Tên Gọi Đất Xưa


PHAN CHÍNH



                                           Trở lại thời mở đất  
 

      Lần theo bước chân của Tư nghiệp Nguyễn Thông khi nhận chức Doanh điền sứ Bình Thuận (1877) đã lặn lội tận cùng núi cao hiểm trở từ phía tây Bình Thuận qua hướng bắc Biên Hòa, hết lòng với công việc của nhà quy hoạch. Những địa danh có từ trước đó sống lại trên trang sớ dâng vua "Nghi thỉnh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ" (sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du). Khi đề xuất mở tuyến đường nối biển với vùng cao, Nguyễn Thông có nói đến các địa danh như  La Di thuộc "phủ" Hàm Tân (phải chăng do người dịch?)  và ước lượng quảng đường dài tính bằng đêm xe đi. Rồi ở vùng lân cận đã có Bác Dã (Đồng Kho), Lạc Hải (Biển Lạc) thuộc Tánh Linh và Cao Cương (Tân Lập), Thiển Môn (Cửa Cạn) thuộc Hàm Thuận Nam, Hàm Tân có Canh Man (Sông Phan)…Tất nhiên có những cơ sở từ sử liệu Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn (1802- 1845) mà Nguyễn Thông tiếp tục trong quá trình khảo sát thuộc địa.

      Có điều làm cho không ít người mãi băn khoăn tại sao các văn bản cũ đều ghi chép La Gi ngày nay là La Di dù rất hiếm hoi trên các văn bản của Nhà nước phong kiến. Chữ viết địa danh La Gi chỉ xuất hiện trên các báo cáo Toà công sứ Bình Thuận như thời kỳ 1921-1934 (Rapport D'ensemble), địa bạ tức thời kỳ Pháp thuộc, lúc đó Hàm Tân còn là một làng thuộc tổng Đức Thắng, phủ Hàm Thuận. Sự thay đổi này có thể giải thích từ cách viết tương tự như Hòn Bà viết thành Hòn Bò (Ile de la Vache), Khê Gà trại ra Kê gà (Kéga) Phố Hời viết Phú Hài, Phù My gọi Cù My, Phù trì  đọc Phò Trì…

      Cũng có người liên hệ một số địa danh trong tỉnh như La Gàn, La Dạ, La Ngâu, La Ngà … với La Gi rồi suy diễn đây là đất thiên di của người Chăm hay người dân tộc miền núi? Ngoài di tích Hòn Bà (đảo Thiên Y) có tượng đá A- Diễn-Bà gọi là đền thờ Bà Chúa Ngọc mang gốc gác tín ngưỡng và truyền thuyết của người Chăm. Còn cả một vùng đất rộng chỉ cách bờ biển không đầy mười cây số thì có vài nhóm sắc tộc thiểu số miền núi Rắc lây, Kơ ho, Châu ro… và người Chăm định cư ở Bà Giêng, Sông Phan, Suối Kiết, Hiệp Nhơn, Phò Trì … Cộng đồng dân cư La Gi chỉ bắt đầu khi có hệ thống dịch trạm được thiết lập ở Tam Tân (Thuận Trình), Hàm Thắng (Thuận Phương) và Phước Lộc (Thuận Phước) bên hữu ngạn cửa sông La Di. Các dịch trạm ở La Gi đều chiếm vị trí cửa biển. Do đó có ba khu vực dân cư lâu đời nhất là Tam Tân, La Gi, Hàm Thắng. Từ đó nhà truyền đạo công giáo Huỳnh Công Ẩn đã đến xứ Tân Lý (1885) rồi sau đó là Cù Mi -Hàm Thắng (1887). Thuở ấy đất đai phía nam Bình Thuận nằm lấn sâu vào địa bàn Bà Rịa hiện nay, kể từ ngày 7-11-1905 Toàn quyền Đông Dương quyết định đem phần đất này gọi là Khánh Sơn và 3 xã của người thiểu số Hùng Nhơn, Nhu Lâm, Thừa Tích (tức Bàu Lâm, Bưng Riềng, Bông Trang, Hòa Hiệp, Hòa Bình, Hòa Hội…) nhập vào tỉnh Bà Rịa với cớ không thu được thuế cho chính phủ Nam triều nhưng trong sâu xa là gặp sự chống đối mạnh của nghĩa quân chống Pháp.

          Đất đai Hàm Tân thì rộng nhưng dân cư chỉ phát triển theo các cửa sông và từ sau cách mạng tháng 8/1945 mới định hình một vùng căn cứ kháng chiến chống Pháp. Không có gì lạ khi hình thành dân cư là những nhóm dân sống  dựa vào nghề biển nhưng với điều kiện ghe thuyền quá thô sơ mà biển lại mênh mông, sinh mạng con người trở nên bé bỏng với bao thảm họa nhưng kề cạnh đất đai trù phú rồi gắn bó cho cuộc sống nông nghiệp sau này. 
 

                                           Lập huyện Hàm Tân 
 

                  Thời phong kiến có những con người từ phương xa đến lập nghiệp, bằng sức lực, quyền thế, tiền của mở rộng thêm phần "điền thổ" của mình rồi quy tụ bà con họ tộc. Có trường hợp mua chức làng để thống trị dân đinh xiêu tán. La Gi ban đầu chỉ là tên gọi một đồn binh có lính xích hậu canh gác ở cửa tấn La Di. Nơi này có đặt trạm dịch (Thuận Phước) mà con sông đó không biết từ bao giờ lại đổi thành sông Dinh (theo người Chăm sông Dinh là Karaung tìng- và con sông nào chảy qua khu đông cư dân thường gọi sông Dinh), phát nguồn từ núi Ông chảy ngang địa bàn Hàm Tân-La Gi dài khoảng 46 km, là con sông lớn nhất của huyện. Liên quan đến địa danh Phước Lộc, có tư liệu cho rằng xuất hiện từ thời Tả quân Lê Văn Duyệt trong cuộc phò vương đức Thế tổ Gia Long. Khi Hàm Tân là một đơn vị hành chánh cơ sở (làng) thuộc tổng Đức Thắng (Hàm Thuận) và đến năm Bính Thìn  1916 thành lập huyện mới có 2 tổng: tổng Phong Điền (có các làng Phong Điền, Hiệp Nghĩa, Tam Tân, Tân Lý) và tổng Phước Thắng ( có các làng Phước Lộc, Hàm Tân, Phò Trì, Hàm Thắng. Thắng Hải). Huyện đường đặt trên phần đất làng Hàm Tân nên trở thành tên huyện. Trên những giấy tờ đất đai đến năm 1943 còn ghi làng Hàm Tân, tổng Phước Thắng, huyện Hàm Tân.

      Nói đến điạ danh xưa, cũng tại sớ xin lập đồn điền của Nguyễn Thông có đề cập đến xã Cao Cương, tổng Bình Tuy, theo mô tả ở vào khu vực xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam ngày nay. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn là địa danh tổng Bình Tuy. Khi Ngô Đình Diệm cầm quyền dưới thời Mỹ chiếm đóng miền Nam đã ký sắc lệnh số 143/NV ngày 26/10/1956 thành lập tỉnh Bình Tuy gồm một phần đất của Bình Thuận, Long Khánh và Lâm Đồng… thì có người giải thích tỉnh Bình Tuy là ghép bởi 2 tỉnh Bình Thuận và Phước Tuy. Thực ra tỉnh Phước Tuy (từ phủ Phước Tuy có dưới thời Minh Mạng thứ 18-1837) cũng là tỉnh được thành lập cùng lúc với tỉnh Bình Tuy, phải chăng Bình Tuy có từ một địa danh xa xưa được sử dụng lại? Có thể nghi ngờ đơn vị hành chính từ huyện ra phủ do lỗi áp đặt nhưng về địa danh thì hiếm có sự tùy tiện được. Cũng dễ tạo ra sự phân vân bởi hiện nay cách viết địa danh theo sự tưởng tượng hoặc cố ý làm mới như Tà Cú thành Tà Kóu, Tà Dôn viết Tà Zôn, Bà Đặng ra Tà Đặng, Cầu Kiều hoá Kô Kiều… 
 

                                          La Di hay La Gi 

            Địa danh LaDi, Hàm Tân đã có từ trước khi triều đình nhà Nguyễn đổi dinh Bình Thuận thành tỉnh gồm 2 phủ Hàm Thuận, Ninh Thuận và 4 huyện. Lúc ấy Hàm Tân chỉ là một làng thuộc huyện Tuy Định rồi Tuy Lý (đổi từ huyện Tuy Định 1854). Năm Thành Thái thứ 7 (1895) cắt một phần đất của Tuy Lý lập huyện Tánh Linh. Tại một dụ số của Duy Tân được toàn quyền Pháp chuẩn y ngày 3/5/1916 thành lập Trung kỳ tách ra một tỉnh là Lâm Viên và lập thêm một số huyện mới, trong đó có Hàm Tân. Điều này cũng phù hợp qua ký ức của những người cùng thời và trên các văn tự hiếm hoi.

      Thời gian có tác động khá lớn đến diện mạo đời sống xã hội và làm biến đổi một số địa danh do yêu cầu tổ chức hành chánh. Như Hàm Tân có lúc chỉ còn mấy xã vùng ven vào thời chế độ cũ, La Gi nằm trong xã châu thành Phước Hội. Sau giải phóng 1975, La Gi chia làm 2 xã Hoà Lợi, Thọ Lộc nhập lại thành xã Tân Hoà rồi lên thị trấn La Gi. Cũng như Tam Tân lại mang tên Hiệp Tín dù là một địa danh vừa lâu đời, vừa có những dấu ấn lịch sử đáng tự hào. Gần đây, những nhà nghiên cứu tâm huyết đều tán đồng việc trở lại địa danh xưa khi đặt tên công trình, tên đường, tên thôn xã… dù là địa danh đó nghe có vẻ quê mùa, chân chất. Như Chợ Gạo, Hòn Đất, Năm Căn, Cai Lậy… lại có giá trị lịch sử và sâu nặng trong tình cảm của con người ở đó. Với xu hướng cách tân, ý tưởng "phả hệ" cho bộ máy hành chánh mà đặt tên xã đồng nhất một chữ đầu như Tân, Hàm, Thuận, Tiến, Hiệp … tuy có cái hay nhưng cũng bất cập về mặt lịch sử. Thực ra Tam Tân là tập hợp 3 làng Tân Quý, Tân Hải và Tân Hoàng (còn gọi là Tân Ngươn) trải dài theo hữu ngạn sông Maly. Từ xa xưa nơi ấy có đồn binh trong bối cảnh hoang sơ qua câu thơ: 

        Phong táp sơn yêu truyền pháo hưởng

      Triều phiên hải giác trợ bề thanh. 

Tạm dịch : (Gió giật sườn non rền tựa súng

              Sóng dồi góc biển trống âm vang).  

      Rõ ràng từ La Di cũng không thể là từ Hán Việt hoá, nếu liên hệ các địa danh trong tỉnh như La Gàn, La Dạ, La Giang, La Ngâu, La Ngà… và ở tỉnh Ninh Thuận cũng có con sông La Gi tức sông Pha (Krông Pha) thì nghĩ đến những địa danh này có nguồn gốc của dân tộc miền núi hoặc Chăm. Theo người Chăm cũng có địa danh Ladik, có thể là La Di? Nhưng vì sao từ Di lại trở thành Gi, ở Phù Cát (Bình Định) có một làng biển cũng có tên Đề Gi, xưa thuộc huyện Phù Ly. Trước năm 1975 có cuốn sách với tựa "Nguồn gốc Mã Lai" của nhà văn Bình Nguyên Lộc đề cập đến địa danh La Gi và đã suy luận "có lẽ là Sagi đánh nhau với Sanla, tức lại còn đánh nhau với Chân Lạp" và ông viết "từ câu Camy La gi lì cá y, từ riêng của Chăm  (đàn bà mà còn là đàn ông). "La Gi" có nghĩa lại còn, mà vùng đất này xưa là của Phù Nam, rồi của Chăm. Cả hai dân tộc đều nói tiếng Mã Lai đợt nhì". Còn có ý tưởng lãng mạn hơn, lấy chuyện tình ly tan của sự tích Hòn Bà bằng cách đọc trại ra (gia đình ly tan) thành La Gi !

      Rất nhiều địa danh không thể nào xác định được nguồn gốc dân tộc, ý nghĩa thực vì không theo một nguyên tắc nào cả, mà đây là trường hợp thuộc qui luật biến đổi qua nhiều hình thức ngữ âm, từ một tên gọi địa phương rồi được chuyển hoá thành địa danh hành chánh. Do đó rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ căn cứ hình thức ngữ âm và chính tả hiện tại để diễn giải, suy luận. Trong đó, địa danh La Gi không nằm trong nguyên tắc phân loại thông thường, cũng không theo tiêu chí tự nhiên.

                                               

                                                  Đất cũ người mới 

      Là phần đất tận cùng của miền Trung, Hàm Tân- La Gi rất đặc trưng về địa lý, dân cư mà thời mở đất còn in đậm dấu chân của lớp người tha phương tụ nghĩa. Sự giàu có của biển rừng, thiên nhiên ưu đãi cho những con người bỏ xứ lưu tán trong nỗi bi phẫn hoặc cam phận cho một tương lai mà mỗi mảnh đời là một hoàn cảnh rất riêng. Trong kháng chiến chống Pháp, Hàm Tân là vùng căn cứ địa có tầm chiến lược quan trọng cũng là nơi đón nhận đợt di cư chuyển vùng ồ ạt từ Phan Thiết, Hàm Thuận vào. Rồi 1957, năm 1970 trên vạn người từ miền Bắc, từ Quảng Trị, Quảng Ngãi… lập thêm nhiều vùng đất mới tạo ra sự cân bằng về cư dân sau này. Cốt cách phóng khoáng, giản dị của gốc quê miền đông Nam Bộ lẫn chút cứng cỏi, cần cù từ những miền đất khổ làm nên chất sống nặng nghĩa đậm tình của mỗi con người ở đây là thế.  La Gi thành thị xã cũng là điều tất yếu của sự phát triển, nhất là tốc độ đổi mới khoảng chục năm gần đây. Ngày trước Nguyễn Thông đến vùng đất Hàm Tân bằng xe trâu, lội bộ, băng rừng và ước lượng lộ trình bằng đơn vị đêm. Vậy mà xác định được từng địa danh tận núi cao heo hút đến cửa sông La Di cũng biết cả độ nông sâu… Nghiệm ra mới thấy thật diệu kỳ rồi chợt nhớ đến hơn 130 năm có những địa danh không còn và thay bằng tên mới như cho hợp với dung mạo thị thành, mà tiếc nhớ. Biết vậy, dù từ cuối năm 2005, vùng đất này từ một đơn vị hành chánh cấp huyện lâu đời nay chia thành huyện và thị xã, nhưng với địa danh La Gi, Hàm Tân vẫn dịu dàng và xanh ngát như con sóng đại dương miệt mài muôn thuở đến  lạ lùng!...


_________________________________  
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ LaGi Phan Thiết ngày 26.04.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com