NGUYỄN VĂN THỨC với PHỐ PHỐ SÀI GÒN


Phố Phố Sài Gòn là tên thi tập Nguyễn Văn Thức vừa mới tự in ấn phát hành trong năm nay (2012). Đây là thi tập thứ tư của thi nhân họ Nguyễn. Được biết thơ Nguyễn Văn Thức đã xuất bản ở Đà Nẵng rồi Sàigòn trước 30.4.1975 trên các tạp chí văn học nghệ thuật. Những người viết văn, làm thơ thuở ấy khi trưởng thành đã không “chơi” theo kiểu của Thi Văn đoàn, Thi Văn nhóm nữa mà thảng hoặc có những anh chị một mình không đủ tư cách “chơi” nên kết bạn “chơi” chung cho đỡ tốn kém. Thông thường thí cứ phải “một mình một ngựa” mới thú, mới bảnh, mới xứng danh là thi sĩ, thi gia.

Sau 30.4.1075, ở miền Nam lại nở rộ văn nhân, thi sĩ. Nhưng thi nhân (thi sĩ), nhà thơ (thi gia) có thơ in riêng thật hiếm. Cho đến bây giờ anh chị nào có thơ in riêng vẫn là hạng có thế giá. Họ chỉ kém cạnh những đại gia. Không mất một xu nhỏ nào mà thơ cứ kìn kìn hết thi phẩm này tới thi phẩm khác in ra cả chục, cả trăm ngàn cuốn. Mỗi tác giả cứ đếm số lượng in ấn phát hành phổ biến để ẵm nhuận bút đậm nhạt tùy theo thời gía kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhất là các đấng, bậc có một vài bài thơ hay tập thơ được in ra với mục đích quảng bá đại chúng; nếu “nó” được dùng làm tài liệu giáo khoa cho các bậc học thì qua sự nhận định của các nhà mô phạm kiêm chuyên viên giáo khoa thì thế đứng của thơ ấy, người ấy sẽ cao ngất ngưởng và hoành tráng vô song.

Nhà thơ Nguyễn Văn Thức và bằng hữu của ông là chúng tôi ít ai can đảm “mua voi chung với Đức Ông”, dù có mỏi tay đánh cồng dẹp đường cho voi bước, cong lưng cắt cỏ dâng voi ăn, chai đầu gối quì hốt phân voi. Ca dao đã dạy chẳng sai:

Mua voi chung với Đức Ông
Cắt cỏ đánh cồng còn phải hốt phân

Cái tật “ngứa nghề” thì thời nào chả có. Đành rằng tự cổ chí kím ở Việt Nam ta chưa hề có nghề Nhà Thơ, Nhà Văn với nghĩa hoàn toàn độc lập, tư do, hạnh phúc của một người không hề có chỉ số hay bậc lương. Vì nghề chả ra nghề nên thi sĩ Tản Đà mới thành thực khai báo “Nghề văn không đủ nuôi thi sĩ” nên người đã phải xuôi Nam ngược Bắc hành nghề báo bổ rồi cả nghề thầy bói để kiếm sống.

Những thế hệ thi nhân sau Tản Đà vẫn chẳng sợ đói lạnh mà vẫn làm thơ, vẫn tương giao với các tiền bối để nhắc cho đàn sau biết lễ nghĩa liêm sỉ, để cảm thông khôn cùng với các tiên sinh thi sĩ:

…Có đàn em nhỏ nheo nheo
Có dăm món nợ eo sèo bên tai
Chừng lâu rượu chẳng về chai
Nhện giăng án mốc một vài đường tơ…


Trần Huyền Trân
“Uống rượu với Tản Đà”
Ngã Tư Sở 1938

Càng về sau, những người quán cổ thông kim cỡ Tản Đà lại quá hiếm nên hạng người hãnh tiến lại quá nhiều; họ quyết tề bằng mọi thế giá để ngoi lên cho đồng đẳng, bất chấp tuổi tác và vị thế xã hội. Vì thế, đã không thiếu những việc bỡn cợt của những người thích đùa bằng tự trào phúng thế.

Sự tề bằng rồi quyết ngoi lên cho được đồng đẳng để có thế giá ở mọi nghề ngỗng có tiền có quyền chẳng ai ngạc nhiên. Nhưng ở cái nghề hay được gán cho là “nghề” nhà văn, nhà thơ cũng có người thích mới lạ chứ! Vài đơn cử về “người thực, việc thực” trước 1975 tại Sàigòn.

Thi sĩ Đông Hồ kể rằng khi đại diện Văn Bút Việt Nam Cộng Hòa đi họp Văn Bút quốc tế tại Sì-tốc-khôm: Thi sĩ nghe thấy một người được gọi là bác sĩ, ông ấy không bằng lòng và yêu cầu: “Ở đây tôi là thi sĩ”. Chính ông thi sĩ ấy là đại diện văn bút một quốc gia. Cô Y-da-ben người Thụy Điển- chủ nhà- mới 16 tuổi làm thơ rất đạt. Cô ấy vừa là hội viên Văn Bút quốc tế đã có nhiều thơ xướng họa với thi sĩ Vũ Hoàng Chương của Việt Nam ta.

Ông Trần Kỳ Hùng- biên tập viên phòng Bình luận của đài Phát thanh Quốc gia (Sàigòn), sau vì trốn quân dịch nên “chui” vào báo Tiền Tuyến để ẩn thân do ông chủ nhiệm Phạm Xuân Ninh (thi sĩ Hà Thượng Nhân) có bụng liên tài với người nhân viên cũ ở nha Vô tuyến Truyền thanh mà ông là tổng Giám đốc. Với bút hiệu là Lý Phật Sơn, ông Trần Kỳ Hùng viết nhận định phê bình truyện kiếm hiệp của Kim Dung đăng trên các nhật báo. Người ta đón đọc Lý Phật Sơn thích thú trên báo Tiền Tuyến của quân đội nên số phát hành tăng đột biến. Lý Phật Sơn bị hốt vào trại nhập ngũ vì sự nổi danh, nổi tiếng ấy. Cuối cùng thì ông đào ngũ, tự xung là nhà văn nhưng chưa hề có tác phẩm in ấn nào.

Nhà văn, nhà thơ Xuân Phong Nguyễn Ngọc Cầm không bằng lòng với nghề ngỗng nhà văn lại chưa có tác phẩm của ông Lý Phật Sơn với lại “trốn quân dịch thì cứ nhận là trốn” cứ tránh trớ làm dáng là chống quân dịch hết thời Ngô Đình Diệm tới thời Nguyễn Văn Thiệu.

Nói theo quan điểm của ông Trần Kỳ Hùng (Lý Phật Sơn) thì chỉ có “nghề nhà văn” là sáng giá nhất với người không thèm có mảnh giấy lận lưng gọi là bằng cấp. Mà nhà văn hay nhà thơ, ai “là” cũng được tuốt luốt. Chả nhà nước nào bắt đóng thuế, còn hiền thánh hay ác thần cũng không ghét nhà thơ nếu người thơ nào cũng hiền lành, dễ thương như Nguyễn Văn Thức.

Trở lại câu chuyện hôm nay. Việc in ấn chung vui với anh chị em văn nhân, thi sĩ có phần dễ dàng hơn xưa vì ít bạc cũng bon chen được. Chỉ cần người chủ trương tuyển tập chấp nhận hay mời gọi tham gia theo số trang rồi được nhận số đầu sách tương ứng với số tiền bỏ ra đóng góp là được ký danh xếp theo “an pha bê”. Có khi may mắn được đứng trước hay đứng ngay sau, đứng bên cạnh thi hào, thi bá. Nhà văn Thế Phong đàn anh tôi ưa bỡn cợt mỗi khi thấy tôi “tham gia tuyển tập” là “ông em vẫn thích ở hộ tập thể”. Giá cả tùy hỉ của ông chủ hộ là người chủ trương quy tập thơ và nhà thơ rồi xin phép in ấn.

Sau hộ tập thể là hộ ghép tức là hơn một người “chơi chung”. Trường hợp này thường là thân thiết có cái sự “bò béo kéo bò gầy”. Thơ thì hay đấy nhưng tiền lại dở ẹc nên khó mà ra riêng tức là tách hộ rồi tự mình làm chủ hộ như Nguyễn Văn Thức.

Thơ của Thức không dùng ngôn từ rổn rảng với những triết lý cao siêu hoặc đỏm dáng đến độ kệch cỡm. Chỉ đọc Phố Phố Sài Gòn đã thấy sự chân thực của anh. Nói đến nét đẹp dịu dàng của Sàigòn, Gia Định đô thị mình đã sống với những vui buồn nay đã bị thời gian làm thay đổi.

Những Bài Thơ Không Tên – NXB Thanh Niên 2000

Đặt Tên Cho Thơ – NXB Thanh Niên 2005

Chờ Em – NXB Văn Nghệ 2009

Phố Phố Sài Gòn – NXB Thanh Niên 2012

Từ Những Bài Thơ Không Tên có cái gì như bế tắc? Nguyễn Văn Thức đã vượt thoát để Đặt Tên Cho Thơ, thơ đã có tên thì những băn khoăn khi phải Chờ Em và bây giờ Phố Phố Sài Gòn là một bước dài trong suy tư của thi nhân.

Thơ Nguyễn Văn Thức phá bỏ những “xiềng gông” của niêm luật cùng các thể thơ. Bảo đó là thơ Tự Do vì nó cũng có những bậc thang như ruộng trên các triền dốc ở tỉnh Hà Giang ngoài Bắc. Bảo nó là thơ Xuôi cũng không hẳn đúng vì nó có “gút” khiến người đọc phải ngỡ ngàng.

Cái tuyệt vời của Nguyễn Văn Thức là ở những nút thắt (gút) trải dài theo năm tháng ở một thành phố thân quen đang bùng nổ dân số sau cơn gió bụi thời cuộc. Ngôn ngữ Việt vốn đa nghĩa mà cái nghĩa ở ngoài dòng kẻ mới là quan trọng. Lại nữa, mỗi miền đất nước có tên gọi riêng cho một một vật. Phố Phố Sài Gòn (thơ) Nguyễn văn Thức khác với Hà Nội – Phố- Người (văn) Dương Tử Giang. Vì phố ở Sàigòn là một căn hộ. Còn phố ở Hà Nội là một con đường. Từ Phố Phố Sài Gòn cho người đọc thơ Nguyễn Văn Thức cái cảm nhận có sự ngậm ngùi của Tương Phố với Giọt Lệ Thu, có Đông Hồ với Linh Phượng và Toan Ánh với Nhớ Thương cùng thương tiếc người bạn đời vô đỗi.

Nguyễn Văn Thức nhớ thương người bạn đời của mình bằng thơ tự do lại lai với thơ xuôi nhưng không rõ nét vì nhà thơ này cố nén đau thương để sống với trách vụ “gà trống nuôi con”. Anh không đầm đìa như Giọt Lệ Thu, không văn vẻ Đường thi như Linh Phượng và cũng không gây cảm hoài dằng dặc như Nhớ Thương của các văn thi gia tiền bối.

Khi chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Nho làm thống soái trên văn đàn với việc bỏ học, bỏ thi trên cả 3 miền đất nước, Tú Xương than trách:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co

Để cân bằng sinh thái hầu đáp ứng với cái mới như tuyên ngôn của Tự Lực văn đoàn qua 10 điều tâm niệm, tác giả Hoàng Đạo đã xác định quyết tâm “hoàn toàn theo mới, dứt khoát theo mới, không chút do dự”. Tiểu thuyết thì có Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, thơ thì có Thơ Mới của Thế Lữ, thơ vui mang phong vị diễu cợt hí hước có Tú Mỡ. Mỡ dĩ nhiên là mềm mại bổ béo hơn xương khô không khốc nên Tú Xương hết thời. lại có hai ông Hiếu đồng danh nhưng đức thì chỉ trời mới biết là Hiếu Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) và Hiếu Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu). Với bài thơ Khóc Vợ đăng trên báo Phong Hóa hay Ngày Nay (?), thi sĩ Tú Mỡ dùng lời hí hước mới đọc qua ai cũng phải phì cười. Nhưng đọc lần thứ nhì, thứ ba… sẽ ứa nước mắt vì cái chân thực đầy chữ nghĩa:

Bà Tú ơi! Bà Tú ơi
Té ra bà đã qua đời thực ư?
…..
Nhớ khi giường bệnh đã nằm
Bà còn thủ thủ tình thâm thương chồng
Tôi mà chết thì ông sẽ khổ
Vì cứ theo câu cổ ngữ ta
Xưa nay con cái nuôi cha
Cũng không chu đáo bằng bà nuôi ông
….
Ngẫm cảnh già cuộc đời sung sướng
Tưởng vợ chồng còn hưởng dài lâu
Không ngờ con tạo cơ cầu
Bà đi để tủi để sầu cho tôi
Ôi! Duyên nợ thế thôi là hết
Năm mươi năm thắm thiết yêu nhau
Bà về trước tôi về sau
Thôi đành tạm biệt mối sầu gượng vui
Bà đi rồi nhưng tôi phải ở
Công việc đời còn dở tí thôi
Bao giờ nhiệm vụ xong xuôi
Về nơi cực lạc, lại tôi với bà


(Khóc vợ- Tú Mỡ)

Đọc thơ Tú Mỡ “khóc vợ” thời tiền chiến, thời kháng chiến chống thực dân Pháp có Hữu Loan với Màu Tím Hoa Sim đã vào huyền thoại. Đáng lẽ có cả bài Núi Đôi của Vũ Cao nhưng cái huyền thoại này bị cháy vì ông Vũ Cao trả lời phỏng vấn là ông hư cấu khi đi qua một nghĩa địa ở vùng Núi Đôi. Thời chống Mỹ cứu nước có ông Giang Nam với bài Quê Hương nói về tình đồng chí chứ chưa phải là vợ chồng ở miền Nam Ngãi.

Có thể còn nhiều văn thi phẩm ngợi ca tình yêu, tình bằng hữu như Nguyễn Khuyến với Dương Khuê, tình đồng đội còn có tên là tình Đồng Chí của Chính Hữu, tình gia đình như Tản Đà xuống bút muôn năm vẫn tuyệt vời:

Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa
Mắt trông con đứa đứa về dần
Xa xa con đã đến gần
Các con vừa đủ quây quần bữa ăn
Cơm dưa muối khó khăn mới có
Của không ngon nhà khó cũng ngon
Khi vui câu chuyện thêm giòn
Chồng chồng vợ vợ con con một nhà


Tản Đà

Tình vợ chồng tron thời chiến khơi dây sự quyết tâm chống ngoại xâm để bảo quốc an dân như Hữu Loan với Màu Tím Hoa Sim, nhạc sỹ Dũng Chinh phổ nhạc, rồi nhạc sỹ Phạm Duy cũng phổ nhưng đổi tên là Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà đều hay. Cả hai bản nhạc cùng xuất hiện đồng thời cỡ cuối những năm 1960 tại Sàigòn.

Văn phẩm Nhớ Thương của nhà văn Toan Ánh, thi phẩm Linh Phượng của thi sỹ Đông Hồ, thi phẩm Giọt Lê Thu của thi sỹ Tương Phố là rõ nét nhất. Còn biết bao nhiêu những bài thơ lẻ để khóc người bạn đời như Màu Tím Hoa SIm (Hữu Loan), Tình Nghèo (Hồ Hán Sơn) và những ngôn ngữ ẩn hiện trong thơ Nguyễn Văn Thức nhưng lại ở dạng không vần điệu, không niêm luật thì ngay cả nhưng giáo sư quốc văn hay nhà thi học, nhà phê bình cũng khó trích dẫn cho bài viết của mình. Vì thơ Nguyễn Văn Thức dễ đọc nhưng khó hiểu, muốn hiểu thơ Thức thì hãy thức tức là không ngủ dể thao thức bởi nó lạ lạ như xa vắng ngàn trùng, nó quen quen như thân thiết… Tìm trong Phố Phố Sài Gòn, ngoài cái không gian ngột ngạt vì xe cộ và người tứ xứ qua qua lại lại với thời gian với nắng mưa sớm tối mà nhà thơ đã hàng ngày phải bước đi đã gặp, đã nhìn:

Tôi vẫn đi
và gió
ngập tràn cõi hồn tôi

người ấy, ấy mà
đã xa
nơi này vĩnh viễn

ngó đi
ngó lại
phố này
vắng vẻ buồn tênh

vào cà phê quán
lặng lẽ
một mình
rồi cũng
bao nhiêu số phận
im


(Quán Phố)

Thuở hồng hoang, người ta còn ăn lông ở lỗ… Xã hội càng văn minh thì chợ búa phát triển đến độ siêu văn minh nên có chặt chém nhau tận tình, nên có chợ là có “búa” cũng như tiền đi liền với “bạc”

Sáng ra
người ta chia nhau xương
người ta chia nhau thịt
tiếng dao chặt xương trên thớt
đôi khi căm tức dữ dằn
lời qua tiếng lại
hàng thịt nguýt hàng cá

ngày linh hồn heo ở đâu
anh hàng thịt, tên đồ tể
chỉ biết chặt
thu gom tiền
hả hê


(Chợ)

Câu cổ ngạn “Những vật kê không bằng thì thốt nên những lời ai oán” (Vật bất kỳ bình -tắc minh). Những cuộc quật khởi thành công làm nên thời thế, những danh tác để đời của các văn gia thi sĩ vì “bất kỳ bình” quá nhiều nên phải “tắc minh” cho ra lẽ. Nhưng những “tắc minh” gào lên cho quảng đại quần chúng nhân dân đều được biết phải phát ra từ trái tim chân thực, khối óc minh mẫn. Chữ nghĩa thời thượng gọi là “người thực việc thực” thì đối cảnh sinh tình như Tương Phố, Đông Hồ, Toan Ánh… và nay có thêm nhà thơ Nguyễn Văn Thức đang sống, còn đang cố viết, cố vẽ bối cảnh xã hội cho tất cả những người Việt Nam hôm này có nhiều kẻ ngất ngưởng vui say, có lắm người quằn quại vì sinh kế cứ như gia cảnh Tản Đà ở Ngã Tư Sở năm 1938 mà thi sỹ Trần Huyền Trần đã cực tả cảnh:

Tôi là nắng, cụ là sương
Tôi bừng dậy sớm, cụ nương bóng chiều
Gió mưa tóc cụ đã nhiều
Lòng còn gánh nặng bao nhiêu khối tình


(Uống Rượu với Tản Đà)

Đúng như lời giáo sư Nguyển Thanh Chiểu tức nhà văn- nhà báo Thanh Thương Hoàng- Tổng thư ký tòa soạn nhật báo Chính Luận, dạy khoa Báo chí trường đại học Đà Lạt- dạy tôi cách đọc cách nhận thức tác phẩm văn học là phải đọc kỹ, tìm cho ra cái nghĩa lý mà tác giả đã xuống bút nhưng lại ở ngoài dòng kẻ.

Tôi thô lậu quả văn, cố gắng làm theo lời các đàn anh mà sao vẫn thấy luống cuống vì không đủ kiến thức để nhận biết về thơ tự do và thơ Tân hình thức bây giờ.


___________________________________________

Sàigòn, cuối thu Nhâm Thìn14.10.2012


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 27.12.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Phổ biến lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com