Thành Quy - Gia Định
có vị trí “ở trong sông”
giống thành Thăng Long - Hà Nội



Mặc dù ngày nay đã trải qua nhiều vật đổi sao dời nhưng nếu khảo sát và nghiên cứu lại, ta nhận thấy thành phố Sài Gòn và thành phố Hà Nội có vị trí tương đồng gồm nhiều điểm khá giống nhau.

1/- Trước hết, vị trí trung tâm Sài Gòn có chợ Bến Thành. Chợ Bến Thành ngày nay chỉ là chợ mới được xây dựng thời Pháp sau khi hoàn thành công cuộc xâm chiếm Nam Kỳ.  Còn trước đó, chợ này nằm ở vị trí khoảng giữa đường Nguyễn Huệ xưa mà sau này là Tòa án quận 1 (nay là tòa nhà kính nằm ở ba mặt đường Nguyễn Huệ, Huỳnh Thúc Kháng và Tôn Thấp Thiệp). Bởi vì chợ này nằm bên bờ của một con kinh (nay là đường Nguyễn Huệ) chảy từ sông Sài Gòn, nơi bến tàu cánh ngầm vô tới đường Lê Thánh Tôn ngay trước trụ sở UBND thành phố hiện nay và chỗ này xưa là bờ thành Quy hay Bát Quái được Pháp xây theo kiểu Vauban theo yêu cầu của Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long sau này lên ngôi năm 1802) sau khi cầu xin viện binh nước Pháp để đánh quân Tây Sơn – Nguyễn Huệ gọi là “phục quốc” (trước đó là “tẩu quốc” lúc bị quân Tây Sơn đánh đuổi chạy xuống miền Tây rồi qua Xiêm cầu viện).

Về sau, chợ Bến Thành cũ (hay chợ cũ) bị cháy ở bờ kinh nói trên (thường bị sạt lở) nên được chính quyền đô hộ Pháp cho dời về vị trí như ngày nay (chợ mới, xây dựng năm 1911, khánh thành năm 1914). Cả đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi và đường Hàm Nghi đều là kinh bị lấp. Trung tâm thành Bát Quái thời Nguyễn Phúc Ánh là nơi mà ngày nay là nhà thờ Đức Bà. Còn vị trí cột cờ có thể giống như cột cờ (kỳ đài) ở thành Thăng Long xưa nay là thành phố Hà Nội bởi vì thành Hà Nội thời Pháp được xây giống như thành Quy (kiều Vauban). Như vậy, hai thành Sài Gòn và Hà Nội do Pháp xây đều giống nhau. Ngày nay cột cờ thành Hà Nội vẫn còn là biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Còn cột cờ thành Quy không còn dấu vết nhưng được đoán là ở vị trí ngày này là tòa cao ốc được xây dựng trên gò cao trong khuôn viên của Sở Giáo dục – Đào tạo cũ, bên hông công viên Chi Lăng. Kỳ đài xưa kia chắc chắn nằm ở sát bên trong tường thành và cạnh cổng chính của thành tức đường Đồng Khởi ngày nay và hào thành chính là đường Lê Thánh Tôn. Còn khu trung tâm của thành chính là nơi mà ngày nay là Bưu Điện thành phố và nhà thờ Đức Bà. Con đường chính của thành Quy chạy thẳng từ trung tâm ra cổng chính này là đường Đồng Khởi.

2/- Đặc điềm giống nhau chủ yếu là nằm trong hay giữa các dòng sông. Như ta thấy : Hà Nội phía bắc có sông Hồng, phía tây có sông Nhuệ, sông Tô Lịch chảy vòng từ tây-bắc xuống sang đông-nam và có thêm các sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét nằm ở giữa… Còn Gia Định - Sài Gòn – Chợ Lớn có sông Sài Gòn (Tân Bình giang) ở phía đông, hai kinh Tẻ, kinh Đôi và kinh Tàu Hủ chảy ở phía nam, phía bắc có kinh Thị Nghè – Nhiêu Lộc (Bình Trị giang), xa hơn là kinh Rạch Cát và Tham Lương, phía tây có kinh Lò Gốm, Tân Hóa chạy dọc theo lũy bán bích (nay là đường) tới Bà Quẹo.

3/- Nếu Hà Nội có sông Nhị núi Nùng (sông Nhị là sông Hồng, còn núi Nùng tức gò nỗng bên cạnh phủ Chủ tịch nằm trong vườn Bách Thảo cũ). Sài Gòn có đồi Tân Khai nhìn xuống rạch Bến Nghé hay sông Sài Gòn. (Vùng đất cao Tân Khai ngày xưa nay là khu vực bao gồm dinh Thống Nhất, nhà thờ Đức Bà tới công viên Chi Lăng (cả Sở Giáo dục – Đào tạo cũ). Đó là một sự giống nhau giữa Hà Nội và Sài Gòn về mặt vị trí, địa lý thật là ngoạn mục !

4/- Còn một đặc điểm giống nhau nữa là kinh đô Thăng Long (1010) được vua Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) sáng lập nằm trên địa bàn thành Đại La vốn là một thành đất cũ do tướng Cao Biền xây dựng để làm trị sở cai trị nước ta thời Bắc thuộc lần thứ hai. Còn thành Gia Định được đắp bằng đất nằm trên làng đồi Tân Khai (dân địa phương gọi đồn đất) có thể là vị trí của bệnh viện Nhi Đồng 2 ngày nay mà về sau Pháp xây dựng bệnh viện Hải quân mang tên Grall. Đồn còn có tên Nghi Giang hay thành đất Thị Nghè. Năm Canh tuất 1790, thành Bát Quái hình như hoa sen được xây dựng trên địa bàn đồn đất cũ nhưng được mở rộng có 8 cửa với 8 con đường ngang dọc, bằng đá tảng và đá ong Biên Hòa với gạch nung do Nguyễn Ánh (Nguyễn Phúc Ánh – Gia Long) chỉ thị cho hai kỹ sư người Pháp xây theo mô hình thành Vauban của phương Tây có thể cùng lúc với Thành Hà Nội năm 1805 sau khi lên ngôi vua, nhưng về sau khi quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ thì bị triệt phá để chỉnh trang lại từ năm 1894. Thời bắt đầu “phục quốc”, Nguyễn Ánh đồn trú ở thành Quy như là một kinh đô để chống lại quân Tây Sơn sau thời gian kinh đô Phú Xuân (Huế) bị tướng Nguyễn Huệ chiếm đóng.

Theo dòng thời gian trải qua nhiều cuộc biển dâu, cả hai thành phố qua cả trăm năm xây dựng lại và phát triển đã mở rộng địa bàn, thêm nhiều đường phố, nhiều nhà cao tầng nên đã san lấp nhiều kinh rạch nhỏ để trở thành đô thị mới với số dân cư ngày càng tăng, từ vài chục, vài trăm ngàn ngày xưa đến ngày nay từ một hai triệu đến năm bảy triệu người. Mọi sự đổi mới cũng đều gần như giống nhau, anh với em, hình với ảnh. Thủ đô Hà Nội là anh, còn em là thành phố Hồ Chí Minh. Có người còn ví von gọi Hà Nội là gốc hay đầu, còn Sài Gòn là ngọn hay đuôi. Tới nay, Thăng Long – Hà Nội có tuổi thọ 1.000 năm, còn Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh chỉ hơn 300 năm. Dân Sài Gòn hay miền Nam đều là người của Thăng Long – Hà Nội, cả miền Bắc và các tỉnh miền Trung đi lập nghiệp từ thuở Nguyễn Hoàng (1600) được nhà tiên tri Bạch Vân cư sĩ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gợi ý :”Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.(Một dãy núi Hoành là chốn dung thân ngàn đời- Hoành sơn tức dãy núi có đèo Ngang (có Hoành sơn quan, nơi con lộ bắc nam đi qua – đường cái quan) nằm giữa tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh.Từ đó đến năm Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua) 1802, nước Việt Nam đã mở rộng liền một dãy theo hình chữ S từ Bắc chí Nam như ngày nay.

Cũng từ đó, đồng bào miền Nam (vùng đất mới) luôn coi mình là một bộ phận không tách rời với đồng bào miềnTrung và miền Bắc như Bác Hồ đã từng khẳng định :”Nước Việt Nam là một, dân Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Thời kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ thường nói bằng tấm lòng thương yêu ruột thịt: “Miền Nam luôn trong trái tim tôi” hay khi trả lời phóng viên nước ngoài :”C’est la chair de notre chair, le sang de notre sang”(Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi).

Nhà thi tướng Huỳnh Văn Nghệ sinh ra ở đất Bình Dương và chiến đấu thời chống Pháp ở đất Đồng Nai có những câu thơ nổi tiếng :”Ai về Bắc ta đi với/ Thăm lại non sông giống Lạc Hồng/ Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”. 


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 10.10.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .