HOÀI THANH

Câu thơ vẽ chân dung Hoài Thanh: “Vị nghệ thuật nửa cuộc đời, Nửa đời sau lại vị người ngồi trên” của Xuân Sách đã tạo ra * “nỗi oan và ức” trong đời Hoài Thanh. Theo Phạm Xuân Nguyên, Hoài Thanh rất bảo vệ chất văn, chất nghệ thuật của văn chương, cái mà thiếu đi thì văn chương không còn là văn chương nữa. Hoài Thanh quan niệm: “văn chương là văn chương”, viết văn phải có phẩm tính văn, nhưng “văn” mà chẳng nói được điều gì thì người viết không phải là nhà văn. Hoài Thanh (cùng với người em là Hoài Chân) viết Thi nhân Việt Nam với tâm thế: “Các nhà thơ có tài làm thơ, còn nhà … bình thơ có tài thẩm thơ. Họ đồng điệu tâm trạng và cảm xúc trong thời họ sống.”

Hoài Thanh (1909-1982) sinh trong một gia đình nhà nho. Quê ông ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông học chữ Hán, chữ Quốc ngữ ở trường Quốc học Vinh; rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học. Trước 1945, ông tham gia viết văn, làm báo, dạy học. Năm 1930 đang học ở trường Bưởi (Hà Nội) thì bị bắt, bị kết án treo, bị trục xuất khỏi Bắc Kỳ và giải về quê. Những năm 30 ở Huế, ông làm nhà in Đắc Lập rồi làm báo Tràng An, La Gazette de Huế. Hoài Thanh và Lưu Trọng Lư xây dựng Ngân Sơn tùng thư (1933-1935). Năm 1942, xuất bản Thi nhân Việt Nam. Đầu năm 1945, tham gia Việt Minh Tổng khởi nghĩa tháng Tám ở Huế. Sau tháng 8 năm 1945, từng giữ chức: Chủ nhiệm báo Quyết chiến (Trung Bộ); Trưởng ty Thông tin Nghệ An; Trưởng ty Văn hóa Nghệ An; Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn hóa.

Những tác phẩm của Hoài Thanh là Văn chương và hành động (1936), Thi nhân Việt Nam (1942), Có một nền văn hóa Việt Nam (1946), Quyền sống con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (1949), Nhân văn Việt Nam (1949), Xây dựng văn hóa nhân dân (1950), Nói chuyện thơ kháng chiến (1951), Nam Bộ mến yêu (1955), Quê hương và thời niên thiếu của Bác (cùng viết với Thanh Tịnh 1960), Phê bình và tiểu luận tập 1 (1960), tập 2 (1965), tập 3 (1971) , Phan Bội Châu (1978), Chuyện thơ (1978)

THI NHÂN VIỆT NAM

Thi nhân Việt Nam là hợp tuyển bình giảng về phong trào thơ mới Việt Nam, ghi nhận những nhà thơ và những bài thơ giá trị trong khoảng 1932-1941, được đánh giá rất cao về giọng bình và trình độ cảm nhận của tác giả. Thi nhân Việt Nam in lần đầu năm 1942 tại nhà in tư nhân Nguyễn Đức Phiên. Sách được viết vào thời kỳ đỉnh cao của phong trào thơ mới (1941), khi các thi nhân ưu tú nhất của thời kỳ này, như Xuân Diệu,Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Vỹ, Đoàn Phú Tứ v.v. đã xuất bản những tác phẩm của mình (như Gửi hương cho gió của Xuân Diệu, Lửa thiêng của Huy Cận, Thơ Hàn Mạc Tử, Thơ say của Vũ Hoàng Chương...), Trong Lời cuối sách, Hoài Thanh nói rõ quan niệm của mình :”Vô tư thì tôi đã vô tư hết sức, nhưng khách quan thì không. Tôi vẫn có thể vờ bộ khách quan và mặc cho những ý riêng của tôi cái lốt y phục của mọi người. Nhưng việc gì phải khổ thế ? Chạy đi đâu cũng không thoát cái tôi thì tôi cứ là tôi vậy. Hay dở tính trời.” Sau hơn nửa thế kỷ, Thi nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên giá trị như khi xuất bản năm 1942, một trong những sách tái bản đi tái bản lại, được ưa thích ở Việt Nam, bởi giọng bình uyên thâm, sâu sắc nhưng thẳng thắn, hóm nhưng nghiêm túc.

Hoài Thanh là một nhà bình (giảng) văn học uyên bác và tinh tế, khẳng định giá trị Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ 20. Tác phẩm Thi nhân Việt Nam đã đưa thi nhân lên vị trí cao. Ông xứng tầm một nhà bình (giảng) lớn của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20.


*/ Báo Tuổi trẻ ngày 12.7.2009 có bài Giải nỗi oan và ức của Phạm Xuân Nguyên nhân Lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhà phê bình Hoài Thanh(1909 - 1982).





© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 07.02.2012 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com