22 GIẢI THƯỞNG TRUYỆN NGẮN
CỦA NHÀ VĂN QUÝ THỂ
HAI MƯƠI HAI BÀI HỌC LÀM NGƯỜI


Nhà văn Qúy Thể trước là một vị Thẩm phán của chế độ cũ, trải qua bao thăng trầm dâu bể, nay ông đã qua tuổi tri thiên mệnh. Đến nay nhà văn đã có mười đầu sách  xuất bản và trên năm trăm truyện ngắn đã công bố trong và ngoài nước, đây cũng là một kỷ lục đáng kể mà ngay cả những nhà văn nổi tiếng nhất cũng chưa hề đạt được về số lượng, một niềm tự hào của giới nhà văn Việt Nam chúng ta.

Với hai mươi hai giải thưởng truyện ngắn từ năm 1992 đến nay không phải là ít, chứng tỏ tác giả khá giàu kiến thức cũng như nhiều dụng công chuyên sâu trên nhiều lãnh vực : khoa học, giáo dục, xã hội, quân đội, sân khấu xiếc kịch cũng như mọi tình cảnh khóc cười buồn vui đời thường, những ước mơ vươn tới, những đích đến cuối cùng, nhất là lãnh vực tội phạm, tù tệ nạn xã hội và cả tù cách mạng đều bị giam chung.

Một  đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, đang trên đà xây dựng và phát triển mọi mặt để tiến lên giàu mạnh, giữ gìn an sinh cuộc sống và cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp. Trước những cảnh đời khác biệt nhau, người lành kẻ dữ, người sang kẻ hèn, những người làm việc xấu do hoàn cảnh… ngòi bút của nhà văn Qúy Thể đã dần dần khai thác những khía cạnh tích cực, soi rọi từng góc khuất tâm tư của từng nhân vật để đưa ra ánh sáng lương tâm, giác ngộ được điều sai trái.

Không vì  quá nhiều tác phẩm mà cốt truyện chồng chéo, trái lại diễn tiến từng truyện rất logic, minh bạch, đích đến luôn là sự thức tỉnh, hướng thiện, không đùn đẩy nhân vật vào vực sâu bóng tối mà luôn làm nổi bật bản chất con người là “ nhân chi sơ tính bổn thiện ”. Mọi việc xấu xa chúng ta gây ra chẳng qua do hoàn cảnh hoặc vì sự cám dỗ của ma quỷ, nếu được dẫn dắt tốt và được ánh sáng chân lý soi đường tất sẽ trở về nẻo chánh. Đó là những nổ lực của nhà văn Qúy Thể trong ba truyện được giải nhất : “ Lời hứa, Hạnh xóm ga, Hoa ngày cưới… ”, gồm những nhân vật tội phạm nhưng không phải mất hết lương tri. Và những cán bộ công an đã dùng tình cảm, sự tận tình để giáo dục phạm nhân hơn là biện pháp trừng phạt, một cách đề cao chính sách nhân đạo, tôn trọng nhân quyền của nhà nước.

Truyện  “ Lời hứa ” ( Vì an ninh cuộc sống ) rất đánh động người đọc. Trung úy Phải, công an khu vực bị Dung xì ke móc túi, nhưng chính anh lại giải cứu Dung đang bị đánh đập tơi bời ra khỏi đám đông. Dung bị sinh non, anh phải đưa Dung đến bệnh viện, nhận làm cha đứa bé và bán đồng hồ để mua khăn tả sơ sinh. Trước việc làm nhân đạo ấy khiến Dung phải buột miệng : “ Hồi ở đồn, cán bộ bảo em làm tờ cam kết, em không làm vì em biết không thể thực hiện được. Nhưng bây giờ thì em tin chắc thế nào mình cũng làm được. Em xin hứa sẽ từ bỏ vĩnh viễn ma túy. Làm người lương thiện, nuôi dạy con nên người…”.

Và truyện  “ Hoa ngày cưới ”, Dũng, cán bộ quản giáo trại cải tạo đuổi theo tên tù vượt ngục. Tội giết người của Kim chẳng qua là giết thằng cha Khảm  đã hiếp dâm em gái của mình. Ở trong tù, biết tin em gái sắp lấy chồng, Kim vượt ngục về dự đám cưới em. Nhiều lần Dũng muốn bắn Kim trên đường truy đuổi nhưng vì lòng nhân đạo nên chỉ theo sát Kim cho đến khi Kim về tới nhà. Dũng không bắt Kim tại chỗ mà là bắt tay và tặng hoa chia vui cùng Kim. Sau đó hai người cùng trở lại trại.

Nhờ  cách đối xử nhân đạo của Dũng mà cả gia đình Kim khỏi bị nhục nhã nếu Kim bị còng tay giữa buổi tiệc cưới. Những truyện về tội phạm khác của nhà văn Qúy Thể đều một mục đích nêu cao cách xử sự nhân đạo của cán bộ công an đưa đến sự tự giác của phạm nhân, cảm hóa tư tưởng những người lầm lạc. Không phải những kẻ phạm tội đều vô hồn và những người nhân danh pháp luật đều vô cảm.

Trên lãnh vực giáo dục cũng vậy, tác giả đã nêu gương sáng của người thầy trong “ Vị thánh trên bục giảng ” gây ấn tượng sâu sắc về hình ảnh một người thầy giáo tuy bị bệnh lao phổi, thân thể gầy còm nhưng luôn giữ bề ngoài nền nếp, phẳng phiu, diện mạo nghiêm trang đứng đắn như tấm gương không chút buị mờ trước mắt học sinh.

Và “  Thầy tôi ”, vì thời đại không còn thích hợp cho môn dạy Hán văn, thầy phải giả mù làm nghề thầy bói. Khi gặp học sinh cũ bên đường, thầy vội vả đi ra khỏi chỗ hành nghề. Dù trường hợp trên hơi quá sự thật và là một cảnh trạng khá thương xót khi thầy bị cảnh sát bắt lôi đi xềnh xệt, gây một ít phản cảm, nhưng thực tế đó như một loại giáo cụ trực quan cho chúng ta trực nhận giá trị vĩnh viễn của người thầy.

Nổi bật nhất là lòng tha thiết muốn mang ánh sáng văn minh đến cho đám học sinh vùng sâu vùng xa của cô giáo mới ra trường, ông viết :“ Cần phải dạy chữ, đồng thời phải chữa bệnh, phải làm vệ sinh, cắt tóc, móng tay, tắm rửa, may vá, phải thổi làn gió văn minh vào nơi này, phải làm sao cho tối thiểu cũng ra cái trường, cái lớp…”, thật đúng với chủ trương đường lối của nhà nước hiện hành. Hẳn nhiên là đòi hỏi hy sinh không nhỏ của vai trò giáo viên ( Cô giáo vùng cao ).

Đồng với những ước mơ đơn giản nhất của các em nhỏ vùng cao, còn có ước mơ của tầng lớp lao động bình dân, tuy lực bất tòng tâm, hoài phí cả một đời người như Trà Tế trong “ Pho tượng ”, người thợ đá giàu óc tưởng tượng thấy thân phận mình suốt ngày đục đẻo máng heo, mơ ước tạc tượng thần mặt trời trên một tảng đá lớn dưới chân núi Cô Tiên ( Nha Trang ). Vừa lao động cực nhọc kiếm sống, Trà Tế vừa thực hiện việc tạc tượng vĩ đại, ngày qua ngày thấm thoắt trở thành ông lão mà chỉ mới tạc được một móng chân út, những thương tích do dăm đá khiến lão không ra người ngợm, cuối cùng lão tìm cái chết. Đến giờ phút mãn đời lão chợt tỉnh ngộ :“ Mộng lớn chẳng thành thì xây mộng nhỏ. Công nghiệp vĩ đại chẳng xong thì hãy làm việc nhỏ nhoi tầm thường, miễn sao có ích cho đời ”. Câu chuyện răn người nên mơ ước vượt lên cuộc sống nhưng nếu là mơ ước quá viễn vông cao xa không thể thực hiện được thì nên làm việc nhỏ nhưng có ích.

Ngoài những truyện ngắn mang tính cách xây dựng một xã hội bình yên tốt đẹp, những hình ảnh mẫu mực, cách đối xử tích cực giàu tình người, ngòi bút tác giả còn dẫn dắt chúng ta đến với miền sông nước, gần gũi với những người chân quê nghèo khó tận cùng. Truyện “ Chiếc bè chở nỗi đam mê ”, thằng Ngạc mồ côi lại rất nghèo không mảnh đất cắm dùi, muốn cưới con Vàng hắn phải kết bè lên rừng hai mươi ngày để chặt tre về làm nhà, chặt măng le phơi khô, bắt cá, bẫy chim, hái nấm trúc… Chừng đó cũng đủ về chế biến thành một tiệc cưới chẳng kém ai trong mảnh làng quê ít dấu chân người. Phải quen thuộc lắm đời sống ở thôn quê tác giả mới dọn được một mâm cưới sơn hào không tiền mà bản sắc như thế. Nhưng quan trọng là phản ứng của Ngạc khi kéo bè tre về mà Vàng đã bị cha mẹ ép gả cho thằng Ớt con nhà giàu, một thái độ tiêu cực cho ta thấy bản chất mộc mạc cam phận ở chốn đồng quê.

Trong “  Tình yêu mùa nước nổi ” cũng na ná tiếng gọi đồng quê khiến cho Lài dứt bỏ chốn thị thành, nhứt quyết về làng lấy chồng sống đời lam lũ. Đó là sức thu hút của những câu chuyện mà tác giả đã đoạt giải, mỗi truyện một tính cách lôi cuốn người đọc vào những tình huống éo le nhưng không bi quan hóa, nhờ ở lối giải quyết tình huống rất tình người và nhờ lối diễn ngôn dung dị. Đặc biệt ở tác giả là một lối gút mở nội dung đầy nhân ái với mục đích đề cao đạo đức, hướng tới đời sống tinh thần tốt đẹp, hữu ích. Có đến mười tác phẩm giải nhất chứa đựng những diễn biến bất ngờ chuyển tải những thông điệp rất sâu sắc tinh thần cách mạng, gương hy sinh vì đất nước, vì công vụ ( Người thợ khóa, Ngọn nến tắt… ).            

Ngay cả  cái chết của “ Người lính cỏ ”, ra mặt trận Lê vẫn còn ham nghiên cứu giống “ Cỏ lúa ”, tin tưởng vào phát minh khoa học, sau này nhân loại sẽ có giống lúa mới mang đặc tính của cỏ. Cùng một đề tài cỏ lúa trong truyện “ Săn cỏ ”, cả hai truyện đều được giải nhất bởi đã gieo được lòng say mê khoa học vào mọi cảnh mọi nơi. Dù trong cảnh ngộ đầy bất trắc, người săn cỏ bị tật nguyền và người lính cỏ đã chết nhưng không gieo nỗi đau đớn thái quá mà chỉ như một cuộc hóa thân nhiệm mầu, làm nổi rõ nghệ thuật hóa giải nỗi đau rất tay nghề của tác giả, đáng cho chúng ta học hỏi.

Song song với tình tiết những câu chuyện, tác giả không quên đưa vào những đoạn tả cảnh khá đặc sắc, phải nhiều dụng công quan sát cùng với khả năng tưởng tượng mới có được những hình ảnh mây nước thiên nhiên kỳ thú. Có đoạn tác giả tả cảnh núi rừng Tây nguyên :“… Có một tầng mây rất thấp, trông như cái giàn bầu bí gác ngang qua hai đỉnh núi. Tầng mây sáng dần lên, mặt dưới ứng màu vỏ cua luộc, gờn gợn như đất cày ải. Lúc sau, chỗ  trủng giữa hai sườn núi trào lên một chất  lỏng giống  như sắt  nấu chảy ở trong lò. Chất lỏng sáng chói, đầy lên, mặt cong lại, vun thành khối cầu lửa đỏ rực, khổng lồ. Mặt trời mới ngoi lên trông ướt át và mềm, nó rùng mình rũ lớp phấn hồng lên những đám mây tha  thướt bay ngang qua ”.

Đây là cảnh chiều trên đỉnh núi Cà Tang :“ trên đỉnh núi Cà Tang  trăng chiều lạnh lẽo như mảnh nước đá mỏng  trôi từ  từ đàng sau những làn mây xám như khói đốt đồng bay lên…”. Và cảnh sông đêm khi Ngạc kéo bè tre về : “ Mặt trăng từ đỉnh trời rơi  xuống gần  chấm  nguồn, con sông tối hơn, mặt trăng trông như  cửa sổ tròn ánh sáng của một ngôi nhà trong đêm, còn mây giống như búi tóc  đen kéo qua ” ( Chiếc bè chở nỗi đam mê). Ánh trăng và mây được nhân cách hóa như một qui trình giao thoa linh động.

Một cảnh trời sắp mưa :“ Xa xa mặt trời chín màu quả mận Trung Lương gần sụp xuống chân trời. Phía tây, đầu nguồn con kênh thủy lợi một đám mây hùng vĩ, to như quả núi. Bên trong đám mây chốc chốc sáng lòa như có ai bật bóng đèn ”. Và khi đôi tình nhân ngồi bên nhau trên bờ kênh thì cảnh trời trở nên sống động :“ Cặp thiên nga dìu nhau bay dưới một nền trời gợn lên sóng xà cừ, có những đám mây tụ lại lóng lánh như kết bằng những hạt ngọc trai ”, dùng câu tả cảnh trên để kết luận cho mối tình quê Lợi và Lài thành tựu. ( Tình yêu mùa nước nổi ).

Trong thời điểm căng thẳng của cảnh rượt bắt tù nhân vượt ngục ( Hoa ngày cưới ), tác gỉa còn ghi lại cảnh hoàng hôn thật lạ lùng, trải dài trên mười bảy dòng chữ trên máy vi tính :“ Hoàng hôn óng ả như một dòng mật men theo sườn núi đổ dồn về thung lũng. Mặt trời mùa hạ như một mảnh gương loang loáng từ từ rụng xuống sau đồi. Bóng tối trào dâng, bây giờ chỉ những đọt cây cao mới còn chút nắng chiều… Trăng rừng lạ lắm, trông nó to lớn dị dạng mọc rất gần khiến cho ta có cảm tưởng chỉ cần đưa tay vạch mấy tàu lá chuối rừng là đã có thể với tới mặt trăng. Trăng ở trong rừng trông không xa, không chơi vơi như trăng biển, màu nó đỏ một cách dị thường,  phần giữa mặt trăng trông loang lổ như bị sâu bọ gặm nhấm…”

Sáng ra tưởng mình trốn thoát, Kim ung dung đi qua cánh đồng về nhà, tận hưởng buổi sáng sớm mát lành mở ra trên cánh đồng đầy sương, tiếng dế, tiếng chim, mùi đất mùi hoa cỏ rộn ràng ngan ngát được tác giả mô tả tỉ mỉ như khuyến khích từng bước đi của người vừa được tự do. Và cảnh thứ ba, buổi sáng trời vẫn còn trong, mây vẫn còn trong : “ cơn mưa nhẹ làm cho gió mai dìu dịu như dải lụa phất phơ ”, tất cả như qua một đêm an lạc, hai người trên đường về trại với bước chân khoan thai như đi dạo, thỏa mái, thanh thản. Cảnh vật dù đẹp hay xấu, đen tối hay trong sáng cũng tùy tâm lý nhân vật mà thích ứng, một lối sáng tạo còn giữ được tính văn chương ít thấy so với một số nhà văn trẻ đương đại.

Không gian và thời gian trong truyện Qúy Thể không dẫn dắt chúng ta quay về thời quá khứ quá  xa xưa, cũng không mơ tới tương lai viễn tưởng, hầu hết đều phản ảnh hiện thực đời thường, mang hơi thở thời đại, không lý tưởng sâu xa, không cứu cánh cao siêu nhưng chân lý được chuyển tải không phải tầm thường, mặc dù hư cấu vẫn luôn mang tính chủ đạo trong phần nhiều những câu truyện.

Thế  gian, một trăm người tục một chục người thanh, thế giới đang nhiễu nhương thiên tai, thù hận, mỗi câu chuyện của Qúy Thể là mỗi đóng góp lời kêu gọi hướng thiện tình người giữa muôn vàn thiện ác, để biết yêu thương nhau trong cuộc đời lẽ ra phải tràn đầy tình thương và lòng nhân ái. Đó là những ấn tượng còn đọng lại trong tâm thức người đọc, không phải loại truyện chỉ để giải trí rồi quên. Đó chính là phong cách văn chương của nhà văn Qúy Thể. 












© Đăng ngày 31.03.2011 trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ Nha Trang
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .