Về U Minh

-  Thăm Lại Vùng Đất Của Nền Văn Minh “Miệt Thứ” -



1-Khái quát về U Minh – Cà Mau :

     Vùng rừng tràm ngập mặn U Minh nay là huyện U Minh tỉnh Cà Mau. Thị xã Cà Mau trước có tên là An Xuyên, ngày nay là thành phố Cà Mau. (Chính phủ công nhận là đô thị loại II ngày 7/8/2010). Toàn tỉnh rộng 5.211 km2 với trên 1.123.000 dân. Tỉnh gồm có một thành phố và sáu huyện, trong đó huyện U Minh có dân số thấp nhất : 81.000 người trong khi diện tích đất đứng vào hàng thứ tư của tỉnh : gần 758 km2. U Minh có U Minh Thượng (vùng trên giáp tỉnh Kiên Giang – Rạch Giá) và U Minh Hạ (vùng dưới giáp đất mũi) nằm dọc theo bờ biển của vịnh Thái Lan, lấy sông Trẹm và sông Cái Tàu làm ranh giới. Diện tích ruộng lúa 130.513 ha. Diện tích nuôi thủy sản 204.381 ha. Diện tích vườn 8.334 ha và diện tích cây công nghiệp 33.591 ha.

       Nói đến huyện U Minh tỉnh Cà Mau là nói  đến rừng tràm và lau sậy, có đến 100.600 ha. Phương dao sau đây cho thấy cảnh quan vùng đất mũi này vào thời trước :

U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường      
Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai ?

hay :  

                   

Má ơi, đừng gã con xa      
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu !
 

Thơ ca Cà Mau còn lưu truyền nhiều loại đặc sản nghe qua rất hãi hùng :      

                      

Cà Mau là xứ quê mùa       
Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu !     
Cà Mau khỉ khọt trên bưng         
Dưới sông sấu lội, trong vườn cọp um.

       Trong sách “Đồng bằng sông Cửu Long hay là Văn minh miệt Vườn” xuất bản năm 1970, cố nhà văn Sơn Nam đã gọi là vùng đất lục tỉnh nằm phía trên và phía dưới hai sông Tiền, sông Hậu thuộc đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành nên một nền văn minh mới – văn minh miệt vườn. Phương dao Nam Bộ có câu :

Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh.

2-Từ  “miệt vườn” đến “miệt thứ “:

     Cố mhà văn Sơn Nam còn cho rằng khu vực Cà  Mau gồm có U Minh và đất mũi là “miệt thứ”. Trên hai trăm năm trước (1869), người dân ngũ Quảng theo chân Kinh lược sứ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào lập nghiệp ở vùng đất Đồng Nai (Biên Hòa), Gia Định (Sài Gòn) làm nên địa danh Miệt Trên (Đàng cựu) để phân biệt với “Miệt Dưới” (Đàng tân) đối với sông Cửu Long. Trước đó nữa, trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh vào thề kỷ thứ 15-16, nước ta chia hai miền : Đàng Trong và Đàng Ngoài.

       Nhà văn Sơn Nam không xác định “văn minh miệt vườn” xuất hiện từ thời gian nào. Thế  nhưng qua nghiên cứu, chúng ta nhận thấy rằng đường giao thông là điều kiện tạo nên sự phát triển về kinh tế, từ đó đời sống văn hóa – xã hội được nâng lên theo.

      Đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho được thiếp lập năm 1883 đã góp phần đắc lực cho nền văn minh này sau hệ thống đường liên tỉnh số 4 (nay là quốc lộ 1 A). Các con kinh chính Xà No, kinh Xáng, kinh Ngã Bảy, Ngã Năm đào trong những năm 1901-1908 đã làm cho khu vực thuộc khu tứ giác Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng phát triển nhanh chóng.

      Như vậy, “Văn minh miệt vườn” của Sơn Nam là khu vực Tiền giang và Hậu Giang, tuyệt đối không có U Minh – Cà Mau. Ông đã giải thích “Miệt U Minh” chưa khai thác vì thiếu nhơn công, thiếu phương tiện kỹ thuật. Theo ông, trước năm 1945 gọi tên U Minh chưa có từ “rừng” ghép vào. “U Minh nghĩa là tối và mờ, u u minh minh, cõi U Minh là cõi âm phủ ! Ở đây, cây cỏ dày bịt (U Minh hạ), nước ngập linh láng, đất quá thấp, trước kia gọi là Láng Biển hay Láng U Minh” (Sđd trang 19).

      Địa danh “Chắc băng”, “Cạnh đền” còn lưu lại tới ngày nay, trở thành con kinh Chắc Băng và kinh Cạnh Đền đều có liên quan tới vùng đất mới của triều đình nhà Nguyễn sơ tán lúc ban đầu. Chính đoàn tùy tùng tẩu quốc của chúa Nguyễn đã trụ lại “đóng đô” ở Thới Bình một thời gian. Ngày nay, thị trấn Thới Bình (thuộc huyện cùng tên ở phía Bắc của tỉnh Cà Mau giáp với tỉnh Kiên Giang và Bạc Liệu) còn lưu lại một số nhà cổ, tương tợ một góc phố cổ Hội An. Tên gọi “Chắc băng” là ý nghĩa câu nói của Nguyễn Ánh trong cơn bệnh nặng cảm thấy mình khó qua khỏi cái chết. “Cạnh đền” là nơi cao ráo nằm gần kề “đền vua” được chọn làm chỗ để an táng một công nương qua đời. Một lời nói của vua thời phong kiến coi như lời vàng ngọc được mọi người nhắc tới và trở thành địa danh cổ.

      Đối với vùng Cà Mau - U Minh, Thới Bình là một thị tứ phồn hoa với nhà cửa, phố xá, dân cư đông đúc, đời sống kinh tế - xã hội khá nhất trong vùng. Theo nhà văn Sơn Nam, trong hai năm 1853-1854 nơi đây quy tụ trên 5.000 dân đinh đến từ Trung, Bắc nước ta.

      Có lẽ, dân cựu trào thời Nguyễn Ánh tẩu quốc còn lưu lại đây lập nghiệp đã lôi cuốn dân cư mới láng diềng của mình nên người Thới Bình trong đó phụ nữ có truyền thống và máu huyết của dân đất Bắc và di dân người Hoa của dòng dõi Mạc Cửu nên có trình độ văn hóa và đời sống xã hội cao hơn so với dân cư trong khu vực, đặc biệt về con người, phụ nữ được hình thành nên dáng vẻ và màu da có nổi trội hơn dân địa phương thuộc chủng tộc Indonesien – Mã Lai – Nam Đảo (căn cứ một số cốt sọ cổ đào được ở Cạnh Đền - 1944) gần gũi với dân tộc Tây Nguyên và Khmer.

      Nhà văn Sơn Nam còn cho biết những danh sĩ miền Bắc, miền Trung đến đồng bằng sông Cửu Long thường ca ngợi vùng đất này không tiếc lời. Phạm Quỳnh tả  lại khung cảnh Tiền Giang (ông đi tàu thủy từ Mỹ  Tho đến Long Xuyên - VL), thi hào Tản Đà ca ngợi con cá tra và cái thú ngồi ca nô trên sông Cửu Long ở vùng Cao Lãnh. Vào năm 1927, thi hào Phan  Khôi đã lưu lạc đến tận ven rừng U Minh – nói rõ hơn là vùng Tân Bằng, trên sông Trèm Trẹm, con sông ranh giới của U Minh thượng (đất cao) và U Minh hạ với dãy rừng tràm cầm thủy, mũi Cà Mau. Phan Khôi tả lại vùng Tân Bằng (U Minh hạ), Cán Gáo (U Minh thượng) ghê rợn, nào khỉ, nào sấu, nào rắn độc. Sông Trèm Trẹm được mô tả như sông Xích Bích bên Trung Quốc thời Tam Quốc, thi hào nhìn thực tế của đất nước đau thương vào năm 1927 mà ngâm nga…

      Trong thời kháng chiến chống Pháp, nhiều nhà thơ, nhà  văn yêu nước đã nghe theo tiếng gọi “sơn hà  nguy biến” vào chiến khu Cà Mau – U Minh hoạt  động cách mạng như Nguyễn Bính, Sơn Nam, Hà Huy Hà v.v..

3-Cuộc hành trình với nhiều cổ tích:

     Không ngờ chuyến đi về Cà mau của tôi lần này lại tới tận huyện U Minh, có dịp thăm các nơi trong thời kháng chiến như vừa nói nhưng ngày nay những nơi này đã đổi khác, hoàn toàn mới như  nhiều thị trấn, phố thị khác mà nền kinh tế thị trường của thời kỳ mới đã làm nên, làm thay da đổi thịt một U Minh không còn cảnh quan “muỗi kêu như sáo thổi” và “dĩa lội như bánh canh” nữa.

     Đoàn chúng tôi gồm đúng 20 người đi làm công tác xã hội – từ thiện, một kiểu hoạt động đang thu hút nhiều người có tâm, có tiền, có nghĩa vụ và ưa thích tham quan du lịch. Đoàn chúng tôi lưu trú ở Cà Mau – U Minh tới ba ngày làm các việc như sau : tặng một hệ thống âm thanh khuếch đại cho trường trung học cơ sở ở phường 4 thành phố Cà Mau, bàn giao một nhà công vụ cho các giáo viên tình nguyện dạy học ở vùng sâu vùng xa gồm bốn căn nhà cho trường trung học cơ sở ở xã Khánh Tiến, bàn giao ba nhà tình nghĩa cho ba đối tượng là Mẹ VNAH, gia đình liệt sĩ và thương binh ở xã Nguyễn Phích và khánh thành một cầu giao thông bê tông bắc qua kinh Bảy Tài thuộc xã Khánh Lâm.

     Trước năm 1945, đất Bạc Liêu bao gồm Cà Mau –  U Minh, vốn có hai sự kiện văn hóa –  xã hội khá độc đáo mà ai cũng biết  đến. Đó là nghệ sĩ Cao Văn Lầu với bài hát nổi tiếng “Dạ cổ hoài lang”, được coi là hoàng đế của bài ca vọng cổ  ngày nay và công tử Bạc Liêu, một hiện tượng xã hội thời Pháp thuộc, thời vàng son của những nhà bá hộ hay ông hàm mua chức mua quyền là những đại điền chủ có đất nhiều đến nỗi “cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi”.

     Từ chính sách thuộc địa tàn ác của thực dân Pháp đến lề lối làm ăn cướp công cướp của, cướp đất của các tay đại địa chủ tay sai cậy thế ỷ quyền đã gây nên vụ án “Nọc nạn” năm 1910. Nọc nạn là một cánh đồng thuộc xã Phong Thạnh huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu không xa với Cà Mau. Ngày nay, ai qua Nọc Nạn tại ngã ba vàm Cá Rô đều xót xa khi nghe chuyện kể về cuộc chém giết đẩm máu không cân sức của một gia đình nông dân nghèo mạt bị tên điền chủ ác độc cấu kết với thực dân Pháp cướp ruộng, cướp lúa đưa đến bước đường cùng phải liều mạng chống lại và tất cả đều tử vong và sau đó nhiều người thân khác còn bị tù đầy nhiều năm. Biến cố này tuy chỉ xảy ra trong một ấp, một xã nhưng nó có tác động rất lớn liên quan tới thực dân kết cấu với phong kiến và địa chủ đàn áp, hãm hại, bần cùng hóa nông dân chân lấm tay bùn, nghèo xơ nghèo xác, nó tiêu biểu cho cuộc nổi dậy tự phát của nông dân chống lại nạn cướp nước, cướp đất của thực dân Pháp và tay sai.

4- Cà Mau với khu Vườn quốc gia quý hiếm :

      Thành phố Cà Mau nằm ở vị trí  có mối nối với bốn con sông lớn : sông Ông Đôc, sống Cái Tàu, sông Gành Hào và kinh Xáng Bạc Liêu  – Cà Mau, kinh này được đào để lấy  đất xây dựng tuyến đường độc đạo thuộc  đoạn cuối của QL 1A từ Bắc tới Nam của Tổ  quốc. Ra khỏi thành phố Cà mau một đoạn thì gặp sông Ông Đốc từ vịnh Thái Lan chảy vòng lên phía Bắc huyện U Minh nhập chung với sông Cái Tàu cũng từ Thái Lan đổ vào từ hướng Tây của U Minh. Song song với sông Cái Tàu có sông Trẹm cách nhau vài chục km làm ngăn cách U Minh hạ với U Minh thượng. U Minh thượng chạy dài tới huyện An Biên, An Minh và Vĩnh Thuận tỉnh Kiên Giang. Rừng này được công nhận là Vườn Quốc gia năm 2002 với diện tích 8.055 ha. Tiền thân của nó là rừng úng phèn có tên là “Hồ rừng”. Khoảng giữa hai sông này có trên mười con kinh đào nhỏ thẳng tắp nối hai sông được đặt tên từ Zéro (số 0) lần lượt tới trên 10. Từ phía dưới sông Cái Tàu xuống tới sông Ông Đốc là rừng ngập mặn U Minh hạ trong đó có thị trấn U Minh được Chính phủ công nhận là Vươn quốc gia năm 2006 có diện tích 8.286 ha mà phần dưới giáp với huyện Trần Văn Thời rộng hơn 3.600 ha là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở tỉnh Cà Mau.

      Hệ động vật, thực vật ở khu vực trên  đang phục hồi khá tốt. Vườn có hơn 25.000 ha rừng đệm thuộc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập, lâm ngư trường U Minh 1, U Minh 3. Đây là  khu bảo vệ thiết yếu bảo đảm cho sự phục sinh của các giống loài đặc hữu của hệ sinh thái ngập nước với nhiều loại được ghi trong sách đỏ của Việt Nam như rắn hổ mang chúa, tê tê, rái cá lông mũi … và còn được coi là một bảo tàng sinh thái sống về các loài thực vật thuộc hệ sinh thái ngập úng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Cả hai khu rừng hiện có gần 250 loài thực vật trong đó có  loài ưu thế như tràm, móp, mật cật, nhiều loải dương xỉ, tảo, nhiều loài cá có giá  trị khoa học và kinh tế như cá bông, sặc rằn, sặc bướm, trê vàng, thác lác…, hơn 10 loài bò sát và lưỡng thê quý hiếm như chàng hiu, trăn gấm, kỳ đà, cá sấu, rùa vàng, cần đước, nhiều loài rắn..., có 182 loài chim, hơn 40 loài thú, nhiều loài côn trùng. Từ đó tỉnh Cà mau đã quy hoạch Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh hạ với quy mô 1.708 ha, trong đó có công trình vui chơi giải trí, khu văn hóa truyền thống, tái tạo làng rừng, khu ẩm thực dân gian, nhà nghỉ truyền thống, khu nuôi thú và bến bãi câu cá. Đây cũng là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống lịch sử cho các thế hệ bởi trong hai cuộc chiến, rừng U Minh là chiến khu kiên cường, anh dũng đã góp phần rất lớn vào chiến thắng giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước thân yêu sau hàng trăm năm mở đất, trong đó gần trăm năm bị đô hộ bởi các nước phương Tây.

      Như đã trình bày ở phần trên, Cà Mau là vùng tân lập so với công cuộc khẩn hoàng lập ấp của sự nghiệp mở đất phương Nam từ thời kỳ đầu nhà Nguyễn. Sự nghiệp mở đất phương Nam khởi đầu là của Nguyễn Hoàng theo lời tư vấn bí hiểm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm :”Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” và tiếp nối suốt 9 đời chúa Nguyễn mà chúa Nguyễn Phúc Khoát (Chúa thứ 8) có công đầu cử Kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh vào đất Gia Định tổ chức bộ máy hành chính đầu tiên cho miền Nam, Chúa Nguyễn đời thứ 9 là Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn truy bắt ở miền Tây đưa về sát hại ở Sài Gòn thì cháu là Nguyễn Phúc Ánh lên thay ngôi chúa, sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn đã lên ngôi vua thống nhất đất nước liền một dải như ngày nay và tiếp tục quy dân lập ấp ở miền Nam, nhất là vùng có nền văn minh miệt vườn và miệt thứ.

5-Cà Mau với nền văn học nghệ thuật mới :

     Thực dân Pháp chỉ là người đến sau, tiếp tục khai phá vùng đất U Minh- Cà Mau nhằm mục đích củng cố chính quyền đô hộ và khai thác  đầu tư đồn điền để hưởng lợi, làm giàu cho giới tư bản trong và nước ngoài, nhất là người Pháp. Tuy là vùng đất sinh sau đẻ muộn của Việt Nam, đất mũi vẩn có nền văn học – nghệ thuật khá độc đáo, trong đó có di tích Hồng Anh Quán và đình Tân Hưng. Nhà văn Sơn Nam quê ở Rạch Giá nhưng có nhiều năm sống trong khu căn cứ U Minh đã hình thành tập truyện ngắn nổi tiếng viết nhiều mẩu chuyện lý thú về đời sống xã hội, kinh tế của người dân địa phương “mộc mạc, chất phác, hiền hòa”, cuộc sống giản dị về ăn ở, ẩm thực. Đó là tác phẩm Hương Rừng Cà Mau (xuất bàn năm 1967) nói về những câu chuyện của dân quê thời kỳ 1930-1940 gồm có 18 chuyện rất đặc sắc mang tên nhiều địa danh như Hòn Cổ Tron, Miễu bà chúa Xứ, bắt sấu rừng U Minh hạ, sông Gành Hào v.v…

      Bài ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu” một thời nổi tiếng qua giọng ca ngọt ngào đầy chất liệu văn học trữ tình Nam Bộ của siêu danh ca Út Trà Ôn quê ở Vĩnh Long (thuộc vùng đất của văn minh miệt vườn) đã mang đến cho đồng bào mê cải lương biết đến mối tình trai trẻ đầy chất thơ lãng mạng của vùng sông nước Cà Mau (vùng văn minh miệt thứ) như phần mở đầu bài ca giới thiệu :”Chiếu Cà Mau đem bán ở sông Ngã Bảy…”

      Trước thời kỳ đổi mới năm (1986) có tiểu thuyết gây nhiều tiếng vang và lúc đầu bị cấm phát hành, có tên Cù lao Tràm. Sau đổi mới gần đây có tiểu thuyết Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư cũng gây xôn xao dư luận một thời và bị chính quyền Cà Mau cấm phát hành nay được lên phim. Nhưng nổi tiếng nhất vùng đất mũi có một nhân vật đời thường mang tính chất văn học dân gian khá cao nhưng có những sáng tác mang tính truyền khẩu huyền thoại độc đáo trong dân gian được công nhận là nghệ nhân tên Ba Phi có tên thật là Nguyễn Ngọc Phi (1884-1964), người tỉnh Đồng Tháp, làm ăn cư ngụ ở huyện Đầm Dơi và qua đời ở rừng U Minh Hạ nay là huyện U Minh. Khu nhà và phần mộ của Ba Phi được xây dựng thành tuyến du lich văn hóa của tỉnh Cà Mau.

     Người đời thường gọi tên “Bác Ba Phi” thuộc lớp hậu duệ của những tiền nhân đi khai mở  đất rừng U Minh. Cả quãng đời mà đặc biệt là thời tuổi trẻ của bác Ba Phi là quá trình khai phá đất rừng U Minh nguyên sinh, vốn rất hào phóng mà cũng rất khắc nghiệt. Với tinh thần khai phá, tính lạc quan yêu đời, thế giới quan của ông hiện ra thật sinh động và đáng yêu. Nhựng chuyện kể của ông, truyện nào cũng mang lại cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái, mượt mà âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, đồng thời nó còn ẩn chứa tính hào hiệp của người đi mở đất, tính đặc trưng Nam Bộ, lòng yêu nước, yêu thiên nhiên và yêu con người.

     Những chuyện kể của ông không có văn bản, không ai ghi chép lại và chỉ là truyền miệng nhưng có đầy đủ hình thức cấu trúc văn học : có mở đề, có thân bài và kết thúc đầy đủ gần như một truyện ngắn, tiểu thuyết có chương hồi rút gọn. Chuyện kể của ông cốt đề mua vui, chọc cười mang tính trào lộng ở nơi có thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống khó khăn, con người bị bó rọ ở miệt “khỉ ho cò gáy” thiếu nhiều điều kiện sinh hoạt cần phải “cười” cho hả hơi như văn hào Nguyễn Văn Vĩnh từng viết “Cười khì một tiếng là quên hết mọi sự đời”. Chuyện cười để mua vui dù là dóc tổ và khoác lác nhưng rất có ý nghĩa dân gian và nhất là lôi cuốn, hấp dẫn khiến người nghe say mê và tin như thật. Một số chuyện kể ngắn gọn mang tính trào phúng cao như : Nếp dẻo, Cọp xây lúa, Câu ếch…(Theo Wikipedia). 

6-U Minh, cảnh quan và con người đương thời:

Đoàn công tác của chúng tôi được chia làm ba nhóm, mỗi nhóm có 6-8 người gồm chủ lẫn khách, để  đi ca nô tới các địa điểm bàn giao các công trình. Nhóm của tôi may mắn được tới dự lễ  bàn giao và khánh thành cây cầu giao thông bắc qua kinh ông Bảy Tài, một kinh tẻ của kinh lớn có tên kinh Biện Nhi trên địa bàn ấp 4 xã Khánh Lâm. Kinh này nằm khoảng giữa của thị trấn U Minh với bờ biển vịnh Thái Lan, đi ca nô phải mất hơn nửa giờ. Sau đó, nhóm được ông Phó Chủ tịch huyện hướng dẫn nên có dịp chạy ca nô thẳng ra biển khơi thuộc vịnh Thái Lan để tham quan. Cửa sông là một làng chài với đông đảo ghe đánh cá vừa đang neo đậu ở hai bên bến có chiếc vừa đang ra khơi và trở về. Một trạm biên phòng trấn ngay vàm (cửa biển – cửa sông). Ông Phó huyện phải gọi điện thông báo cho trạm biết trước nên ca nô của chúng tôi mới tự do chạy thẳng ra biển và lượn một vòng thoải mái ngoài khơi trong vịnh Thái Lan. Mênh mông trời nước, vô cùng ngoạn mục và thú vị với gió biển trong lành, sóng biển lao xao dưới ánh nắng của buổi sáng đẹp trời ở vùng cực Nam Tổ quốc.

Bờ biển phía vịnh Thái Lan thẳng tắp một đường từ Nam tới Bắc tức từ mũi Cà mau tới cửa sông Cái Lớn của huyện An Biên (Rạch Giá). Theo ngành địa chất, bờ biển phía Tây Cà Mau chạy dọc theo rừng ngập mặn U Minh là đường nứt gãy sâu nên không có bãi bồi như bên biển Đông và biển phía Nam đất mũi. Ở khu đất ngay trước cửa sông có một tượng đài tưởng niệm đồng bào tử nạn trong trận bão quét Linda (số 5) năm 2007 làm thiệt mạng trên 120 ngư dân, vài trăm tàu đánh cá kẹt ngoài khơi bị chìm và mất tích cùng với trên một ngàn người khác. Tổng thiệt hại cả khu vực trị giá trên 5 ngàn tỷ đồng, trong đó nguyên cả một phần doi đất khoảng vài ha có nhà cửa, vườn cây và cơ sở hạ tầng bị sóng biển cuốn mất tích. Hiện nay, cửa sông Biện Nhi bên trái bị khuyết mất một lõm lớn chưa được bồi lại trong nhiều năm qua.

Ngày nay, sau khi những chiếc cầu dây giăng đồ sộ  hiện đại như Mỹ Thuận, Cần Thơ, Rạch Miễu cộng với đường cao tốc Sài Gòn – Mỹ Tho thông qua xa lộ Đông Tây và đường Nam Sài Gòn hoàn thành thì việc đi lại khắp đồng bằng sông Cửu Long không còn là vấn nạn đáng quan tâm. Nhiều tuyến tham quan khám phá, du lịch sinh thái, nếm hương vị cây trái miền Tây, thưởng thức ẩm thực dân gian nhiều lọai đặc sản của từng vùng và nghe đờn ca tài tử v.v… du khách trong ngoài nước đều thích thú đầy ngưỡng một vùng đất có nền văn minh miệt vườn và miệt thứ đầy kỳ thú, thi vị và hiếu khách.

Mùa Giáng sinh 2010


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 20.12.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .