321 TÁC GIẢ TRƯỜNG CA VIỆT NAM




I) LỜI DẪN CỦA TRẦN THIỆN KHANH:

“Đỗ Quyên và trường ca Việt Nam

Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, sự quan tâm đến nó, cả ở phương diện văn học sử lẫn lí luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ.

Cho đến nay mới chỉ có “Tuyển tập trường ca” (Nxb. Quân đội nhân dân, là cung cấp được cho độc giả một cái nhìn tập trung về văn bản thể loại này. Trong Lời nói đầu của tuyển tập đó các tác giả biên soạn nhận định: “Trường ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ (…) mười trường ca được tuyển chọn trong cuốn này (…) là những trường ca tiêu biểu cả về nội dung lẫn hình thức cũng như bối cảnh lịch sử tác phẩm ra đời”. Như vậy số lượng trường ca được chú ý ở đây còn ít, lại chủ yếu là các trường ca sáng tác trong khoảng 30 năm, tính từ Bài thơ Hắc Hải (1955) của Nguyễn Đình Thi đến Gọi nhau qua vách vúi (1987) của Thi Hoàng. “Vùng trường ca” đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này.

Nhìn từ những yêu cầu, đòi hỏi như thế, chúng tôi xin giới thiệu những nỗ lực tìm hiểu khái quát các “hiện tượng trường ca” từng xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Đỗ Quyên. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, chính anh cũng là một tác giả tiêu biểu trong việc tìm tòi thể nghiệm cách tân trường ca ở nước ngoài (đã sáng tác 13 trường ca, 5 bài thơ dài). Cuộc lục khảo và hệ thống hóa có quy mô lớn lần đầu tiên về các hiện tượng trường ca này có thể xem là cuộc đi khai vỡ thêm những miền đất mới đầy hào hứng của anh, đồng thời cũng là sự trở về vùng đất quen thuộc của người trong cuộc giàu tâm huyết. Hy vọng, sau dịp này, tác giả Đỗ Quyên sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt thành hơn nữa của nhiều tác giả, độc giả.” (vanhocquenha.vn 16/9/2010)

II) MỘT SỐ DANH SÁCH VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM THEO QUAN NIỆM MỚI:

Cùng tác giả và độc giả gần xa!

Đây đang là sơ khởi cho một đề tài không dễ dàng, và có lẽ là lần đầu tiên về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”.

Mời xem một số bài cần thiết gần đây về vấn đề trường ca nói chung và trường ca Việt Nam nói riêng:

-“Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt; Đỗ Quyên, Tạp chí Sông Hương, số 257, tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010)

- “Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại”; Phỏng vấn của Trần Thiện Khanh, Tạp chí Thơ số 11/2009, và vanhocquenha.vn 17/9/2010

- “Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại”; Diêu Thị Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2009, và vienvanhoc.org

- “Những thể loại văn vần có dung lượng lớn như là tiền đề của tư duy về hình thức”; “Các tiểu tự sự - các tác phẩm mang hơi hướng hậu hiện đại” (Trích bản thảo luận án); Diêu Thị Lan Phương, Đại học Quốc gia Hà Nội

- “Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam (Tóm tắt luận án); Nguyễn Thị Liên Tâm, phongdiep.net 3/9/2010

- “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”; Nguyễn Văn Dân, Tạp chí Sông Hương số 230, tháng 4/2008, tapchisonghuong.com.vn 16/4/2008

- “Đôi nét về trường ca những năm gần đây từ góc nhìn thể loại”; Lưu Khánh Thơ, vannghequandoi.com.vn 22/5/2010

- “Trường ca hôm nay viết về thời đánh Mỹ”; Nguyễn Thanh Tú, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 705 đầu tháng và 27 cuối tháng 12/2009, vannghequandoi.com.vn 4/1/2010

- Trường ca Việt, một cách nhìn...”; Yến Nhi, vanchuongviet.org 27/1/2010

- Tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái; Nguyễn Minh, viet-studies.info 15/6/2009

- “Thanh Thảo với trường ca”; Chu Văn Sơn, vietvan.vn

Nói về số lượng, kể từ thời Thơ Mới tới nay, con số chúng tôi đang có được là khoảng 321 tác giả Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài mang ý nghĩa tương đương trường ca, với tổng số 711 tác phẩm.

Một cách tương đối, có thể xem Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng Tiếng địch Sông Ô ra đời năm 1935, và mới nhất, vào tháng 9/2010, là Nguyễn Trọng Văn với Tổ quốc - đường chân trời (Nxb Quân đội nhân dân).

Các yếu tính nghệ thuật của thể loại để khu biệt “trường ca” giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lí luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới. Có lẽ, nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi - già xưa nhất, tươi lạ nhất - của Người Mẹ Văn Chương.

Bằng quan niệm mới về thể loại, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân loại không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, chúng tôi thử đề nghị một số tiêu chí, trong khi thành lập danh sách cũng như phân định, phê bình các tác phẩm liên hệ.

Với trường ca, và các loại hình tương tự (anh hùng ca, sử thi, ngâm khúc, diễn ca, trường thi…) thường không khó khăn lắm để nhận dạng qua cấu trúc và dung lượng, dù được viết theo khuynh hướng nào: cổ điển, hiện đại, hay hậu hiện đại. Riêng với thơ dài có tính trường ca – điểm mới của nghiên cứu này – quả là không dễ dàng định vị! Đến nay, trong tổng số 321 tác giả, có 248 tác giả trường ca và 73 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2 tác phẩm có tính trường ca. (Mời coi Danh sách 1a dưới đây).

Trong khi khảo sát, chúng tôi coi trường ca và thơ dài có ý nghĩa tương đương là các loại hình văn vần - trừ truyện thơ - mang dung lượng lớn với tính chất tự sự hay trữ tình, có hay không có cốt truyện, câu chuyện. Ở các sáng tác đó, tính trường ca được thể hiện hài hòa qua: Thể tài: mang tinh thần và nội dung không như của từng cá thể, hay giữa các cá thể, mà nâng lên giá trị cộng đồng trong một chủ đề nhân văn nhất định có ý nghĩa xã hội rộng lớn. (Đây nên được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật trường ca!); Cảm hứng: ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu; Giọng điệu và tư duy: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn; Cấu trúc và thủ pháp: thường sử dụng một số hình thức, kỹ thuật sáng tác của “trường ca chuẩn tắc” (chương/khúc/đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập, v.v…); Dung lượng: Khoảng 750 chữ trở lên (có thể ít hơn, tùy ý nghĩa từng bài).

Và chúng tôi mạnh dạn dùng một tên gọi mới, không mang tính thể loại mà có ý biểu tượng, như một sự “vinh danh”: Tiểu trường ca. Đó là các thi phẩm có: Dung lượng hơn một bài thơ bình thường; Thi pháp mang tính trường ca; Tác giả đã quen thuộc; Và nhất là, từng tạo tiếng vang trong dư luận xã hội và môi trường văn học, mang dấu ấn thời đại.

Do lấy tính trường ca làm đích, ở đây cũng phân biệt hai loại: thơ dài có tính trường ca và thơ dài không có tính trường ca.

Trong thời gian sắp tới, sẽ công bố những danh sách bổ trợ:

DANH SÁCH SỐ 1: TÁC GIẢ - TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM

DANH SÁCH SỐ 2: NHỮNG BÀI THƠ NHƯ LÀ "TIỂU TRƯỜNG CA" VIỆT NAM

DANH SÁCH SỐ 3: TÁC GIẢ THƠ DÀI TIÊU BIỂU VIỆT NAM

Ngoài một số ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi là các trang mạng; một phần vì hiếm có cơ hội cập nhật sách báo in ấn ở Việt Nam. Thành thật xin lỗi về thiếu sót, nhầm lẫn chắc sẽ có ở mọi mặt (tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản…), nhất là với các tác giả, tác phẩm trường ca đã xuất bản mà danh sách chưa có được!

Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp cũng như thông tin về tác phẩm, tác giả có tính trường ca Việt Nam. Các ý tưởng, thảo luận và bài vở thích hợp – khi được người gửi đồng thuận - có thể tham gia làm nội dung của cuốn sách dự tính mang tên “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”.

Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của các tác giả và độc giả, các thi sĩ và nghiên cứu gia, ở trong và ngoài nước, cũng như những báo chí, trang mạng đã và sẽ giới thiệu danh sách này. Xin ghi nhận tấm thịnh tình từ: Các bạn văn đầu tiên đã đọc và cổ vũ, như nhà lý luận-phê bình Trần Thiện Khanh; các nhà thơ Khế Iêm, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Đức Tùng; Các nhà thơ, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Anh Nông, Diêu Thị Lan Phương, Đặng Tiến Huy, Duy Phi, Nguyễn Trọng Văn, Trần Nhuận Minh, cùng nhiều tác giả, độc giả khác đã có những thông tin, trao đổi quý báu kể từ sau danh sách đầu tiên (7/7/2010) được công bố, mà đáng kể nhất là có được 30 tác giả cùng khoảng 50 tác phẩm nhờ tham khảo thống kê của nhà nghiên cứu-phê bình Mai Bá Ấn. Đặc biệt, nhà thơ Trần Quốc Minh đã nhiệt thành giới thiệu nhiều tác giả, công phu cung cấp các tác phẩm cần thiết, khi đại diện cho chúng tôi liên lạc với các tác giả ở Hải Phòng - một vùng đất sản sinh “trường phái thơ Hải Phòng”, trong đó có dòng trường ca đặc sắc với khoảng 26 tác giả mà cuốn sách sẽ dành sự quan tâm cần thiết.

Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên, email: truongcaviet@yahoo.com

Trân trọng

DANH SÁCH 1A

TÁC GIẢ TRƯỜNG CA VIỆT NAM

- Cập nhật 28/11/2010 -

(Tên in nghiêng: Tác giả chỉ viết thơ dài có tính trường ca)

  • Thụy An
  • Trần Xuân An
  • Duyên Anh
  • Đặng Nguyệt Anh
  • Hoài Anh
  • Vương Anh
  • Nguyễn Đình Ảnh
  • Việt Ánh
  • Nguyễn Lương Ba
  • Nguyễn Bá
  • Ngọc Bái
  • Lê Ngọc Bảo
  • Phan Thị Bảo
  • Nguyễn Nguyên Bẩy
  • Nguyễn Thị Bích
  • Nguyễn Thị Thanh Bình
  • Nguyễn Trung Bình
  • Lê Bính
  • Nguyễn Bính
  • Nguyễn Đức Bính
  • Nguyễn Trọng Bính
  • Thu Bồn
  • Nhã Ca
  • Thái Can
  • Hoàng Cát
  • Văn Cao
  • Đào Cảng
  • Hoàng Cầm
  • Huy Cận
  • Nguyễn Quốc Chánh
  • Trúc Chi
  • Nguyễn Việt Chiến
  • Phan Đức Chính
  • Vũ Thành Chung
  • Kim Chuông
  • Nguyễn Văn Chương
  • Vũ Hoàng Chương
  • Hoàng Trần Cương
  • Trúc Cương
  • Võ Bá Cường
  • Võ Tấn Cường
  • Đoàn Văn Cừ
  • Trần Dần
  • Miên Di
  • Nguyễn Đình Di
  • Xuân Diệu
  • Nguyễn Văn Dinh
  • Phạm Tiến Duật
  • Trương Thị Kim Dung
  • Lê Anh Dũng
  • Thế Dũng
  • Trần Tiến Dũng
  • Khương Hữu Dụng
  • Nguyễn Duy
  • Lưu Trùng Dương
  • Trần Trung Đạo
  • Lê Đạt
  • Văn Đắc
  • Hà Thanh Đẩu
  • Khuất Đẩu
  • Nguyễn Khoa Điềm
  • Trinh Đường
  • Nguyễn Hoàng Đức
  • Nguyễn Quí Đức
  • Kiên Giang
  • Lam Giang
  • Phan Trường Giang
  • Thái Giang
  • Đoàn Huy Giao
  • Hà Giao
  • Tế Hanh
  • Nguyễn Xuân Hanh
  • Thúc Hà
  • Nguyễn Hưng Hải
  • Phan Tấn Hải
  • Nguyễn Thị Lâm Hảo
  • Trần Mạnh Hảo
  • Phan Nhiên Hạo
  • Nguyễn Trung Hậu
  • Đặng Hiển
  • Trần Quang Hiển
  • Vũ Hiển
  • Ngọc Hiền
  • Nguyễn Tôn Hiệt
  • Nguyễn Hiếu
  • Ngọc Thiên Hoa
  • Đông Hoài
  • Trịnh Bửu Hoài
  • Nguyễn Chí Hoan
  • Lưu Quốc Hòa
  • Nguyên Hồ
  • Trần Ninh Hồ
  • Nguyên Hồng
  • Nguyễn Thị Hồng
  • Luân Hoán
  • Phan Hoàng
  • Thi Hoàng
  • Trần Nghi Hoàng
  • Xuân Hoàng
  • Đặng Tiến Huy
  • Nguyễn Thành Huy
  • Đinh Nho Huề
  • Cầm Hùng (Thái)
  • Đinh Hùng
  • Văn Công Hùng
  • Lưu Đình Hùng
  • Vũ Hùng
  • Vũ Trọng Hùng
  • Đặng Đình Hưng
  • Hoàng Hưng
  • Vũ Xuân Hương
  • Tố Hữu
  • Trần Công Hữu
  • Inrasara
  • Đỗ Kh.
  • Dương Tam Kha
  • Đào Anh Kha
  • Ngô Kha
  • Nguyễn Thụy Kha
  • Phùng Văn Khai
  • Trần Tuấn Khải
  • Nguyễn Minh Khang
  • Cao Vị Khanh
  • Vũ Anh Khanh
  • Cao Đông Khánh
  • Tạ Kim Khánh
  • Bích Khê
  • Nguyễn Minh Khiêm
  • Nguyễn Linh Khiếu
  • Trần Đăng Khoa
  • Trần Khoái
  • Dương Kiền
  • Huyền Kiêu
  • Trần Tuấn Kiệt
  • Đỗ Trung Lai
  • Nguyễn Thị Ngọc Lan
  • Yến Lan
  • Bàng Bá Lân
  • Huyền Lam
  • Nguyễn Viết Lãm
  • Mã Giang Lân
  • Mạnh Lê
  • Du Tử Lê
  • Văn Lê
  • Vĩnh Quang Lê
  • Tam Lệ
  • Nguyễn Gia Linh
  • Vi Thuỳ Linh
  • Viên Linh
  • Hữu Loan
  • Thái Thăng Long
  • Vân Long
  • Lê Xuân Lợi
  • Lưu Trọng Lư
  • Trần Lưu
  • Trần Vũ Mai
  • Thế Mạc
  • Nguyễn Đức Mậu
  • Lê Thị Mây
  • Dương Kiều Minh
  • Hồng Minh
  • Nguyễn Hữu Hồng Minh
  • Nguyễn Nhật Minh
  • Trần Quốc Minh
  • Trần Hồng Minh
  • Trần Nhuận Minh
  • Vũ Đình Minh
  • Nguyễn Thanh Mừng
  • Giang Nam
  • Liên Nam
  • Ngô Quang Nam
  • Đặng Ngọc Nga
  • Phạm Ngà
  • Nh. Tay Ngàn
  • Anh Ngọc
  • Lữ Huy Nguyên
  • Ma Trường Nguyên
  • Vĩnh Nguyên
  • Uyên Nguyên
  • Đào Nguyễn
  • Dung Nham
  • Nguyễn Quang Nhật
  • Nguyễn Hữu Nhật
  • Tô Nhuần
  • Trần Nhương
  • Vũ Đình Ninh
  • Nguyễn Anh Nông
  • Đỗ Xuân Oanh
  • Điền Ngọc Phách
  • Chu Ngọc Phan
  • Nguyễn Nhược Pháp
  • Mai Văn Phấn
  • Duy Phi
  • Ngô Văn Phú
  • Nguyễn Khắc Phục
  • Hoài Quang Phương
  • Lê Duy Phương
  • Nguyễn Bình Phương
  • Nguyễn Nhuận Hồng Phương
  • Trúc Phương
  • Trung Phương
  • Thái Viễn Phương
  • Viễn Phương
  • Việt Phương
  • Y Phương
  • Lê Huy Quang (a)
  • Lê Huy Quang (b)
  • Đỗ Trung Quân
  • Phùng Quán
  • Thường Quán
  • Phan Quế
  • Thanh Quế
  • Bùi Minh Quốc
  • Lê Anh Quốc
  • Lê Minh Quốc
  • Đỗ Quyên
  • Hoàng Quý
  • Nguyễn Hữu Quý
  • Phạm Thái Quỳnh
  • Xuân Quỳnh
  • Nguyên Sa
  • Trần Vàng Sao
  • Trần Hải Sâm
  • Huyền Sâm
  • Phạm Sỹ Sáu
  • Lê Ái Siêm
  • Lê Quang Sinh
  • Băng Sơn
  • Nguyễn Minh Sơn
  • Nguyễn Thái Sơn
  • Trịnh Sơn
  • Lê Vĩnh Tài
  • Ngô Văn Tao
  • Nguyễn Văn Tao
  • Nguyễn Trọng Tạo
  • Vương Tâm
  • Kiệt Tấn
  • Lê Đại Thanh
  • Tô Ngọc Thạch
  • Trần Anh Thái
  • Hoàng Chiến Thắng
  • Mai Nam Thắng
  • Trần Thị Thắng
  • Đặng Thân
  • Thanh Thảo
  • Lê An Thế
  • Nguyễn Đình Thi
  • Quỳnh Thi
  • Xuân Thiêm
  • Ôn Quang Thiên
  • Nguyễn Xuân Thiệp
  • Nguyễn Quang Thiều
  • Trương Thìn
  • Hữu Thỉnh
  • Huy Thông
  • Anh Thơ
  • Huệ Thu
  • Lê Anh Thu
  • Dương Thuấn
  • Sương Biên Thùy
  • Đinh Thị Như Thúy
  • Nguyễn Quang Thuyên
  • Phạm Thiên Thư
  • Nguyễn Đăng Thường
  • Trần Mạnh Thường
  • Nguyễn Vũ Tiềm
  • Nguyễn Trọng Tín
  • Nguyễn Quang Tính
  • Từ Nguyên Tĩnh
  • Nguyễn Khánh Toàn
  • Nguyễn Thanh Toàn
  • Thành Tôn
  • Nguyễn Hoàng Tranh
  • Trần Huyền Trân
  • Nguyễn Hương Trâm
  • Nguyễn Trác
  • Hưởng Triều
  • Đông Trình
  • Hoàng Bình Trọng
  • Vương Trọng
  • Nguyễn Xuân Trường
  • Phạm Xuân Trường
  • Phạm Công Trứ
  • Võ Văn Trực
  • Đỗ Minh Tuấn
  • Hoàng Anh Tuấn
  • Hoàng Ngọc Tuấn
  • Lê Nghĩa Quang Tuấn
  • Nguyễn Như Tuấn
  • Thanh Tùng
  • Minh Tuyền
  • Thanh Tâm Tuyền
  • Trần Dạ Từ
  • Lưu Xuân Tự
  • Dương Tường
  • Phạm Nguyên Tường
  • Vũ Xuân Tửu
  • Kiều Văn
  • Nguyễn Trọng Văn
  • Lê Thị Thấm Vân
  • Chế Lan Viên
  • Nguyễn Hữu Viện
  • Bùi Chí Vinh
  • Đỗ Vinh
  • Nguyễn Thế Vinh
  • Trần Thế Vinh
  • Tất Vinh
  • Ngân Vịnh
  • Lê Văn Vọng
  • Nguyễn Bùi Vợi
  • Anh Vũ
  • Lưu Quang Vũ
  • Phan Vũ
  • Tạ Vũ
  • Vũ Anh Vũ
  • Trần Hoàng Vy
  • Lê Anh Xuân
  • Lý Hoài Xuân
  • Tạ Hữu Yên
  • Ngu Yên
  • Tô Thùy Yên


  • [Trích bản thảo sách “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam]

    Vancouver – cập nhật 28/11/2010





    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản do tác giả gởi từ Vancouver - Canada ngày 30.11.2010.
    . Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.