Tôi
rất ít khi làm thơ, làm thơ tặng một ai đó càng hy hữu
mặc dù trách nhiệm công việc của tôi làm Biên tập viên
Ban thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, phải thường
xuyên tiếp xúc với bản thảo thơ. Nhưng một điều khá
lạ lùng là trong đời sống, tôi luôn giao lưu và thân thiết
với các nhà thơ (hay là trong văn học nghệ thuật họ luôn
là số đông chăng). Dẫu sao mặc lòng, tôi vẫn cho rằng
trong đời sống, nhà thơ thường có nhiều thời gian giao
đãi hơn những người viết văn xuôi, điều này tưởng
cũng chẳng cần thiết phải giải thích.
Ấy
thế mà, trong những bài thơ tặng bạn bè ít ỏi đến
xấu hổ ấy, từ rất lâu, cách đây khoảng hơn mười
năm, trong những bài thơ đầu tiên của mình, đã có một
thi phẩm viết tặng riêng nhà thơ Nguyễn Anh Nông.
Bè
bạn
Người
ta làm thơ đọc chốn phố đông
mình
anh ra đồng cầy cuốc
ruộng
mình vỡ vạc
đất
cằn nhưng nhức mồ hôi
Một
bàn tay anh một bàn tay tôi
mơ
xanh lá cỏ
một
chân trời anh một chân trời tôi
gầm
gào sóng gió.
Chợ
chiều chẳng họp mà tan
thương
ai chiếc là trầu vàng rụng rơi.
Xanh
tận chân trời
xanh
tận chân cỏ
con
cóc là cậu ông trời
sau
mưa mắt nhìn bỡ ngỡ
gốc
tre người chặt đi rồi
thương
anh ngồi khóc ông trời chẳng mưa.
Một
bước ngỡ tới đâu
cánh
buồm nâu nhòe nắng
khô
rồi về đâu
hoa
lau bời bời trắng.
Chén
nào không cay đắng
ngang
mày trao nhau
đêm
tàn anh rót một câu
thơ
khuya chớm đã xanh màu phù sa...
Bài
thơ được in báo, cùng với một số bài thơ khác nữa,
bè bạn nhiều người cho rằng tôi có khả năng làm thơ,
chuyện sẽ bàn sau.
Trong
gần hai mươi năm thân thiết với anh, tôi nhận thấy trái
tim anh là một trái tim dành cho thơ đích thực. Điều này
không dễ nhận ra đâu, nhất là trong ngày hôm nay, ngày
mà các vấn đề về văn học nghệ thuật, đặc biệt là
thơ đang hết sức khó nhận diện. Thơ dở trèo lên, la
làng, phách lối, úm ba la khiến những người viết chân
chính không khỏi thở dài ngán ngẩm. Đông, rất đông các
nhà thơ tưởng chừng như được sinh ra để làm thơ một
cách bất tận và bất cẩn xúm xít tuôn ra những vần thơ
vô lối không hiểu để làm gì trong khi thực ra thơ đích
thực hoàn toàn khác. Đến mức, một nhà phê bình phải
thốt lên: Thế quái nào, bây giờ ở ta ra ngõ gặp nhà
thơ. Tôi sợ các bố các mẹ ấy lắm. Có người còn thẳng
thắn Họa thay làng xóm nhà mình/ Cả làng leo
lẻo thơ tình như ranh. Bản thân các nhà thơ luôn
bị chế diễu trên các phương tiện thông tin đại chúng
hoặc các phim truyền hình thì luôn phải trong vai nhí nhố,
dở ông dở thằng, dở hơi, là những nhân vật gây cười.
Thơ thì sao? Thơ bị từ chối ở khắp nơi. Thơ như dịch
hạch gây sợ hãi cho chính những người yêu thơ nhưng cũng
vô cùng lạ lùng là các nhà thơ quần chúng, các câu lạc
bộ thơ vẫn không ngừng phát triển, cứ như là thách thức
một cái gì đó.
Những
nhà thơ đích thực chắc chắn là rất đau lòng.
Nguyễn
Anh Nông là một người như vậy. Anh đã từng tuyên ngôn
trong thi phẩm Tha hương: Một bước ngỡ tới
đâu/ Ngàn vạn bước chửa tới mình/ Ta như kẻ tập
đi với đôi chân bé bỏng/ Đường
đời dài rộng/ Đường tình chông chênh/ Phận mình lênh
đênh. Thăm thẳm đèo mây hun hút gió/
Đăm đắm bàn tay đá cỏ/ Đường cực lạc vinh quang
đâu tá/ Bao ngựa xe gục ngã ven
đường/ Ta/ Một kẻ tha hương/ Kẻ tha hương lầm lỗi/
Giá áo túi cơm đổi nửa cuộc
đời/ Nay trở về bái vọng quê hương/
Ôi buồn nhất/ Người thân ta ngoảnh mặt/
Đời tha hương ngay ở trái tim mình (Tha hương).
Nguyễn
Anh Nông mang hồn vía của một thi sĩ từng trải những
đớn đau mất mát tột cùng trong đời sống. Cũng có lúc
anh ngoa ngôn phóng dụ nhưng sự thật dưới mặt đất vẫn
luôn cám dỗ anh hơn. Anh đến với thơ tự nhiên và thảng
thốt cứ như thể không đến với nàng sẽ chẳng có chùa
nào để anh tu dưỡng tâm tính. Anh có nhiều câu thơ, bài
thơ khỏe khoắn và vạm vỡ nhưng những đột khởi khiến
người đọc sửng sốt thán phục lại là những bài thơ
ngắn, thậm chí là cực ngắn Hai chàng từng là
địch thủ/ Choảng nhau có lúc mẻ
đầu/ Bây giờ xanh hai nấm đất/ Khói hương thi thoảng
thăm nhau (Cảm tác). Nếu mình không dám
đi xa/ Câu thơ suông chẳng thiết tha mặn nồng/
Đã không có lửa trong lòng/
Đừng mơ hái một cành hồng tặng ai
(Lửa và hoa). Cóc tía cóc vàng/ Hiển hiện sự hiền
minh thông tuệ/ Các ngài uy nghi ngạo nghễ/ Mắt chớp chớp
lim dim ngán ngẩm nhìn giời/ Ngày các ngài hóa
đá/ Lũ nòng nọc loi nhoi/ Cháu con ca bai ca cũ/ Bạc như
vôi (Cóc). Đồng bạc/ Là bông hồng/ Cũng có thể
là cái gai. Đồng bạc/Không là nước/ Mà bao kẻ
đắm chìm. Đồng bạc/ Không là gió/ Mà hất em xa tôi
(Đồng bạc). Chiều/ Hai đứa trẻ/ Vật nhau trên cỏ/
Chỉ vì một con dế cụ. Đêm trăng tỏ/ Hai người lớn
tuổi/ Rì rầm trên cỏ/ Chỉ vì một
đứa trẻ con (Trên cỏ). ừ nhỉ, anh yêu em/ Yêu em
mãnh liệt/ Yêu tao tác đất vùi cỏ lấp/ Những
đứa con lừng lững với đời
(Yêu em).
Nguyễn
Anh Nông làm thơ từ chính những gì anh cảm thấy trong cuộc
sống. Thơ anh phản ánh đầy đủ và chân thực cá tính
cũng như nhân cách của anh, một người thâm trầm, độ
lượng nhưng cũng luôn riết gióng với văn chương chữ
nghĩa. Trong thơ anh, những hình ảnh, sự việc, ý tứ, ước
mơ và đặc biệt là cách triển khai chúng bằng chính những
chữ mà anh thuộc nhất, giày vò anh nhất nên hiệu quả
thẩm mĩ từ đó mang lại cũng như sức ngân vọng loang
xa là lớn. Anh có những câu, những chữ thần tình nhưng
vỏ ngoài vô cùng giản dị Nhoi nhói trong xương thịt
anh/ Hau háu đàn kiến đói
(Linh cảm). Thế giới có khuôn mặt khác/ Ngươi là thánh
thần/ Ngươi là quỷ ác/ Trái tim ngươi bỏng hơn mặt trời
(Đối thoại cùng mây bay). Em cứ
đuổi theo anh như hình với bóng/ Ta thành người cổ
điển lúc yêu nhau (Thơ tình lính biển). Nhà thơ bỏ
thơ đi viết báo/ Rồi hết đời vẫn cứ tay không
(Trâu ơi).
Thơ
Nguyễn Anh Nông có một mảng lớn dành cho đồng đội.
Không chỉ những người đang sống mà cả những người
đã khuất, đặc biệt là những người đã hy sinh. Không
chỉ với những người chiến thắng, những tướng tá được
vinh thăng mà là cả những người phía bên kia, những bà
mẹ, những người vợ mỏi mòn sau cuộc chiến. Trong cung
bậc tình cảm của mình, nỗi đau nhà thơ thậm chí sâu
hơn nỗi đau của người trong cuộc. Vốn nhạy cảm, trái
tim thi sĩ Nguyễn Anh Nông rỉ máu khi viết về những đắng
cay, thiệt thòi của người phụ nữ sau chiến tranh Có
chồng con bỗng tay không/ Đắng cay
đời chị long đong phận tình/ Sớm khuya thui thủi một
mình/ Nhà ai bát đũa ngọt lành rau dưa... Nhớ ngày giỗ
anh tôi về/ Chị ngồi gõ mõ thầm thì hư vô.../ Chị
ơi! Chị đáp: Nam mô!/ A... di...
đà... Phật... sững sờ bóng quen (Cõi thu).
Nguyễn
Anh Nông có một thế mạnh mà không phải ai cũng biết là
mảng thơ viết cho thiếu nhi dầy dặn phong phú với cách
thể hiện hấp dẫn mà soi chiếu và đấy sẽ mở ra nhiều
điều bổ ích từ tư duy hồn nhiên, trong trẻo Xưa anh
trống đi dậy học/ Việc nhà có chị mái mơ/ Chị gánh
bao nhiêu khó nhọc/ Anh trống hồn nhiên vô tư/ Chị mái
đêm qua cáo bắt/ Để lại đàn con măng tơ/ Anh trống vào
ra lộc ngộc/ Cái dáng cao gầy lắc lư... Ngày ngày anh trống
lên lớp/ Cái dáng buồn đau thẫn thờ/ Dậy học trò thầy
quên hết/ Chỉ nhớ vần ò...
ó... o... (Thầy giáo gà trống) Mèo dạy hổ tập võ/
Hổ học rất hăng say/ Ngỡ đã giỏi hơn thầy/ Hổ giở
trò, thử miếng. Hổ nhe nanh, giơ vuốt/ Vồ hụt sư phụ
mèo/ Sư phụ - người biết trước/ Giấu mánh nghề, mang
theo/ (Truyền cho trò tất cả/ Chỉ giữ
miếng trèo leo). Trên cây cao nhìn xuống/ Sư phụ mèo cười
vang/ Hổ run rẩy, luống cuống/ Toát mồ hôi, bẽ bàng.
(Mèo và hổ). Thấy anh Nhện nhảy dù/ Kiến con khâm phục
lắm!/ Một sáng sớm tinh mơ/ Kiến vừa
đi vừa nhẩm: - Một... hai... ba... trèo cây/ Bốn... năm...
sáu... nhảy xuống/ Bảy... tám... chín... bay bay/ Chao
ơi, là... sung sướng. Vừa nói kiến vừa làm/
Đôi chân run lẩy bẩy/ Trèo lên
được ngọn cây/ Kiến loay hoay, luống cuống. Trèo lên,
đã khó rồi/ Nhảy xuống đâu có dễ?/ "Học
đòi... cha mẹ ôi!?"/ Kiến kêu la
ầm ĩ. (Kiến con học nhảy dù). Nhong nhong nhong nhong/
Bé cưỡi nhựa hồng/ Ngựa phi nước
đại/ ở trong căn phòng/ Nhong nhong nhong nhong/ Ngựa phi ra
phố/ Xe cộ tránh xa/ Nhỡ què ngựa gỗ/ Ngựa phi hăng quá/
Hất bé té nhào/ Đã là kỵ sỹ/ Chẳng thèm nhè
đâu (Kỵ sỹ ngựa gỗ).
Nhưng
đến những vần thơ sau cũng là viết cho thiếu nhi thì
tôi, bạn đọc của anh, đồng nghiệp của anh bỗng bàng
hoàng Mướp mới nhú mầm/ Giàn ai
đã dựng/ Giàn cao sừng sững/ Mướp bé tèo teo/ Ngày tháng
trôi vèo/ Mướp cao cao mãi/ Mướp
cao cao mãi/ Phủ xanh mặt giàn/ Mướp bèn nhâng nháo/
Ăn nói vênh vang/ Rằng ta cao lớn/ Thấp sao cái giàn...
Mảng
thơ thế sự của Nguyễn Anh Nông cũng rất dầy dặn và
khu biệt. Thế sự của Nguyễn Anh Nông là một thế sự
ngổn ngang nỗi đau, những bất cập, vô lý thậm chí cả
những tai ách trái khoáy của cuộc đời. Sự thật bao giờ
chả ngổn ngang ngang trái. Vấn đề là trước những sự
thật ấy, ứng xử của tư cách nhà thơ, tư cách công dân
ra sao mới là điều cần bàn. ở cái ranh giới sợi tóc
chẻ tư ấy, nếu không có một tấm lòng bao dung, cái tâm
trong sáng và cả tài năng nữa sẽ dễ nghiêng về những
oán thán, khinh khi, thù vặt mà quên mất chức năng cao quý
của người cầm bút. Nguyễn Anh Nông là người đã vượt
qua được cái lằn gianh sợi tóc ấy một cách bản lĩnh
bằng sự chiêm nghiệm của mình.
Nguyễn
Anh Nông viết không nhiều nhưng thơ anh luôn neo được ở
trong lòng độc giả. Anh đã in các tập Bàn tay lá cỏ,
Tập I - NXB Văn học năm 1993; Bàn tay lá có,
Tập II - NXB Văn học năm 1995; Kỵ sĩ ngựa gỗ,
Thơ thiếu nhi - Sở Văn hóa Thông tin Hòa Bình năm 1998;
Mây bay, Tập thơ - Sở Văn hóa Thông tin Hòa Bình;
Những tháng năm ở rừng – NXB Quân đội Nhân dân 2005
và gần đây là Trường ca Trường Sơn - NXB Văn học
2009. Anh cũng là người rất sớm cập nhật Internet và các
tác phẩm thơ, trường ca của anh mau chóng đến được
với bạn đọc không riêng ở Việt Nam. Từ các hồi âm
khách quan đã cho thấy chỗ đứng vững chắc của thơ anh
với công chúng yêu thơ, điều này là rất khó khăn trong
buổi lạm phát thơ hôm nay.
Gần
đây, sự chiêm nghiệm và đằm chín đã càng khẳng định
ở ngòi bút đang tuổi sung sức nhất này. Anh đã đoạt
các giải thưởng trung ương và địa phương nhưng điều
quan trọng nhất là những người cầm bút đồng thời luôn
trân trọng anh là một nhà thơ, một thi sĩ đúng nghĩa.
Thơ anh ngày càng bỏ đi được những rườm rà không cần
thiết, những véo von mà đi thẳng tới những điều căn
cốt nhất làm lên giá trị thi ca đích thực, đó là sự
thức tỉnh lương tâm của con người.
Đã
vượt qua chặng đường dài với không ít khó khăn mà một
ngòi bút dễ tính sẽ ngộ nhận và gục ngã trong những
xưng tụng từ chính mình và cánh hẩu. Nguyễn Anh Nông,
người luôn tư duy độc lập trong nghệ thuật, người dấn
thân và trải nghiệm với những vần thơ, được độc
giả công nhận đang bước tiếp chặng đường của riêng
anh. Thơ anh ngày càng nhuần nhị, sâu sắc, hóm hỉnh và
minh triết.
_______________________________