LẠI NÓI VỀ VẤN ĐỀ
HỌC CHỮ HÁN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG


N hư ta biết tổ hợp chữ Hán thường có bộ phận biểu ý nên trong trường hợp đồng âm nhìn vào cấu trúc chữ là biết ngay được nghĩa và yếu tố đồng âm đó.Một người tên THANH đâu biết mình nằm trong vùng nghĩa nào : (1) xanh da trời (thanh thiên bạch nhật) – (2) tiếng (thanh danh:tiếng tăm;thanh tra: nghe ngóng kiểm sóat) – (3) trong,không đục,không bợn (thanh bần: nghèo mà trong sạch).

GS Cao Xuân Hạo cho rằng: “ Nạn mù chữ Hán là cội nguồn của việc hiểu sai các từ Việt gốc Hán - Cũng như người Pháp không thể giỏi tiếng Pháp nếu không biết tiếng La tinh,người Việt Nam cũng không thể giỏi tiếng Việt nếu không biết chữ Hán - thứ chữ đã được dùng để viết hơn 70% số từ của tiếng Việt ,những từ mà ngày nay vẫn được dùng với một tần suất rất cao.”

Tại cuộc Hội thảo khoa học tòan quốc “Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay” vừa qua,một số ý kiến đề nghị cần khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường. PGS.TS Đòan Lê Giang khẳng định “ Nếu chúng ta kiên quyết ,kiên trì đưa chữ Hán vào chương trình phổ thông ,tiếng Việt của chúng ta sẽ giàu có hơn, trong sáng hơn ,ít bị sai hơn.”.

Và chúng ta hiểu chữ Hán mang ra dạy ở đây là thứ chữ Hán của văn bản cổ đại mà Trung Quốc gọi là văn ngôn – không phải là Hán hiện đại(Bạch thọai)- sinh ngữ.

Chữ Hán cổ trải qua quá trình phát triển 5-6000 năm khởi đầu là những hình vẽ trên đá,mai rùa,xương thú – chủ yếu có các dạng : Giáp cốt văn(dạng chữ đời nhà Thương,khắc trên mai rùa,xương thú),Kim văn(dạng chữ khắc trên dụng cụ bằng đồng thau thời nhà Thương Chu),Tiểu triện (dạng chữ thông dụng đời nhà Tần),Lệ thư(dạng chữ thông dụng cuối Tần đến thời Tam quốc),Khải thư (kiểu chữ cuối thời Hán hình chữ ngay ngắn ,nét bút thẳng thắn được coi là dạng chữ chuẩn mực),Thảo thư(xuất hiện đầu thời Hán,là biến thể của chữ Lệ viết nhanh),Hành thư (sử dụng phổ biến thời Tam quốc và thời nhà Tần), Giản thể(được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra vào năm 1956 và sử dụng rộng rãi tại TQ ngày nay).

Hán hiện đại (Bạch thọai) là chuyển ngữ - phương tiện giao tiếp chung của người dân TQ trong tình trạng các ngôn ngữ địa phương quá cách xa nhau- người Thượng Hải không hiểu tiếng Quảng Đông,người Quảng Đông không hiểu tiếng Tứ Xuyên…- nhưng mọi người TQ có học đều đọc hiểu các văn bản chữ Hán.Cũng chính vì thế mà cho đến nay chữ phiên âm tiếng Hán (chú âm phù hiệu) chỉ có thể là phương tiện phụ trợ trong việc dạy chữ Hán không thể thay thế chữ Hán được .Nhược điểm của chữ Hán là rất khó học.Người TQ và những người nước ngòai học chữ Hán đều thấy gai góc .

Lịch sử nước ta bị TQ đô hộ quá sớm và quá lâu từ năm 111 trước CN đến năm 938 sau CN.Thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm,chữ Hán và Hán học đã được người TQ đem truyền bá cho nhân dân ta. Hệ lụy đó đã khiến hơn phân nửa từ Việt phải gắn bó với gốc Hán Việt.

Ngọai trừ người học Việt Nam đến với chữ Hán hiện đại (Bạch thọai) như một ngọai ngữ - bên cạnh Anh,Pháp,Nga,Nhật,Hàn …, để giao tiếp hội nhập và những sinh viên chuyên ngành đến với Hán Nôm để có thể khai thác kho tàng đồ sộ và phong phú Văn,Triết,Sử Việt Nam – những văn bia,hòanh phi câu đối,kinh kệ,sắc thần,sớ điệp viết bằng Hán Nôm trong các đình chùa đền miếu,phổ biến cho mọi người - đặt vấn đề khôi phục dạy chữ Hán trong nhà trường lúc này chưa cần lắm – bởi như ý kiến của PGS.TS Lê Xuân Thại :”Trong việc thụ đắc từ ngữ Hán Việt,quan trọng là việc hiểu nghĩa,hiểu cách dùng từ ngữ chứ không phải là hiểu nghĩa của từng yếu tố cấu tạo từ.-Mà ngay cả việc hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt cũng không nhất thiết phải qua chữ Hán mà có thể dạy qua chữ Quốc ngữ như chúng ta đã dạy ở các giờ Ngữ văn PTCS và PTTH”.

Do vậy nhiệm vụ của GV Ngữ văn là phải chú ý dạy từ - giúp học sinh khám phá gốc rể nghĩa từ,đối chiếu liên hệ.xác định nội hàm ngữ nghĩa trong câu.

Dạy bài Giải đi sớm – nguyên tác Tảo giải (NKTT – Hồ Chí Minh) – chữ “tảo” (1) sớm,buổi sớm - (2) quét(tảo trừ,tảo mộ) - (3) một lọai rau mọc ở dưới nước.

Giảng câu thơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm “(Tây tiến – Quang Dũng) – từ “kiều”: (1) xinh,đẹp – ( người thiếu nữ đẹp )–(2) cầu ( kiều lộ: cầu đường) –(3) ở ngụ,ở nhờ (gặp trong kiều dân,kiều bào…)-(3) tên nhân vật chính trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Tìm hiểu những trường nghĩa khác nhau chứa đựng trong từ Hán Việt không chỉ giúp hiểu đúng nghĩa văn bản tác phẩm,làm phong phú,trong sáng tiếng Việt mà còn rèn học sinh thói quen sử dụng từ điển -hình thành kỹ năng tra cứu tự học sau này.

Chúng ta coi trọng từ Hán Việt nhưng không nên quá lạm dụng - luôn ý thức sử dụng từ thuần Việt cũng là cách vừa bảo tồn,vừa giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - (chẳng hạn nên dùng : vùng trời,vùng biển,tên lửa ,tàu sân bay v.v… thay cho không phận,hải phận,hỏa tiễn, hàng không mẫu hạm…)


______________________________________
(Saigon, 4.7.2010)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 31.01.2012 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội.