạ thường, khiến cho khách như bị thôi miên, chăm chú lắng nghe.

Với tập bút ký Tinh hoa Hà Nội (NXB Văn hóa Thông tin- 2004) ghi chép những điều mắt thấy, tai nghe, những rung động, suy nghĩ, cảm nhận, phản ứng của mình trước con người, sự việc và cảnh sắc hiện hữu ở vùng đất kinh kỳ thuở trước và Thủ đô ngày nay, cái duyên kể chuyện đặc thù của Mai Thục được thi thố lần này qua câu văn, chữ viết, gửi tới một đối tượng đông đảo. Trong thời gian gần tròn mười lăm năm ròng, tác giả đã “lặng lẽ đi tìm, (…) nhẫn nại đãi cát tìm vàng” (sđd tr.5), để giờ đây, nắm tay hướng dẫn chúng ta thăm viếng, thưởng ngoạn 106 cảnh tình bà đã chắt chiu chọn lọc.

Là thành quả mười năm trời làm báo trong chức vụ Tổng biên tập báo Phụ nữ Thủ đô, mỗi bài viết in trong tập sách xuất hiện như một chương hồi riêng lẻ, gộp lại làm nên thiên phóng sự dài gần bảy trăm trang sách. Riêng lẻ, nhưng không rời rạc, thể như có một sợi dây vô hình buộc lỏng chúng lại với nhau, lần lượt phác họa hầu hết mọi tinh hoa mà vùng đất Thăng Long – Hà Nội đã nuôi dưỡng, tụ hội từ thuở xa xưa cho đến ngày nay.

Đầy đủ mọi khía cạnh. Từ con người, thể xác và linh hồn, tới cảnh sắc, qua ngành nghề, phường hội, món ăn đặc sản. Nhà văn Mai Thục dường như không bỏ sót một thành phần tinh túy nào. Chúng ta hãy cùng bà duyệt qua một số tinh hoa tiêu biểu.

Miếng ngon Hà Nội

Qua lời kể của chính những tay nghề trong cuộc, Mai Thục mời chúng ta thưởng thức trước hết là những miếng ngon Hà Nội- chữ mượn của Vũ Bằng. Đừng ai nghĩ miếng ăn bao giờ cũng là miếng nhục như vào thời đói khổ độ nào, ăn để mà sống chớ không sống để mà ăn. Ngược lại, khi đã là miếng ngon do những bàn tay sành sỏi thế hệ này tiếp nối thế hệ khác cải biến cho đến độ nhuần nhuyễn, thì nó nghiễm nhiên trở thành hương vị đậm đà, tinh hoa của nơi sản sinh ra nó và, biết đâu, còn được coi là di sản văn của toàn thể nhân loại.

Đây, chả cá Lã Vọng, do gia đình họ Đoàn chế tạo vào cuối thế kỷ XIX. Chỉ là cá, bún, lẫn với rau hành và gia vị, vậy mà món ăn này đã trải qua một thiên tình sử rung động lòng người, thành tựu của một cụ bà đã thụ thai lén lút trong nhà tù, nơi chồng bà bị phát vãng vì tội chống Pháp. Đã năm sáu đời qua, họ vẫn kiên trì với nghề làm chả cá bằng “những con cá lăng, cá chiên, cá quả to, nặng, tươi rói được đưa về (…) chế biến thành những xiên cá ướp mỡ, hành tiêu thơm ngậy đặt cạnh một lò than hoa nhỏ xinh, hồng lửa. Khách vừa nướng cá, vừa ăn, vừa chuyện trò, ngâm vịnh, tâm tình, tri kỷ… bên những xiên cá điểm hành, thì là, húng Láng xanh tươi, những lát ớt đỏ, những sợi bún trắng mịn như tơ. Mùi thơm của cá nướng quyện với vị cay cà cuống trong mắm tôm gợi nhớ hương vị đồng quê” (sđd, tr.8-9).

Kia cốm Vòng, ròng rã bảy trăm năm dài kinh nghiệm, làng Vòng mới nắm được bí quyết làm cốm, biến nó thành đặc sản không đâu thơm, ngon bằng. “Làm cốm phải tính ngày, tính giờ. Ruộng lúa nếp cái hoa vàng đến độ đông sữa phải cắt về làm ngay, nhanh chậm một tý đều hỏng (…) Lúa cắt về tuốt hạt, đãi sạch, cho vào chảo rang, rồi giã, sàng, sẩy, lọc thành cốm. Cách rang phải thật khéo, cách giã cũng phải nhẹ nhàng, giã đi, giã lại mười lần, rồi sàng, sẩy, lọc ra ba loại cốm. Loại cốm non, ngon nhất lọc được rất ít (…), gói kỹ, gặp khách sành mới mở ra bán, giá gấp đôi.” (sđd tr.13)

Nọ, bánh cuốn Thanh Trì. Cũng như chả cá và cốm, bánh cuốn thì đâu cũng tráng được. Thế nhưng có lần ở nước… Mĩ, Mai Thục đã nếm thử bánh cuốn… SanFrancisco mà sao cứ nhạt phèo “nguội lạnh, không hơi nóng, không hương thơm” (sđd tr.47) khiến bà không khỏi nhớ tới bánh cuốn chính cống Thanh Trì. Là bởi cái làng truyền thống nằm trên bờ sông Hồng này biết tráng bánh cuốn mỏng như giấy bóng, trong như như men sứ, không đâu sánh kịp. “Cụ Hồng ở xóm Thanh Trì, sáu đời làm bánh cuốn. Cụ chọn gạo tám thơm ngâm hai tiếng, xay bột mượt, hòa nước vừa phải, bánh tráng mới ngon, bột đặc thì bánh khô, bột loãng thì bánh ướt hoặc không tráng nổi. Tráng bánh phải luôn tay luôn chân, không lúc nào nghỉ, nhanh chậm một tí là bánh nát (…) Ngày xưa có gạo tám đen, hạt nhỏ thơm nưng nức, xay bột làm bánh cuốn dẻo dai, chấm với nước mắm cà cuống thì không gì thơm ngon bằng” (sđd tr.51)

Và còn biết bao miếng ngon khác nữa mà Mai Thục như một kẻ sành điệu trong ngón nghề ẩm thực, dìu dắt ta ghé chơi nếm thử: bánh cốm Nguyên Ninh, bún riêu cua ngõ Tạm Thương, giò chả Ước Lễ… Nhắc qua là nước miếng đã rịn ra rồi.

Chúng ta lại cùng bà rảo bước vòng quanh những danh lam thắng cảnh cũng không kém phần quyến rũ như các miếng ngon vừa kể.

Cảnh sắc đặc thù

Hà Nội nguyên xưa kia là một hạt thuộc Giao Châu, rồi cứ theo dòng lịch sử mà lần lượt gọi là Long Biên, Đại La (La Thành) cho đến khi Lý Công Uẩn (974-1028) vào năm 1010 xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư tới Đại La, đổi thành Thăng Long. Từ đó nối tiếp nhau mấy danh xưng khác nữa: Đông Đô (thời nhà Hồ), Đông Quan ( thời giặc Minh cai trị), Đông Kinh (thời nhà Lê) cho đến năm 1831, thời Minh Mạng (1789- 1840) trị vì, khoảng đất nằm giữa hai con sông Đáy và Nhĩ mới thực thụ mang tên hiện nay.

Trên mảnh đất Hà Nội nằm giữa hai con sông này, tạo hóa và con người đã không tiếc công lần hồi dựng nên bao nhiêu là cảnh sắc đặc thù. Đặc thù ở chỗ một phần, về mặt thiên văn, mỗi cảnh sắc ấy dường như là một độc bản vô song và phần khác về mặt nhân văn, còn là chốn đậm màu lịch sử, tình sử và tài năng không đâu bì kịp của hằng bao biến động, trái tim và bộ óc. Chúng ta hãy thử dõi theo Mai Thục, bước chân tới vài nơi có một không hai đó. Mà, giữa Hà Nội, có cảnh sắc nào diễm ảo và nên tranh, dưới mắt cư dân và du khách, hơn cảnh song nước Hồ Tây. Thứ xem Mai Thục phác họa với nhiều nét lãng mạn, thơ mộng, khiến chúng ta không khỏi nghĩ tới loại tranh màu của họa sĩ Hồng Mao Wiliam Turner (1775-1851):

Hồ Tây- một thắng cảnh bậc nhất Hà Nội. (…) Đã là người Hà Nội, ai cũng có một thoáng thả hồn theo gợn sóng Hồ Tây, nhìn mây trời bảng lảng, để rồi thương nhớ mãi một đời. Hồ Tây như thực, như mơ giữa ban mai hay khoảng hoàng hôn tím hồng hoặc một đêm trăng in trên mặt nước… Từng thời khắc, Hồ Tây nhuộm sắc cầu vồng, hiện lên trong tâm tưởng mỗi người như một bản nhạc không lời, thiết tha gợi nhớ. (…) Hồ Tây, đó là một khoảng trời mơ mộng, một khoảng không gian tự do, để con người cá nhân sống dậy, con người của vũ trụ, của thời gian, không gian, của nghệ thuật, triết học và tình cảm… Hồ Tây còn là một vùng văn hóa Phật giáo, giúp con người tìm về với đời sống tâm linh.” (sđd tr. 468

Một cảnh trí thiên nhiên không những có cơ hút hồn du khách nhường ấy, mà còn tàng ẩn gốc tích hằng bao nhân vật tài hoa từ thuở nào. Chúng ta nối gót Mai Thục đến “doi đất nhoi ra giữa Hồ Tây lộng gió”, lắng nghe Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xướng họa thơ ca với nhau trong cuộc hội ngộ đầy huyền thoại vào nửa sau thế kỷ XVI ở Phủ Tây Hồ (sđd tr.424) hay ghé qua Cổ Nguyệt Đường, cám cảnh than phận Hồ Xuân Hương, “bi kịch lớn của phụ nữ Việt Nam, nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đó là bi kịch về khát vọng sống cá nhân đối lập với thiết chế xã hội” (1)(sđd tr.188). Hay đặt chân lên “lối xưa xe ngựa”, trong nỗi niềm chạnh nhớ, “về Nghi Tàm tìm bóng thi nhân” để cuối cùng, xót xa nhận thấy nay còn đó chỉ là “một hồn thơ tạc vào mặt nước, trời mây” mà thôi, phần mộ của bà huyện Thanh Quan cạnh sát Hồ Tây đã bị “sụt lở mất tăm tích” tự bao giờ. (sđd tr. 201,203).

Và đâu đây nữa, Hồ Gươm, cầu Thê Húc, đài Nghiên, tháp Bút, đền Ngọc Sơn hiện thân cho khí phách của kẻ sĩ Bắc Hà, và ba mươi sáu phố phường, với ngôi nhà cổ 13 Hàng Đào mái ngói lô xô, có vườn cây, giếng nước, bàn thờ, khoảng mây trời kéo không gian gần lại, có vẻ đẹp thầm kí, giàu chất trữ tinhfchuwas trong lòng nó cả nghìn năm văn hiến (sđd tr.123-124)

Khéo tay hay nghề

Nhưng Tinh hoa Hà Nội, không thể gói gọn ở miếng ngoncảnh sắc, nó còn được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh văn hóa khác nữa. Mà văn hóa là gì, nếu không phải là toàn bộ biểu hiện của con người trong lề thói, trong nghệ thuật, trong tôn giáo, trong tư tưởng… Như Mai Thục đã trình bày: Về cơ bản, Tinh Hoa Hà Nội đã sáng tạo được những nhóm người, những cảnh quan, những tư tưởng triết lý… thành một khối Tinh hoa của Hà Nội, của dân tộc, trong đó có cả “một thế giới tâm linh huyền diệu” qua những đền chùa bao quanh Hà Nội. (sđd tr.51)

Chúng ta hãy lần lượt cùng bà ghé chân chiêm ngưỡng một vài tinh hoa này.

Trước hết là các tay nghề làm nên những miếng ngon đã kể. Rồi đến các làng nghề truyền thống, bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Về mặt này, Hà Nội quả không hổ thẹn với câu ngạn ngữ Khéo tay nghề, đất lề Kẻ Chợ (sđd tr. 67)và với danh xưng Băm sáu phố phường.

Cho tới nay, nếu chúng tôi không lầm, chưa thấy có nhà nghiên cứu và phê bình nào nêu lên và nhẫn mạnh khía cạnh sinh tồn (theo nghĩa triết học existentiel trong tiếng Pháp), tiềm ẩn trong thơ văn và cuộc đời Hồ Xuân Hương, kể cả Đỗ Lai Thúy, tác giả luận án Hồ Xuân Hương- Hoài niệm phồn thực( NXB Văn hóa- Thông tin- 1999). Mà toàn khai thác khía cạnh hiện thực xã hội, trong khi ngay cả chữ phận- đau đớn thay phận đàn bà- của Nguyễn Du cũng có thể hiểu theo nghĩa triết học.

Với Hồ Xuân Hương, thiết nghĩ đặt vào miệng của bà câu Coito, ergo sum (Tôi làm tình, tức thị tôi hiện hữu), biến thể danh ngôn Cogito, ergo sum (Tôi tư duy, tức thị là tôi hiện hữu) của triết gia Pháp René Descartes (1596- 1650). Xem mục Tình dục trong tiểu thuyết Pháp, trong Văn nghệ; những nụ cười giòn (NXB Hội nhà văn, 2004) của chúng tôi.

Như ở vùng Bưởi, chen chúc các nghề làm giấy Hồ Khẩu, Đông Xã, Thọ Thôn, Yên Thái, Nghĩa Đô làm giấy sắc vua, giấy dó lụa để in tranh và sách quí, cung cấp cho xứ Bắc, xứ Đông và cả Lục tỉnh Nam kỳ. Các làng dệt tơ tằm Trích Sài, Bái Ân, lại Yên Thái, lại Nghĩa Đô dệt lĩnh nổi tiếng Kinh kỳ (…) Nay nghề dệt Bưởi mai một dần, chỉ còn lại một hợp tác xã, nhưng lại dệt khăn mặt khăn tay. (sđd tr.26-27)

Hay làng đúc đồng Ngũ Xã nhô ra thành bán đảo, nép mình bên hồ Trúc Bạch, ngày nay cũng đã mai một như các làng dệt vừa nhắc tới trên. Nhưng dấu vết vẫn còn đó. Qua tiếng chuông chùa ngân nga sớm sớm, chiều chiều, làm thức dậy hương sắc của một vùng đất có nghề truyền thống. Vẫn còn đây trong ngôi đình cổ hình bóng của Minh Không thiền sư, ông tổ của nghề, và những sản phẩm đúc đồng có tính nghệ thuật cao của các nghệ nhân nhiều đời. Vẫn còn đây, pho tượng đồng Adiđà khổng lồ, nặng mười sáu tấn, ngự trên tòa sen, gương mặt rạng ngời như cảm thông được nỗi đau nhân loại, và qua một vài người thợ thưa thớt bám đất, bám nghề (sđd tr.421) để sống còn.

Rồi lò gốm Bát Tràng, làng tranh Đông Hồ… Xen kẽ những phường nghề, còn có biết bao làng hoa và chợ, hàng ngày điểm sắc, tưới mát cho thành phố bớt căng thẳng, bớt xô bồ trong bầu không khí nực nồng, oi bức.

Này là làng hoa đào Nhật Tân, một làng cổ ven đô duy nhất chưa bị ô nhiễm bởi những “khách sạn mini”, những “nhà khách thượng hạng”, để người Hà Nội về đây có được khoảnh khắc êm đềm. (sđ d tr. 15)(1) Này nữa là hoa Quảng Bá, thuộc Quảng An. Dân ở đây, đời nọ nối đời kia sinh sống bằng nghề trồng hoa (sđ d tr. 18) trồng cúc, trồng cây cảnh, và ai đó đã thốt lên lời: “(…) tôi bán cây, bán hoa làm mát mẻ cuộc đời” (sđd tr. 20)

Kia là Chợ hoa hàng Lược, vào cuối tháng chạp mỗi năm là người ta mang đào, cúc, mai, hồng, hướng dương, cẩm chướng, hải đường, trà mi… cùng với chim lồng, cá cảnh, chậu cây… từ các làng ven đô về đây xây nên một vùng hương sắc. (…) Các màu hoa hồng, tím, đỏ, vàng, xanh, trắng. (…) Chỗ này, những cây quất ba bốn tầng quả to dày chen nhau đỏ rực. (…) Chỗ kia, những cây cảnh với nhiều tư thế tượng trưng cho tính cách người trồng, nhắc người mua, người xem về nhân cách, tâm hồn người Hà Nội. (…) Góc nọ, một rừng hoa đào thắm nồng nàn. (…) Góc khác, những cây hoa trà, đỗ quyên, hải đường (sđd tr.10). Một rừng hoa lá xanh tươi, đa dạng, ngoạn mục…

Và kia nữa, tương đồng với chợ Đông Ba ở Huế và chợ Bến Thành Sài Gòn, là chợ Đồng Xuân lớn nhất thủ đô nằm ở giữa trung tâm. Vừa đặt bước vô là chúng ta đã “lạc vào mê cung giữa trăm ngàn màu sắc rực rỡ của các hàng công nghiệp: vải vóc, quần áo, đồ hộp, đồ điện, đồ sành… và những tiếng trao đổi rầm rì”, lọt vào “một thế giới của những người đàn bà”. Bà Phi bán cá “cá trích, cá chuồn, cá mối, cá dưa, cá chỉ, tôm moi… từ các miền biển (…); bà Thu hàng khô “nhãn, vải, mơ, mận chuối… sấy khô, hạt bí, hướng dương, hạt dưa, mứt sen, bột sắn, bột đao, bột nghệ”; bà Thuận buôn trầu cau, vỏ “cho ngày cưới hỏi, ma chay, tết, giỗ, đình, chùa…” Còn bà Thành thì phục vụ “cơm nóng canh sốt, mùa nào thức ấy, đĩa rau muống luộc, tôm rang, cà ghém, canh chua, muối vừng, mắm tép, thịt gà, lợn, cá… được chế biến hợp khẩu vị các bà, các chị”. (sđ d tr. 54,55- 61); và chẳng thiếu thứ gì. Kho vật dụng và lương thực cho người Hà Nội.

(1) Tiếc rằng tác giả không chua rõ thời kỳ bài viết được thực hiện. Nhận xét trích dẫn trên đây, vào tháng 7-2004 này, xem chừng không còn chính xác nữa. Vườn đào Nhật Tân đang bị san bằng, đảo lộn, biến thành đô thị.

Thế giới tâm linh

Nhưng con người vốn dĩ không chỉ sống bằng cơm ăn, áo mặc, việc làm. Ngoài những nhu cầu vật chất và tinh thần thiết yếu (miếng ngon, cảnh sắc, tay nghề) đã cung ứng, Hà Nội quả tình còn tỏ ra vô cùng hào phóng trong việc nuôi dưỡng tâm linh. Nói như Mai Thục, nơi đây có một thế giới tâm linh huyền diệu, như thể nhắc qua.

Chùa Trấn Quốc bên đường Cổ Ngư, năm ngoài ven Hồ Tây, bốn bề sóng gió chập trùng. Đây là ngôi chùa cổ nhất ở Hà Nội và cả nước chăng, vì nó tương truyền được xây vào thời Lý Nam Đế, khoảng chừng những năm 541- 548. Chùa còn “lưu giữ được nhiều di sản quí, nhiều tượng đẹp, nổi bật là pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thiếp vàng lộng lẫy” và đặc biệt, giữa sân có cây bồ đề xanh tươi cành lá, chiết từ cây mẹ, Thích Ca Mâu Ni ngồi thiền dưới gốc, hai mươi lăm thế kỷ trước ở Ấn Độ. Đến đây, “lòng ta bỗng dưng thanh mát, dịu êm như bước vào thế giới của riêng mình, để hoài niệm và suy ngẫm, để hòa mình vào cỏ, cây, sóng nước.” Chúng ta “thắp nén hương, nghiêng mình trước cõi Phật thiêng, trong khoảnh khắc yên tĩnh tuyệt vời, ta như bắt gặp luồng ánh sáng trong ngần từ dáng dấp thanh cao của những pho tượng Phật. Và trong ánh sáng lung linh của những ngọn nến huyền ảo, ta như thấy mình chơi vơi trên con đường yên tĩnh và bừng sáng của trí tuệ” (sđd tr. 428)

Rồi cũng trong bầu không khí thanh tịnh và mầu nhiệm của chùa “dưới bóng cây bồ đề ánh lên một màu xanh huyền diệu, ríu rít tiếng chim, rộn chút nhạc ve sầu, thoảng tiếng sóng gió Hồ Tây” (sđd tr. 429), chúng ta lắng nghe hòa thượng Kim Cương Tử (1) giảng phép tu tâm, luyện trí, gọi là bát chánh đạo. Lời giảng của hòa thượng ngân vang “dịu dàng tha thiết như lời ru, lại như một triết lý dạy ta cách sống ở đời, sống sao cho thanh thản một kiếp người. Trong giây phút yên tĩnh tuyệt vời, hồn ta tắm trong màu xanh bất diệt của cây bồ đề, tỏa ánh xanh linh diệu xuống một vùng Hồ Tây ngân nga tiếng chuông Trấn Quốc”. (sđd tr. 430).

Rồi cứ thế mà tiếp tục đắm mình, thỏa nguyện trong thế giới tâm linh huyền diệu đó. Đâu đây là chùa Bồ Đề “nằm trên một doi đất cao, kề sông Hồng.” (sđd tr. 443), xa hơn là chùa Vĩnh Nghiêm, để “thả hồn vào cõi Thiền ngàn xưa” (sđd tr. 354), và xa hơn nữa là cả đồi núi Yên Tử…

(1) Sư cụ trụ trì chùa Trấn Quốc nay đã viên tịch. Sau đây là điếu văn của Mai Thục: “Cảnh còn đây mà người vắng bóng nơi đâu? Thế mới biết lẽ vô thường bãi bể nương dâu, cuộc đời là giả tạm. Người ra đi như gió thoảng lay cành trúc, như trăng đáy nước, như giọt nắng tàn theo tiếng chuông thu không”.(sđd tr. 43

Tài hoa hội tụ

Chúng ta đã hân hạnh được Mai Thục hướng dẫn, thưởng thức nào là miếng ngon, nào là cảnh sắc, dạo qua nào là phường nghề, nào là thế giới tâm linh, giờ đây đã đến lúc giáp mặt chuyện trò với các tài hoa hội tụ trong lĩnh vực nghệ thuật. Phải nói rằng, về phương diện này, không thiếu những gương mặt cầm, kỳ, thi, họa còn sống hay đã khuất.

Vậy thì nên hối hả ghé thăm nghệ sĩ ca trù Quách Thị Hồ tên tuổi đã ghi vào sử sách trong một số ngàn người phụ nữ lẫy lừng khắp hoàn cầu- hối hả, vì nay cụ đã ngoài chín mươi rồi. Ghé vô ngõ Văn Chương, để cùng cụ vọng nhớ “Tiếng hát ca trù như mưa rơi, như sương khói, quyện với nhịp phách giòn ríu ran, tiếng đàn đáy đục trong khoan nhặt và tiếng trống chầu “tom”, “chát” của ông bà ta ngàn đời để lại”. (sđ d tr. 221) Cùng cụ gợi lại ký ức chưa phai về cuộc tao phùng giữa cụ với Trần Huyền Trân(1), với Đái Đức Tuấn, đã xúc cảm thành thơ tặng cụ, mỗi người một bài mà “suốt đời cụ cứ ngâm ngợi, nhả chữ, luyến âm, gửi cả tâm hồn buồn vui, đau đớn, phong trần vào những bài thơ như thế cùng nhịp phách có hồn của mẹ cụ và của bao kiếp ông bà…” (sđ d tr. 212). Về cuộc đời tư dâu bể của cụ, hết mình dành cho đàn, phách, trống chầu, giọng hát, nâng thể ca trù lên thành di sản chung của nhân loại.

Sau đó, xuôi về làng Lỗ Khê, canh khuya đưa khách, nghe Bạch Cư Dị đời Đường gẩy khúc Tỳ bà hành. Qua lời thơ diễn âm tuyệt diệu của Phan Huy Vịnh (1800-1870) và tiếng hát của bà Phạm Thị Mùi với các nghệ nhân Câu lạc bộ ca trù Hà Nội: “Tiếng đàn, câu hát quyện vào nhau khi dào dạt, khi sầm sập mưa rơi, khi tỉ tê như kể lể, khi khoan nhặt, giãi bày, khi xa xăm như bóng trăng khuya giữa cánh đồng lặng lẽ, khi ngưng lại suy tư, khi tần ngần, ngơ ngẩn, khi oán, khi nặng thề nguyền, khi rạo rực nỗi nhớ thương… Rồi nhịp điệu trở lại, khúc vui, khúc buồn dào dạt, dập dìu, tiếng trúc, tiếng tơ, tiếng trong, tiếng đục… như dòng đời tan chảy, đời này nối đời kia, vui, buồn, bão, gió, sương rơi, trăng lạnh, đêm đen, mưa nguồn, chớp bể, sao mờ, cá lặn, chim sa… Tất cả cứ trở đi, trở lại trong đêm ca trù, như vòng quay của kiếp người. Vòng luân hồi…(1) (sđd tr. 233)

Rồi chúng ta lại cùng Mai Thục quay về Hà Nội chuyện trò với nhà văn Tô Hoài. Một nhà văn lão thành, không chỉ về tuổi tác mà nhất là về chất lượng và số lượng tác phẩm ra đời, đếm có hơn trăm. Con người đã sống trong lòng Hà Nội quá ba phần tư thế kỷ, vốn có con mắt tinh đời, có bộ óc sắc sảo lại hiếu kỳ và hiếu động.

(1) Ngòi bút của Mai Thục ở đoạn này có thể sánh với nhiều trang trong Tâm sự của nước độc, chương II tập Chùa Đàn, tuyệt tác của Nguyễn Tuân.

Ông đã tích tụ bao nhiêu là hiểu biết, quán triệt, lắng sâu, chẳng ngại nêu ra ánh sáng cuộc sống nhầy nhụa nước mắt, mồ hôi trùm lên thân phận người dân bản địa và chia sẻ cùng chúng ta những điều ám muội bị che khuất, mà ông được biết, qua Cát bụi chân ai, những khi chiều chiều lại nhớ Chiều chiều. “Ông hiểu và yêu từng gốc cây, ngõ hẻm Hà Nội.(…) Hà Nội trong văn chương của ông là ngọn cỏ, lá cây, thế giới của sinh vật và những con người bần hàn, cơ cực mà tốt bụng của làng Nghĩa Đô. NHững lối mòn đầy lá cỏ rơi, những mùa thu hoa cúc nở vàng lưng dậu. Những hồ ao, cánh đồng trắng mênh mông. Những giàn mồng tơi đẫm sương trăng vằng vặc. Những bụi dứa dại xanh mờ, mấp mô các bờ ruộng. Mặt sông đặc cá săn sắt, những đuôi cờ múa rợp bóng nước. Những cánh rừng hoa cỏ may mờ xanh xanh ngoài bãi sông Hồng. Tiếng con chim chích kêu chanh chách ngoài khe lá. Tiếng hò reo của bọn trẻ. Và cả những bầu trời mùa đông, mây đen cuồn cuộn, gió thổi tan tác, mặt đất và gió lùa giá buốt vào tận ruột, tận gan, tượng trưng cho cảnh tranh giành, lắm khi đổ máu trong cuộc vật lộn sinh tồn của con người”. (sđ d tr. 144-145). Chuyện ngày nay, cũng như Chuyện cũ Hà Nội, mấy ai tinh tường hơn ông! (1)

Và Bùi Xuân Phái nữa, nay đà vắng bóng. Cũng như Tô Hoài, mấy ai thấu hiểu tâm hồn Hà Nội bằng ông. Hà Nội dưới mắt ông, qua tâm trạng của ông, với nét cọ và sắc màu của ông- chẳng họa sĩ danh tiếng nào sánh kịp. Tranh ông vẽ phố phường, Hàng Bè, Hàng Giấy, Hàng Mã, Hàng Muối… tranh ông vẽ danh lam thắng cảnh Hồ Tây, Ô Quan Chưởng, Văn Miếu… với những bức tường xiêu vẹo, với những mái ngói rêu phong, với những thân cây trụi lá, với những vòm trời nặng trịch… Tâm hồn Hà Nội bộc lộ qua tâm tình ông, hay tâm tình của ông qua tâm hồn Hà Nội? Vậy mà cho đến nay, Hà Nội vẫn chưa có viện bảo tàng dành riêng cho ông- một viện bảo tàng Phố Phái. Chúng ta đành phải tuân lời Mai Thục, tạm bằng lòng với quán Café Lâm- thơm màu sắc Hà Thành. Ông Nguyễn Văn Lâm là người trong thời gian nửa thế kỷ trước có cái may mắn mở quán café, đón rước bọn nghệ sĩ lạc loài mà Bùi Xuân Phái là một trong những gương mặt sáng ngời. Bọn nghệ sĩ này “coi ông như bạn, coi café Lâm như tổ ấm, như là nơi riêng biệt để ký thác buồn, vui, khát vọng, say mê. Họ vẽ tranh. Tranh hồi đó vẽ để tự giải thoát, không để bán cho ai. Họ tặng ông… Nhờ vậy mà hôm nay chúng ta mới được ngắm bức Liên hoàn phố Phái vẽ từ ngày ấy, giờ đây trùng điệp màu thương, màu nhớ, màu thời gian, không gian đã mất. Những chấm phá mơ hồ trong tranh Phái như giọt chuông đồng hồ rót nhẹ, buồn tênh, giữ lại thời gian vĩnh hằng của một Hà Nội cổ kính”.

(1) Cát bụi chân ai, Chiều chiều, Chuyện cũ Hà Nội là tên ba tác phẩm trong số một trăm năm mươi của Tô Hoài.

Với nhiều họa phẩm khác nữa của Bùi Xuân Phái, của Nguyễn Sáng, Võ Tư Nghiêm “quán café quả là một ngôi nhà kho báu, một bảo tàng hội họa Việt Nam. Những bức tranh Phái- Sáng- Nghiêm thật đáng kinh ngạc. Đây là một tài sản vô giá để hiểu sự phát triển hội họa Việt Nam”. (sđ d tr. 336 -370).

Còn biết bao tinh hoa khác nữa, những Thanh Tùng với cây đàn bầu, Văn Vượng với “Sáu dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” (sđ d tr. 132), Ngân Giang “một hồn thơ Hà Nội”, những Nguyễn Tuân, Nguyễn Khắc Viện, Hoàng Cầm… và những bà mẹ, người vợ liệt sĩ mà chồng con đã nằm xuống rải rác trên dải Trường Sơn độ nào.

Nét bút Mai Thục

Mai Thục thật ra không phải là nhà văn, nhà báo đầu tiên ca tụng mảnh đất này. Cứ nghĩ tới những Nguyễn Vinh Phúc, Trần Quốc Vượng… kể cả những Thạch Lam, Vũ Bằng… trước kia nữa chẳng hạn, nhưng họ đều tỏ ra hoặc rất ư uyên bác, hoặc rất ư lãng mạn. Còn ở đây, Mai Thục chừng như dung hòa cả hai khía cạnh đó trong tác phẩm của mình. Cho nên đọc bà là một hứng thú hai mặt, vừa học hỏi được nhiều điều, lịch sử, xã hội, con người, vừa thưởng thức một áng văn đậm màu sắc như tranh, như thơ.

Hãy nghe Mai Thục suy ngẫm về tình yêu: “Thiên diễm tình trên quê hương Kinh Bắc hay quê hương vua Lý ngàn năm sau, ngàn năm trước vẫn là tình yêu. Tình yêu đã nâng con người Việt Nam vượt lên bão tố, xiềng xích, để lại sống, lại yêu. Yêu nhau để vượt lên cái chết”.(1) (sđd tr.345) Lại nữa: “Tình yêu không biên giới. Tình yêu không hận thù. Tình yêu không tiền bạc, của cải. Tình yêu không chức vụ sang hèn. Tình yêu không tiếng nói, màu da. Tình yêu không tính toán. Tình yêu không cái chết. Tình yêu không chính kiến. Tình yêu là hiến dâng. Tình yêu là hi sinh tất cả.” (sđd tr. 386) Không trải qua kinh nghiệm hiểu biết sâu rộng- thứ hiểu biết đã lắng sâu trong tâm thức chứ không thuộc loại thông thái rởm, thì làm sao thốt lên những lời chắc nịch như vậy.

Rồi qua ngòi bút của bà, nghe hòa tấu và ngắm tranh họa cảnh Vườn quả Từ Liêm… Hiện ra như một bản nhạc màu xanh muôn ngàn cung bậc: xanh già, xanh non, xanh cây, xanh nụ, xanh cành, xanh lộc, xanh quả, xanh biếc, xanh lơ, xanh hoa, xanh mầm, xanh tím, xanh lam, xanh nõn, xanh tơ… Màu xanh quyện hơi thở của đất cùng người. Màu xanh của xương máu, tâm linh nghìn đời dồn tụ, tỏa hương thơm, quả ngọt nuôi người. (sđ d tr. 74-75). Và chùa Trấn Quốc: “… không chỉ là một ngôi chùa mà còn là một cảnh đẹp Hồ Tây, để hồn ta bay, tâm ta an lành, trí ta bừng sáng trong suy ngẫm, trong màu xanh vô cùng tận. Nơi đây là một không gian xanh, xanh trời, xanh nước, xanh cây. Màu xanh nối đất với trời, nối hồn ta với không gian vô cùng và thời gian vô tận”. (sđd tr. 429)

Nhưng hãy xem các trích đoạn thượng dẫn như một món khai vị… Đã đến lúc mời bạn cùng Mai Thục bước vào khu vườn địa đàng có rất nhiều bông hoa đua nở đón chờ.

(Bài in sách Tinh Hoa Hà Nội- NXB Văn hóa Thông tin 2006)

(1) Thiên diễm tình trên quê hương Kinh Bắc hay quê hương vua Lý được chính Hoàng Cầm thể hiện trong mấy bài thơ Lá Diêu bông, Vườn ổi… và nhắc lại trong tập Về Kinh Bắc, chương Vĩ thanh (xem Hoàng Cầm, tác phẩm thơ- NXB Hội nhà văn- Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông- Tây, 2003, trang 191, 212)

Paris- 2005

TRẦN THIỆN ĐẠO





© Tải đăng nguyên bản của tác giả ngày 02.03.2013.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM