Lâu nay, rộ lên nhiều
tác phẩm viết về đồng tính. Tôi chưa hề đọc.
Không ưa. Những nhân vật lịch sử công trạng lẫy
lừng như Lý Thường Kiệt, Lê Văn Duyệt….
thuở nhỏ kính phục, nhưng lớn lên biết họ
là hoạn quan, tình cảm dành cho cũng giảm đi mấy phần.
Tôi đọc “ Sông” (Nguyễn Ngọc Tư
– Nhà xuất bản trẻ – 2012|) vì đó là tiểu
thuyết đầu tay của giọng văn hằng mến mộ.
Để một bên vụ đồng
tính, tôi vẫn bị Nguyễn Ngọc Tư mê hoặc: “Ba cây số
trước khi sông Di ra biển, sông chỉ là con rạch quanh quanh
giữa những cồn cát, đôi bờ là những bãi bần. Nó không
có vẻ ra đi, mà nhận biển vào lòng. Nước sông mặn quắt,
nắng càng lâu thì nước biển sẽ thè cái lưỡi dài nhằng
của nó liếm vào sông hàng mấy chục cây số.”, “Dầm
chân trong sình lầy, mỗi cây là một đìu hiu, họp lại
làm rừng cũng là một rừng đìu hiu. Ngửa mặt thấy phía
trên những nhánh bần de ra lòng rạch là trăng chiều mỏng,
gai gai lạnh. Như môt cô con gái vừa qua cơn sốt, lả người
tựa cửa sổ ngó ra sân nắng”. (trang 15), “nắng trên
những triền núi chảy ròng xuống, khỏa lìm lịm trong thung
lũng. Thè lưỡi ra có thể nếm được cái vị thanh thao
của nắng”.(trang 23), “Sông dẫn ba thằng về Tân Qưới.
Nước chảy xờ xạc như mất ngủ lâu ngày”. (trang 46)
, “chiếc xe bỗng dưng bị rừng son hai bên đường vây
lấy. Son trỗ bông trắng, từng chùm cong cong, mỏng lẹm
như một mảnh trăng mùng bốn. Trăng treo oằn nhánh”, “một
ngày không mưa, mây sai lúc lỉu treo từng chùm trắng như
nước gạo, như bông gòn chín cây” (trang 57), “Nhưng con
sông lặng lẽ náu mình như những con sông bình thường
khác, với những bờ bãi nhiều cây hoang dại, dây tơ hồng
phủ vàng ruộm cả dọc dài, tiếng chim nước kêu một
giọng hàng trăm năm” (trang 81)…
Có những câu đặc
sệt chất Nam bộ, rặt ri Nguyễn Ngọc Tư, không lẫn vào
đâu được: “ tâm trạng cậu rối bời như dưa gang chín
rục” (trang 18), “cả xóm như đang dợm bỏ đi (trang
16) “thằng nhỏ đen thui, da mốc cời” (trang 15), “hay
xoay cái ly cam vắt ốm ròm” (trang 10), “nuốt trộng một
họng cơm” (trang 34), “ cả hai đều mang ba lô nặng khự
” (trang 35)
Ở “Cánh đồng bất tận”,
người đọc bàng hoàng trước đòn đánh ghen tàn độc
chưa hề được biết tới: đơå keo dán sắt vào “chỗ
ấy” của cô gái bán thân. Tôi ngờ đó chỉ là sản
phẩm tưởng tượng của Nguyễn Ngọc Tư. Oái oăm, ít lâu
sau đọc báo thấy tin ông chủ Công ty giày da Đài Loan trừng
phạt công nhân Việt Nam bằng cách đổ keo dán lên lòng
bàn tay! Tư và ông chủ Đài Loan, không biết ai nghĩ trước,
ai nghĩ sau? Ở “Sông” người đọc lai chứng kiến trẻ
bị bạo hành bằng chiêu thức mới: “Đứa nhỏ bị chủ
nó tát tươm máu bắng một má vỏ sầu riêng, bị bắt
quỳ dưới trời mưa” (trang 111). Qùy dưới mưa để tạ
lỗi với người yêu từng là khung cảnh lãng mạn trên
màu ảnh còn tát bằng vỏ sầu riêng chắc lại là đặc
sản của Nguyễn Ngọc Tư. Chao ôi, vỏ sầu riêng gai chơm
chởm như nanh sấu tát vào mặt ắt phải có một khuôn
mặt đầm đìa máu! Cả nước từng biết vụ cậu bé ởø
Đầm Dơi xứ Cà Mau của Tư bị chủ hành hạ, không biết
có dùng bí kíp này không? Mong rằng món “vỏ sầu riêng”
thất truyền!
Cứ như có một
công thức cho các tác phẩm văn học hiện đại: phải có
sex, phải có tính dục đồng tính. Ừ, thì cứ như hiện
thực xã hội, yêu mọi lúc mọi nơi và đồng tính luyến
ái tràn lan từ nghệ sỹ cho tới nông dân bùn phèn, miễn
làm sao nó xuất hiện trên tác phẩm hợp tình hợp lý,
tự nhiên. Cả tập “Ngục trung nhật ký” bốn năm trời
đăng đẳng mà chỉ có mỗi một lần “Đau khổ chỉ bằng
mất tự do. Đến buồn đi ỉa cũng không cho”. Còn ở
“Tiếu ngạo giang hồ” mười mấy quyển của Kim Dung
chỉ mỗi một lần Lệnh Hồ đại ca đi vệ sinh để sáng
tạo ra hảo kiếm pháp diệt ruồi! Ở “Sông” có đến
bốn lần đi tè của ba nhân vật!
Nhân vật chính, phóng viên
Đình An tuyệt vọng trốn chạy Tu, người yêu đồng
giới đã đi lấy vợ bằng chuyến du khảo
ngược dòng sông Di. Con sông dài thậm thượt , ký ức
Aân cũng hì hục lội ngược dòng, lần lượt phô diễn
cho đến lúc buông tay chìm dưới nước sâu. Những chuyện
riêng tư tủn mủn chỉ có giữa hai người giờ đã lạc
mất nhau có sức công phá mãnh liệt đến nỗi chàng phóng
viên con duy nhất bỏ lại bà mẹ mỏi mòn mong con, bỏ hết
cuộc đời mà còn nắm tay kéo theo hai mạng sống vô can
khác. Đính Ân mang suy tư, cảm xúc của nàng Ngọc Tư nên
tính nữ lồ lộ rõ ràng:”Đó là lúc biết co một ngườiù
đang nằm khểnh trên giường, chờ bạn tình bước ra khỏi
căn phòng đầy hơi nước để hít hà da dẻ” (trang 18,19),
“ Tứ mà không cưới thì cậu cũng sẽ bận nấu nướng,
bận lấy đùi làm gối, vít đầu Tú xuống để nhá tai
Tứ giữa hàm răng sực mùi ổi chín của mình, vờn lưỡi
mình lên môi Tứ, nơi mà cậu cho rằng hàng vạn lời hay
ho nương náu ở đó trước khi thành tiếng nói.” (trang
77), “Bên kia là thị xã Xuân Lộc, ở đó có cái khách
sạn coi mặt thì sang mà giường thì lại ọp ẹp chân ngắn
chân dài, nhờ vậy Tứ đã thử một tư thế mới. Cả
hai đều thích đến vài ba lần” (trang 85,86), “phải gắn
bó đến độ nào thì mới có linh cảm về nhau. Tại sao
lúc mẹ vật vã đau mà cậu vẫn tóm lấy cúc cu Tứ ngủ
ngon lành.” (trang 105), “Việc cho Tứ thấy Tứ quan trọng
với mình còn quan trọng hơn những thứ quan trọng khác.
Hít hà người Tứ thích thú hơn mọi cuộc vui nào. Da thịt
ấy giờ còn nồng không?” (trang 108), :giữa những câu
chuyện rôm rã gần như suốt đêm, là bàn tay day diết miết
vào giữa hai đùi cậu và ở quãng đường không có ánh
đèn hắt vào xe, Tứ len lén thả lưỡi vào miệng câu.
Đầu lưỡi Tứ nhọn, mỗi lần vậy cậu lại cảm giác
có một giọt lưỡi rơi vào cổ họng mình. Ngọt lừ. Vội
vã nhưng vẫn thích vì cái cảm giác vụng trộm. Aên vụng
thường ngon.” (trang 123,124)
Trong kho tàng tiếng Việt, có
những nhà văn lớn sử dụng từ ở một
ngữ cảnh đắc địa làm nó trở nên phổ
biến, thành chữ riêng của nhà văn. Lại cũng có
những “tay ngang” sử dụng từ ấn tượng cũng được
dư luận truyền tụng như trường hợp ông Trung tá Công
an V.V.H với con “tự do” , câu nói nổi tiếng năm 2012.
Nguyễn Ngọc Tư thì sáng tạo ra “cúc cu”. Không biết
có ai dùng theo Tư chưa nhưng có lẽ ở dưới kia nhạc sĩ
Hòang Việt buồn lòng nhất vì lỡ sáng tác bài ca “ Nhạc
rừng” bắt đầu bằng tiếng chim kêu lãnh lót tưng bừng:”Cúc
cu! Cúc cu! Chim rừng kêu trong nắng..” Đọc “Sông “,
có lẽ các cô ca sĩ cũng ngại miệng khi hát “Nhạc rừng”?
Phải chăng Ngọc Tư thêm chữ “cúc” để phân biệt con
“tự do” của những người không phải là dị tính luyến
ái? Hình như cũng không có ranh giới. Ba nhân vật song tính
luyến ái Tứ, Bối thì dùng “cúc cu” còn Xu thì vẫn
“ chim” xưa nay ã gọi: “ cậu ra bãi vạch quần ra xả
nước thải vào một bụi cỏ mần trầu, không ngờ hai
ngày sau chim vẫn còn sưng sỉa vì tè vào mãnh vỡ của
ông Táo” (trang 88). Còn Bối thì nói” Tin tôi đi, không
có đứa con gái nào mang đến cái lạc thú khi tôi chụp
được ảnh tia sét như rễ cây khổng lồ phóng xuống cao
ốc Thiên Đường. Cúc cu tôi phun ra ướt luôn vạt áo”
(trang 44). Và Tư vẫn dùng cả “ cúc cu” và chim cho Đình
Ân:” Cậu hôn Thùy như để trả lời câu hỏi của mẹ,
khi lo lắng rờ rẫm chim cậu, có lên thường không đó,
ông con?” (trang 114). Chi tiết bà mẹ muời ba chồng với
cậu con trưởng thành này cũng chỉ có ở thế giới Nguyễn
Ngọc Tư. Ở thế kỷ trước, nhân vật bà Phó Đoan trong
“ Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng cũng chưa dám có hành
động tương tự với cậu ấm quý tử nhỏ xíu. Ở phương
Tây thời nay, hành động đó chắc là bị la tóang lên là
xúc phạm thân thể, quấy rối tình dục?
Trải dài theo sông Di, vô
số đoạn dung tục, từ nhẹ tới nặng.”thêm
một thằng con trai nữa, trứng dái đỏ au, thấy cưng
dữ lắm” chỉ là câu nói bình thường
của bà mẹ quê Nam bộ, sang tới ý
nghĩa của cậu con Đình Ân đã khác:” cậu không biết
dái hay thằng bé mới rơi tỏm vào biển đời ấy thấy
cưng” (trang 12). Ở nhân vật chính Đình Ân, “ chuyện
ấy” thường xuyên chiếm ngự trong đầu, đâu đâu cũng
có thể liên tưởng: “ Cậu hình dung cảnh một đứa bé
tha thẩn đứng đợi trong lúc đàn ông dấn sâu dấn sâu
vào mẹ nó” (trang 29) “ người ta xục rục bên dưới
cô trong khi vẫn được úp mặt lên vồng ngực dịa dàng
kia mà không phải cúi người.” (trang 31), “ Cậu không
biết lúc Bối đi vào đàn bà có cuồng nhiệt như khi đứng
trước cơn giông không” (trang 44) “thằng nhỏ con chị
bán cơm rang kêu gào mắc đái mắc đái những lần bị
xích ngòai cửa khi cha nó ghé qua sục vào giữa hai chân
mẹ nó”. (trang 176). Dù trội tính nữ, Đình Ân vẫn không
hề ngượng ngùng chứng minh mình không phải là gái:”
Cậu tụt quần lót ra. Gã chủ quán gãi háng, sững sốt
khen…” (trang 31). Nguyễn Ngọc Tư cho con “tự do” xuất
hiện bất cứ khi nào có thể:” Trời này đi tè cũng ngại,
đầu ngón tay lạnh, cứ bới mãi mà không thấy cúc cu đâu.”
(trang 119). Những nhân vật khác cũng có một giọng điệu
khoe của bỗ bã như thế:” chẳng hay ho gì khi mình là
cái thằng vác dái đi vọc lung tung” (trang 58), “Bối hay
thú nhận mình vừa tự sướng xong mỗi khi xì xục ở buồng
tắm lâu” (trang 81), “và một buổi sáng khi thức dậy,
Bối nói anh ta mơ thấy làm tình với một con thỏ. Sùng
sục với nó, tỉnh dậy nghe quần ướt nhẹp. Nhục thiệt
(trang 81), “Nhưng lúc nãy con nhỏ ở tiệm uốn tóc vắt
thằng nhỏ của tao khô queo rồi. Già, phải nghỉ nửa ngày
mới ngóc lại được” (trang 54,55) “ ghen, dì nhớ các
cảnh ông chồng dì xì xục bà Thiềm ở bên sông…Ông
nhớ không, tơi lấy khăn che thằng nhỏ lại rồi đi tìm
cái lu khác cho ông. Nhớ không, bà Thiềm còn chưa kịp khép
chân.” (trang 124), “không sung sướng đâu, thân già đâu
có cơm cháo được mà cả xe còn trộ, nói lén rằng cái
ấy dùng để ấy ấy của ta cần cẩu kéo còn không cất
lên nổi, làm ăn gì được “ (trang 135) “ Rượu sông
Di vậy mà ghê. Mày coi, thằng nhỏ tao ngóc đầu rồi. Chục
năm nay tao mới có lần này đi đái không ướt dép” (trang
142), “ nói ngủ như chết vậy, Tu ngóay thằng nhỏ
mà chẳng thấy nhúc nhích gì? (trang 211) , Còn cô gái tên
Phụng, biệt danh Bí đỏ, kẻ cùng ông già quá giang với
đđdòan đi dọc sông Di, không biết Đình Aân đã từng
được con ma chị Chất hiến dâng mà “ chẳng có kì tích
nào, cậu không lên được, cúc cu vẫn nhũn ra như đã từng
hờ hững với đàn bà” (trang 120) và cô hòan tòan mù dấu
hiệu, không biết cậu thuộc lọai người nào, nên cố
dúi đôi hại đậu đỏ nóng ran trên ngực mình vào môi
vào khoang mũi cậu” (trang 206). Phụng từng công khai trêu
cợt cả ông già quá giang, không biết thực hư:” không
biết con lăng quăng chống gậy đi từ hồi khuya đã gặp
được trứng của em chưa, ta?” (trang 165). Cô ta cũng
bảo đau bụng như từng bảo với Aân để gọi Xu sang phòng
cả đêm làm Aân mất ngủ. Cô tự để mình lạc theo một
gã khách du lịch gầy còm, gã đưa cô về phòng trọ…”
để” cong dưới gã”. Phụng liên tục đi tìm cọc đối
tác chỉ từ khi giải phóng được hủ cốt người anh song
sinh xuống hồ Thiên theo di nguyện. Rảnh rang, Phụng bị
tay họa sĩ ở Sở Văn hóa quyến rũ. Nguyễn Ngọc Tư miêu
tả” Phụng hổn hển cởi cúc áo đầu tiên. Cái áo sơ
mi không chít eo đó cô không bao giờ mặc nữa vì đứt
mất hai cúc áo cuối cùng, bởi một sự sốt sắng quá
đà của tay họa sĩ.” (trang 95). Sự cố làm cô tuyên bố
một câu xanh rờn:”Phải biết làm tình thích vậy tôi
rút ống cho ơng Long chết sớm hơn.” (trang 195). Đây cũng
là một thủ pháp cao siêu của Nguyễn Ngọc Tư: tả mà
không cần tả chi tiết, mặc cho người đọc liên tưởng
thay. Đỉnh điểm thủ pháp này chỉ bằng sáu từ trong
đọan:” Cậu mượn máy tính Xu, lên mạng tìm những bài
khoa học thường thức về tránh thai, bảo Phụng đọc qua.
Cô than buồn ói khi nhìn thấy hình vẽ tinh trùng giống
như con nòng nọc: - Đừng hòng tôi nuốt chúng nữa”. (trang
196).
Nếu như ở đàn bà
xấu thì không có quà” nhà văn nữ Y Ban
đưa tin thời sự vào tác phẩm với một liều lượng nhất
định bằng cách cho nhân vật điểm tin trên báo trong cuộc
họp giao ban buổi sáng ở đơn vị, còn ở “Sông” Nguyễn
Ngọc Tư lần lượt chất hết chuyện xã hội nổi cộm
từng xảy ra lên trên sông Di. Từ chuyện nho nhỏ như: “
chỉ biết vỗ tay tiễn cô đi. Đuổi bằng vỗ tay là học
lóm ở các Đại hội Văn nghệ” (trang 9) đến “áo thun
kẻ chữ”. “Biển của tao, trời đất của tao”, như
vừa tan một cuộc biểu tình đòi biển đảo về.” (trang
9). Bao nhiêu là chuyện, từ những nguyên tắc không bắt
được ai: “trả tiền đò thì phải nhớ mà kê ra giấy,
xài gì trên trăm ngàn đồng cũng phải có hóa đơn”, “tài
vụ cấp cao hơn vặt vẹo tại sao ăn chuối nướng đến
vài trăm ngàn đồng” (trang 11) đến chuyện chết người
còn thua cọng cỏ: “mấy bữa trước, ngay trân đêm hội
lăng, có người ăn trộm nghêu bị bắn gãy chân…” “tụi
thằng Lâm đi kiếm cơm ở Tòa xử vụ vợ đốt chết chồng.”
(trang 23), “ Bà Anh ở Tây Nguyên mót cà phê bị chủ vườn
thả chó cắn xé đến chết”. Một người tên Anh ở Hà
Lam mắc chứng bệnh ái tử thi, đào lấy cốt chồng đắp
thạch cao để ôm ấp bảy năm nay. Một Anh khác có các
máy ảnh bằng bao thuốc lá hay đi lang thang theo các làng
xóm ven sông chụp ảnh cho người gia, dùng để thờ khi
họ trăm tuổi (trang 129,130) (Đọc đến đọan này chắc
bà học sĩ gia Đ.C.V tủm tỉm cười bảo, mình đi đây
đi đó cho khỏe người, được biết thêm quê hương nơi
này nơi nọ, được một cuộc triển lãm ảnh, được ghi
vào ghi-net Việt Nam, được báo đài ca ngợi mà nay nó còn
đưa mình vào tiểu thuyết nữa). Lắp vào người này, mặc
áo cho nhận vật kia, Nguyễn Ngọc Tư đưa thờïi sự vào:
“Bách bị đuổi học từ năm hai, sau chuyến thăm trường
của ông Bộ trưởng. Khi ngang qua lớp, ông ghé vào ủy
lạo, bảo các bạn là những chủ nhân tương lai của đất
nước. Bách gạt phắt, tụi này không nhận lấy cái nước
đang nợ nần ngập đầu này đâu, trả bao giờ mới xong?
Tội của chàng ta là hét hơi lớn, thấu tai ông Bộ trưởng
và đòan tùy tùng.” (trang 24), “dĩa cơm sườn đã lên
đến năm mươi ngàn rồi. Bọn còn lại quẩn quanh với
việc làm sao bán được vài ba tin mỗi ngày, làm sao để
có thể chẻ tin ra nhiều mảnh, làm sao nghĩ ra được nhiều
bút danh để qua mặt cơ quan khi bán tin cho báo bạn.-Nhiều
lúc ngồi coi ca nhạc chỉ mong con ca sĩ tụt áo.” (trang
24)” Chị làm công nhân giày da để trả lời câu hỏi
tại sao những đứa trẻ sơ sinh bị kiến ăn ở bãi rác
gần khu công nghiệp ngày càng nhiều, chị xin rửa chén
trong nhà hàng chuyên thịt động vật có tên trong sách đỏ,
để chứng minh bọn ăn chúng phần lớn là quan chức”
(trang 64). “Sông Di tach Trấn biên ra một nẻo, hàng trăm
năm chưa cây cầu kiên cố nào được bắc qua hai dãy núi.
Tụi học trò cứ đu dây hoặc chống bè qua sông”. (trang
145), “ gọi tên than mật của trưởng Công an địa phương
đôi khi có tác dụng. Mánh đó là của Duyên…Khi ở Đồng
Vân, chính cô bị phó công an gõ cửa phòng ngủ để quấy
rối suốt đêm?” Nguyễn Ngọc Tư dành bốn trang để viết
về người Đào bán nội tạng và trẻ con: “Bảo đảm
khi được mang đi cùng với mười ba đứa trẻ trong làng
nó sẽ không khóc vì đóùi mẹ. Nó quen với sữa công nghiệp”
“giá hai mươi hai triệu bảy. Tiền đã được đặt cọc
một nửa khi bé còn trong bụng mẹ nó.-một đứa con gái
chưa qua mười lăm tuổi”, mẹ cô sinh con bán đến mức
bà không nhớ đã đẻ bao nhiêu đứa.” “Những đứa
trẻ ngủ gật trên tay những người ăn xin ngồi khắp Sài
gòn, có phải đã đến từ thượng nguồn Sông Di? Những
đứa trẻ bị đày đọa trong những công xưởng chui, có
phải cũng mang dòng máu của người Đào?” (trang 182). Liên
quan đến thân thế của Xu là câu chuyện đau lòng về kinh
doanh lòng nhân đạo. đứa bé bị bỏ rơi: “một đôi
vơ chồng bán rau quả ở Thới Lai mang thằng bé quấn khăn
cháo lòng về. Hai mươi ngày sau họ trả lại vì nó không
khóc một tiếng nào, nhưng lý do chính là những món tiền
mà người có lòng trắc ẩn xúm vào cho cũng vãn” (trang
91). Y như vụ gỗ sưa: “ở đó đang sôi sục bới tìm
thủy tùng - Tháng trước chú tôi trúng thủy tùng bạc tỉ”
(trang 130) Cuộc phá họai kinh tế của anh hàng xóm đểu
cáng cũng được Tư ghi nhận:” Thương lái Hoa Bắc qua
lại đất người Đào mua bất cứ gì nơi này có. Từ bụi
cỏ sa lệ cao chỉ bằng ngón tay cho đến những thân gỗ
nghiến giữa đại ngàn. Từ chiếc khăn sặc sỡ chít đầu
cho đến cái gùi đựng cũi. Đất đá. Vật dụng. Cây cỏ.
Tầt cả đều được mua với giá cao và người Đào với
ba con mắt gần như không biết thương nhân Hoa Bắc mua để
làm gì. Qua biên giới, những cây móng bò ấy, những bụi
gai ấy, những vỉa đất khô cằn sẽ đi về đâu? (trang
181). Chuyện biển đảo Tư nhắc đến mấy dòng ngắn gọn”
biển của tao, trời đất của tao” khi nói tới cái áo
của Bối nhưng rất quyết liệt về người Hoa Bắc: “Cậu
vẫn nghĩ người Hoa Bắc như cọp dữ, trong cú vờn giỡn
trăng cũng ẩn chứa bản năng khát máu. Trong cái cười
có tiếng giáo gươm khua” (trang 181) Con người tàn phá
môi trường, xâm hại dòng sông bị Tư lên án: “Sông thấy
mênh mông mà dễ bị giết. Người ta ước tính làm một
dòng sông cạn còn dễ hơn làm một con đường. Sông Di
cũng đang bị những dãy nhà hai bên bơ øchồm ra bóp nghẹt…”
và hậu quả: “Nó dào dạt theo cách riêng của mình, bằng
cách luồn sâu vào lòng đất. Không ai hay sông Di trả đũa
cho đến khi những ngôi nhà lần lượt đổ vào sông, sau
những trận mưa dầm” (trang 28). Nguyễn Ngọc Tư rung cây
nhát khỉ với những nhà đầu tư thủy điện: “Lại đường
bộ để vòng qua con đập thủy điện bỏ hoang vì lỗ lã.
Người ta nói rằng sông Di nguyền rủa những kẻ chắn
dòng của nó, không khánh kiệt thì cũng chết oan uổng đâu
đó. Một tay giám đốc của nhà máy thủy điện Di Giang
đã bị tai nạn khi về thăm nhà. Gỗ lăn từ trên đồi
xuống hất văng chiếc ô tô xuống sông Di. Giám Đốc mới
lên thay cũng chịu số phận bi thảm, khi vào trong đống
đất lỡ” (trang 75). Cái này gọi là sót người, lọt
tội, chỉ bắn vào các bia. Sao không nguyền rủa những
kẻ đặt bút lập dự án, kí phê duyệt các dự án thủy
điện bức tử dòng sông, đe dọa đời sống, sinh mạng
hàng ngàn người dân sống trong lưu vực, đầu nguồn, cuối
nguồn? Tôi dành lời nguyền cho bọn họ như lời của Duyệt
Tuyệt Sư Thái bắt Chu Chỉ Nhược thề thốt không kết
hôn với Minh giao chủ Trương Vô Kị, dầu biết rằng lời
nguyền rủa ấy cũng chỉ là nói cho vui, bọn họ nhân danh
cái này, nhân danh cái nọ một cách trơ tráo để bỏ tiền
đầy túi. Nguyễn Ngọc Tư trẻ con mà tôi cũng trẻ con
nữa!
Không biết Nguyễn Ngọc Tư
có là cái loa hay không khi biết về TS Lê Thăng: “Tiến
sĩ Lê Thăng, một đàn anh của cậu hay viết về những
bài gai góc chống chính quyền trên blog cá nhân, đã trở
thành anh hùng rất bâng quơ vào cuộc mất tích giữa tháng
năm vừa rối. Người ta nghĩ ngay đến một cuộc thủ tiêu
đốn mạt nào đó, một cuộc bắt bớ mờ ám. Thậm chí
vài nhà thờ còn định tháp nến cầu nguyện cho anh, giống
như nhiều lần thắp nến bày tỏ thái độ ủng hộ những
nhà dân chủ khác, hoặc chỉ để cầu nguyện cho việc
đòi đất. Cậu không nhớ ra họ đã từng thắp nến vì
vong nhân qua các cuộc chiến tranh, hoặc vì những hòn đảo
bị rình rập ngoài khơi chưa. May mà chị vợ anh Thăng đã
kịp cứu nhà thờ một bàn thua khi nhanh nhảu tìm ra chỗ
đức ông chồng mình đang hú hí cùng cô bồ nhí. Sự kiện
xìu đi, người ta nhanh chóng tìm thấy những anh hùng khác,
cũng cất tiếng nói ngược lề như anh bạn tiến sĩ, người
giờ đang tìm chỗ ở sau cuộc li dị.” (trang 84) .” “Chế”
Tư ơi, những hòn đảo của Việt Nam ở ngoài khơi đâu
chỉ bị rình rập. Hoàng Sa và Trường Sa có những hòn
đảo bị Trung Quốc xâm chiếm ít nhất là gần ba chục
năm rối và có đảo đã bị chiếm gần nữa thế kỉ,
có đảo hơn nữa thế kỉ kìa. Hay là kiểu để lâu cứt
trâu hóa bùn, “chế” cố mà quên cho vừa lòng anh bạn
bốn tốt?
Ở một đất nước chỉ một
Đảng cầm quyền mà có một bộ phận không nhỏ thái hóa
biến chất và người ta đang lo ngại có cả một bầy sâu
thì trong buổi phôi thai ma ma phật phật có những kẻ trục
lợi cho mình như tiến sĩ Lê Thăng của “chế” nặn ra
là tự nhiên. Nhưng trò vu vạ là xưa rồi nên “chế”
đừng ngần ngại phóng bụt tất cả bọn họ là thế!
Bù lại, hình như Nguyễn
Ngọc Tư đang muốn vượt ra khỏi biên giới Đông
Nam Á nhỏ hẹp để bước ra tầm thế
giới khi đề cập thời sự nóng hổi cuộc chiến Ba
- Tư . Lịch sử Việt Nam không thiếu những cuộc
tranh vương đồ bá như mười hai sứ quân, vua Lê - Chúa
Trịnh, Trịnh Nguyễn phân tranh hay Gia Long - Nguyễn Huệ…
Ở đây, Nguyễn Ngọc Tư lùi thời điểm cuộc tranh giành
quyền lực đến một ngàn chín trăm năm nhưng muốn người
đọc nghĩ ngay đến chuyện đương thời: rành rành hai họ
Nguyễn và Trương! Thậm chí còn công khai hơn khi đặt tên
cho ông quan Nguyễn Tấn… Vũ để nhắc lại câu nói: “Nếu
có thể chia trời được thì ta đã chia rối, huống chi
là dòng nước Bất Nghĩa giang này. Sông cũng chỉ được
chọn một họ mà theo” (trang 126) Nguyễn Ngọc Tư còn cho
hai họ Trương Nguyễn thi đua nhau ở nhà thờ giòng họ:
“Nhà thờ họ Nguyễn đang được tu sữa lại”, “ chắc
vì nhà thờ họ Trương vừa cơi nới xong”, “Đẹp lắm.
Hai cậu chưa tới đó coi như chưa tới Trung Sơn”, “những
thứ quý hiếm lộng lẫy trên đời đều tập trung ở đó”
(trang 128). “Sông” phát hành từ tháng 9 chứ nếu trễ
hơn ắêt thời sự Nguyễn Ngọc Tư phải cử phóng viên
đi khảo sát thực hư đền thờ!
Một chút khinh mạn, một chút
báng bổ có nâng mình lên một tầm cao nào không?
Tôi nghĩ rằng không. Đình Ân đã có một chút cao ngạo
với đồng nghiệp của mình khi các bạn đến mà lấy tin
vụ vợ đốt chồng: “Tụi nó không thoát được kiếp
ruồi bu rác.” (trang23). Có một thời hai chữ quang vinh
và vĩ đại chỉ dùng duy nhất như khẩu hiệu đã đề
ra. Nói như Xu:” Xu tả cô thợ uốn tóc ngăm đen nhưng
chắc lẳn, mông quang vinh, đùi vĩ đại” là bị đi cải
tạo, “Trời là thằng già ỉ mình có quyền nên hay chơi
ác” câu này chỉ dành cho kẻ liều mạng nhưng trời mưa
thì phải lục cơm nguội để trời đánh tránh bữa cơm!
Báng bổ tôn giáo kiểu: “vài lần cậu giang rộng tay,
một tay chạm tóc và tay kia chạm gót chân chị, ngông cuồng
nghĩ bộ dạng mình hơi giống cái ông treo trên cây thập
giá trong nhà thờ.” (trang 203) thì cũng chưa có sao nhưng
chớ dại mà đụng vào đấng Mahomed! Báng bổ lịch sử
: “bây ở trển về vậy chớ bà Trưng bà Triệu khỏe
không?” Nhìn vào cái vẻ nghiêm túc của bà, cậu nói thì
cũng bệnh rề rề vậy, bà Trưng cao huyết áp nhưng bà
Triẹâu bắt đầu lãng tai rồi”, “Bà già lơ mơ: - lâu
quá rối không có gặp hai bà đó đi họp phụ nữ” (trang
177) “Bà già thều thào hồi cô còn con gái ấy, cả Nguyễn
Trãi và Lý Thường Kiệt đều đeo cô sát rạt, sau vì thất
tình nên ông Kiệt mới bỏ vào cung làm thái giám. Chị
hỏi vậy ông Trãi đâu rồi? – Phải lấy cô thì đâu
có bị tru di ba họ. Nghỉ nửa hận nửa thong.” (trang 178)
“Chắc ông Nguyễn Du phải trốân gầm giường khi nhác
thấy bóng Thúy Kiều ngòai ngõ” (trang 179) Cợt đùa với
lịch sử ở chốn trà dư tửu hậu cho vui thì được mang
vào văn chương thì không công bằng, dù là lời từ cửa
miệng của một bà già lú lẫn. Sao không bỡn cợt với
những nhân vật lịch sử cận đại? Mảng ma ma thực thực
gọi là huyền ảo Nguyễn Ngọc Tư cũng làm người đọc
vui vui như vừa ăn xong một tô mì “Tốt Tốt”. Tuy rằng
cũng là mượn gió bẻ măng, nhiều câu nhức xương: “cả
linh hồn cũng chia ta-địch” (trang 114), con ma không bán
kẹo chewingum: “đời nào em bán kẹo của giặc, anh mua
kẹo gừng đi, ngon hơn nhiều”, “con nít con nôi hỉ
mũi chưa sạch mà ai bày đặt cho nuôi óan thù chi” (trang
116)
Những địa danh Ngọc Tư
sáng tạo cũng rất đặc biệt, dễ thương: quán Tầm Sương,
Ngã chín Yên Hoa, cửa Mù Sa, Chợ Khoi, Đồng Nàng, Chợ
Lệ Kiều, Sô Ro, Băng Khâu, chợ Chằm, Ể uu, chợ Thương…
Còn cây cỏ thì các nhà thực vật học trứ danh cũng chào
thua: Cây bi-ia chín ngọn, đọan trường thảo, hoa tai thỏ,
hoa son, phượng trắng, lá sầu, hoa chay, cỏ sa lệ…
Nguyễn Ngọc Tư cũng nói
những câu mạ vàng để đời:” không tin sách
lịch sử lắm, chúng hay đứng về phía người
thắng cuộc” (trang 116) ,” Đất nước này thực
sự từng có minh chủ không, hay người dân
chỉ biết chạy đi chạy lại giữa bọn qua tệ và bọn
(tưởng rằng) ít tệ hơn,” (trang 85) , “Đất nước này
vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà sống, rồi bỗng
dưng hai thứ đó vắng teo” (trang 84) , “Tình yêu là thứ
khiến người ta thấy cả thiên hạ đã biến mất, chỉ
còn mỗi một người, mỗi một thứ đáng để sống cho
nó và vì nó.” (trang 77) “Những dòng sông luôn làm rất
tốt cái việc chia cắt của nó” (trang 19), “hay ho gì
cái thứ dấn thân để khoe khoang, kể lể” (trang 161)
Chất giọng Nam bộ của
Nguyễn Ngọc Tư ở “Sông” cũng lai tạp ít nhiều:
“mẹ bị đâm xe” (trang 35), “cậu nôn hai lần” (trang
56), “cá sạo nấu với lõi hoa chuối ngự rất ngon” (trang
69) “mùa đông chưa đi được nửa đường rét của nó”
trang 23). Câu trúc trắc : “hai cái răng còn sót lại sau
một cuộc cướp bóc của thời gian.” (trang 20) “cậu
ngồi thừ lừ trong một ngôi nhà sàn ngó ra sông Di làm
những cơn mưa tháng bảy hí hửng tưởng quyền năng ngăn
trở của chúng có tác dụng”(trang 25)…
Tất cả làm nước sông
Di chảy “xờ xạc”, dòng sông chở nặng.
_________________________
13/01/2013