Lễ An Vị
Hoàng Đế Quang Trung



MAI THỤC


Hoà trong không khí “Hà Nội linh thiêng hào hoa” đón chào Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi (1010- 2010) đêm 29- 8- âm lịch, tăng ni Phật tử chùa Yên Phú (Hà Nội) đã thành kính tổ chức nghi lễ an vị Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ (1753- 1792) tại chùa Yên Phú.

Hơn hai trăm năm trước, chùa Yên Phú là nơi Quang Trung tập kết quân, tạo nên chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa giải phóng Thăng Long.

Thượng toạ Thích Thọ Lạc cùng các nhà hảo tâm đã đúc tượng đồng Quang Trung  thờ phụng tại chùa Yên Phú.

Nhằm ngày lành, tháng tốt, thầy Thích Thọ Lạc chủ trì nghi lễ hô thần nhập tượng. Khói hương tĩnh lặng. Sau ba hồi trống cổ, tiếng niệm thần chú “Án ma ni bát di hồng” vang lên.

Không gian linh thiêng trầm lắng. Anh linh Hoàng đế Quang Trung ngự về pho tượng, tràn linh khí.

Tôi Thiền định trước pho tượng Quang Trung, linh ảnh vị Hoàng đế tóc quăn, cặp mắt như chớp sáng giữa màn đêm, ngồi trên mình voi, áo bào sạm khói sương hiện về.

Hoàng đế trò chuyện về cuộc đời mình, và rơi lệ khôn nguôi thương nhớ công chúa Ngọc Hân.

Khối Tình “trai anh hùng, gái thuyền quyên” mãi nức nở “Thăng Long- Hà Nội linh thiêng hào hoa”, mà hôm nay, hồn Quang Trung linh diệu an vị nơi chùa Yên Phú kể lại với chúng ta.

I. Trai anh hùng, đánh Đông dẹp Bắc:

Ba anh em Tây Sơn con ông bà bán trầu cau ở ấp Tây Sơn (nay là An Khê- Hoài Nhơn- Bình Định), đựợc học cả văn lẫn võ, thường lấy của nhà giàu phân phát cho dân nghèo.

Thời Trịnh- Nguyễn phân tranh. Sông Gianh chia cắt hơn hai trăm năm. Vua Lê chúa Trịnh ở Bắc kỳ. Nguyễn ở Đàng trong. Dân ta sống trong cảnh nồi da xáo thịt, thống khổ, bạo tàn.

Năm 1771. Ba anh em Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa. Tám năm chiến đấu gian nan, diệt được chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Anh cả Nguyễn Nhạc lên ngôi lập nhà Tây Sơn.

Năm 1784. Nguyễn Ánh cầu viện vua Xiêm đánh Tây Sơn. Cuối năm đó, một nửa Gia Định thuộc về Xiêm. Giặc Xiêm ra sức cướp của, đốt phá, giết người dã man.

Tháng 1- 1785. Nguyễn Huệ được lệnh đem quân vào đánh Xiêm. Trận quyết chiến diễn ra trên khúc sông Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút. Nguyễn Huệ nhử quân, đánh cho chúng tan tành, chỉ còn vài ngàn quân chạy về nước.

Năm 1786. Sau khi đánh tan năm vạn quân Xiêm, Nguyễn Huệ đem quân ra hạ thành Thuận Hoá của Chúa Trịnh.

Với khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh” Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc Hà theo hai đường thuỷ bộ. Quân Tây Sơn chiếm Vị Hoàng- Nam Định rồi kéo quân ra Phố Hiến tiến về Thăng Long. Quân Trịnh bị đánh tan.

Ngày 21-7- 1786. Nguyễn Huệ kéo đại quân vào Thăng Long, trao lại quyền cho vua Lê Hiển Tông. Vua phong Nguyễn Huệ tước Uy quốc công và nhường đất Nghệ An cho Tây Sơn để thưởng công.

Vua Hiển Tông già yếu cảm kích người hùng phương Nam đã diệt Trịnh, giữ ngôi báu cho mình, nên gả công chúa Ngọc Hân, cành vàng lá ngọc mới mười sáu tuổi cho Nguyễn Huệ.

Ngày 4- 6- 1786. Một đám cưới ghi tạc non sông đã diễn ra trên đất Thăng Long.

Ngọc Hân giỏi cầm kỳ thi hoạ, thơ ngây trong trắng vâng lệnh cha, như vâng mệnh “sơn hà xã tắc”, làm vợ người hùng “da cọp, lưng gấu”, mà chưa hề biết đến tình yêu.

Trẻ già trai gái kinh thành tưng bừng hân hoan đổ ra hai bên đường ngắm kiệu công chúa đi từ cửa điện vua Lê đến cửa phủ chúa Trịnh, nơi Nguyễn Huệ đóng đại bản doanh. Đoàn đưa dâu lộng lẫy màu sắc, lễ nghi cung đình Thăng Long, đủ mặt các hoàng phi, hoàng thân, công chúa, các quan văn, võ, ngựa xe nhộn nhịp, đàn nhạc ríu ran…

Một đám cưới xưa nay chưa từng có trên đất Kinh kỳ- Kẻ Chợ. 

Rồi một đêm mưa to gió lớn cuối tháng 7- 1786. Kinh đô Thăng Long ngập hàng thước nước. Vua Lê Hiển Tông qua đời, thọ bảy mươi tuổi.

Ngọc Hân vụt lớn dậy bên Nguyễn Huệ trước vận mệnh sơn hà.

Và Tình yêu chân thành nồng ấm bừng nở trong trái tim công chúa Bắc Hà với người anh hùng áo vải đẫm phong sương và gió nắng phương Nam bởi tình chàng nồng nàn, cao cả.

Được chồng hỏi lập ai lên ngôi báu, nàng nói Lê Duy Kỳ không đáng tin, nên lập Lê Duy Cận.

Cả triều đình ngờ vực, gầm gừ, từ mặt Ngọc Hân. Nàng sợ hãi vội nói với chồng đưa Lê Duy Kỳ lên làm vua (Lê Chiêu Thống) trong cái nhìn mù mờ, u tối của cung đình.

Ít lâu sau, Nguyễn Huệ cùng Ngọc Hân rút quân về Nam.

Quân Tây Sơn rút về. Bắc Hà hỗn loạn. Nạn đói hoành hành. Nhân dân vô cùng cực khổ. Vua Lê Chiêu Thống bất lực không chống chọi nổi Chúa Trịnh Bồng, dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại Trịnh, đốt phá phủ Chúa Trịnh tan tành.

Thành Thăng Long như chìm trong biển lửa. Khói bốc ngút trời. Hơn mười ngày sau vẫn còn bốc lửa. Biết bao cung điện, lâu đài, phủ chúa nguy nga bỗng chốc thành tàn tro.

Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền, chống lại Tây Sơn, cho người vào đòi Nghệ An.

Nguyễn Huệ cử Ngô Văn Sở và Vũ Văn Nhậm đem quân ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh.

Lê Chiêu Thống trốn thoát chạy sang đất Quảng Tây- Trung Quốc.

Vũ Văn Nhậm lộng quyền, Nguyễn Huệ lại phải kéo quân ra Bắc Hà dẹp loạn, giết Vũ Văn Nhậm, cử Ngô Văn Sở lên thay.

Ngọc Hân đã giúp chồng thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà giúp Tây Sơn như: Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Huy Tiến… giao quyền hành chức vụ cho họ, thể hiện ý thức trọng dụng hiền tài.

Nguyễn Huệ lập Lê Duy Cận làm Giám quốc và rút về Phú Xuân.

         II. Chiến dịch thần tốc Quang Trung giải phóng Thăng Long:

Cuối năm 1788. Lê Chiêu Thống đưa đường cho đội quân xâm lược Mãn Thanh vào chiếm đóng kinh đô Thăng Long.

Sau khi chiếm đóng kinh thành Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị cho quân sĩ mặc sức cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái. Thăng Long náo loạn. Lê Chiêu Thống ươn hèn, ngày ngày tới chờ trước đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị nghe hắn truyền lệnh. Dân kinh thành đồng thanh nói: “Nước Nam từ khi có đế, có vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế”.

Ngô Văn Sở thông thái bàn với Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích rút về Tam Điệp Ninh Bình chờ lệnh Tây Sơn.

Nghe tin cấp báo, ngay ngày hôm sau, 22- 12- 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Quang Trung, tiến quân ra Bắc Hà đại phá quân Thanh.

Ngày 26- 12- 1788. Đại binh của Quang Trung tới Nghệ An dừng chân tại đó hơn mười ngày, tìm con đường ngắn nhất thẳng tiến Thăng Long.

Quang Trung tìm La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đậu Giải Nguyên, học rộng, đạo cao, đang ở ẩn tại núi Thiên Nhậm- Nghệ An hỏi kế sách. La Sơn Phu Tử nói: “Quân Thanh ở xa mới tới, không biết quân ta mạnh yếu thế nào, địa thế nước ta hiểm trở ra sao, Chúa công ra đây nên đánh gấp, không quá mười ngày nhất định tiêu diệt được địch”.

Quang Trung mừng rỡ: “Thật hợp ý ta”.

Quang Trung tuyển mộ, mười vạn trai tráng, đội tượng binh hai trăm voi chiến, chia làm năm đạo quân, duyệt binh ngay tại Nghệ An khích lệ chí khí quyết chiến thắng giặc Thanh.

Tới Thanh Hoá, được nhân dân nồng nhiệt đón chờ Quang Trung mở hội thề có bài Dụ tướng sĩ nói rõ mục đích của cuộc tiến quân bảo vệ chủ quyền dân tộc cũng chính là bảo vệ thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hoá của dân Việt:

“Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

Ngày 20- 1- 1789. Đại quân Quang Trung đến Tam Điệp- Ninh Bình.

Trước khi bước vào chiến dịch thần tốc giải phóng Thăng Long, Quang Trung dõng dạc nói với quan quân:

- Nay ta tới đây, thân đốc việc binh, chiến thư ra sao đã có phương lược sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào cũng quét sạch được giặc Thanh. Song ta nghĩ nước Thanh lớn hơn nước ta gấp mười lần. Thanh bị thua tất hổ thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài mãi, thật không phải là phúc lớn cho trăm họ. Lòng ta không nỡ! Nên chi, sau khi thắng, ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lủa chiến tranh. Việc từ lệnh đó, ta giao cho Ngô Thì Nhậm.

Từ Tam Điệp, năm mũi tiến quân Thăng Long. Đạo chủ lực do Quang Trung chỉ huy đánh thẳng vào các đồn luỹ phía Nam. Bốn đạo quân khác đánh đồn Khương Thượng- Đống Đa, Thường Tín- Hà Tây, Hải Dương, vượt biển vào Lục Đầu Giang đón đánh tàn quân.

Quang Trung mở tiệc khao quân ăn Tết trước và hẹn: “Đến ngày mồng bảy tháng Giêng vào Thăng Long ta sẽ làm lễ hạ cây nêu, mừng chiến thắng”.

Nửa đêm Mồng Ba Tết Kỷ Dậu, đạo quân Quang Trung bao vây đồn Hà Hồi. Từ ngôi chùa Yên Phú cách Thăng Long hai mươi cây số, quân Tây Sơn bắc loa gọi hàng.

Hoảng hốt. Bất ngờ trước tiếng loa vọng như sấm dậy, giặc Thanh bó tay. Xin hàng!

Mồng Bốn Tết. Tôn Sĩ Nghị đang chè chén say sưa, được tin đồn Hà Hồi bị quân Tây Sơn đánh úp, sợ hãi la: “Tướng ở trên trời xuống, quân ở dưới đất chui lên” và tăng viện giữ đồn Ngọc Hồi.

Mồng Năm Tết. Trời chưa sáng. Đạo quân Quang Trung bất thần xông voi đánh đồn Ngọc Hồi. Ngựa chiến quân Thanh hoảng loạn rút chạy. Đại bác, cung nỏ, hoả mù địch bắn tới tấp. Khói mù trời, tối đất. Đoàn Tây Sơn cảm tử tiến ào ạt. Đại bác và hoả hổ quân ta đánh dữ dội vào địch. Chúng bỏ chạy tán loạn. Thây giặc đầy đồng. Hứa Thế Thanh, Thượng Duy Thăng cùng nhiều tướng Thanh tử trận. Đồn Ngọc Hồi bị hạ.

Hàng vạn quân Thanh tháo chạy về Thăng Long bị quân ta mai phục tiêu diệt.

Đạo quân của đô đốc Long tiến công như vũ bão vào đồn Khương Thượng. Hàng ngàn quân Thanh tử trận. Tướng giặc Sầm Nghi Đống bị bất ngờ tuyệt vọng, thắt cổ tự tử tại sở chỉ huy. Hàng trăm thân binh của Sầm Nghi Đống tự sát theo. Quân Tây Sơn thừa thắng xông thẳng vào trung tâm Thăng Long.

Canh tư. Mồng Năm Tết. Tiếng súng gầm trời rung đất Thăng Long làm Tôn Sĩ Nghị choàng tỉnh giấc. Được tin đồn Ngọc Hồi và Đống Đa thất thủ, y hoảng loạn nhảy lên  “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp” cùng tuỳ tùng chạy qua cầu phao, vượt sông Hồng lên mạn Bắc. 

Hàng vạn quân sĩ chạy theo Tôn Sĩ Nghị, chen nhau rơi xuống dòng sông Nhị.

Trưa mồng Năm Tết Kỷ Dậu. Chưa đầy năm ngày đêm, vua Quang Trung đánh tan hai mươi chín vạn quân Mãn Thanh. Đập tan hoàn toàn mộng xâm chiếm nước ta của nhà Mãn Thanh.

Quân Thanh chiếm giữ Thành Thăng Long tổng cộng  bốn mươi nhăm ngày, mà xương chất thành núi ở đất này. Mười ba gò đống chôn quân Thanh mọc lên, sau dồn lại thành Gò Đống Đa.

Hằng năm, ngày mồng năm Tết, người dân Thăng Long- Hà Nội tổ chức giỗ trận Đống Đa tại Gò Đống Đa, cầu cho các vong linh giặc Thanh siêu thoát.

Quang Trung cho lập miếu thờ Sầm Nghi Đống.

III . “Ai Tư Vãn” Ngọc Hân khóc Chồng:

Sau khi giải phóng kinh thành Thăng Long, Quang Trung trở về Phú Xuân trao lại quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm.

Với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, mối bang giao với nhà Thanh trở lại bình thường. Nhà Thanh phải vào tận Phú Xuân phong vương cho Quang Trung. Hoàng đế Quang Trung giả đã sang Trung Hoa yết kiến và dự lễ mừng thọ vua Kiền Long nhà Thanh tám mươi tuổi.

Một chiều đầu Thu 1792. Hoàng đế Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng mê man bất tỉnh. Tỉnh dậy, vua cho triệu trấn thủ Nghệ An Trần Quang Diệu về triều bàn việc dời đô ra Nghệ An.

Việc chưa thành, vua đã vội ra đi, gửi lại lời dặn:

“Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không khỏi được. Thái tử Nguyễn Quang Toản tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định Nguyễn Ánh là quốc thù, mà đức Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất. Việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh ngày nay) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến, thì các ngươi không có chỗ chôn đâu”.

Ngày 29- 7- năm Nhâm Tý 1792. Quang Trung từ trần, ở ngôi bốn năm, thọ bốn mươi tuổi.

Nguyễn Quang Toản mười tuổi, nối ngôi vua cha.

Năm 1800. Nguyễn Ánh vượt biển đánh thành Qui Nhơn (có nước Pháp ngoại viện).

Năm 1801. Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân. Quang Toản chạy ra Bắc Hà.

Ngày 16- 6- 1801. Nguyễn Ánh chiếm kinh đô Thăng Long.

Mùa Đông 1802. Nguyễn Ánh về Phú Xuân trả thù Tây Sơn tàn khốc. Quang Toản và toàn gia Tây Sơn bị hành hình. Hài cốt Ngọc Hân tan nát.

Triều Tây Sơn tồn tại hai mươi bốn năm.

Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, hiệu Gia Long, đóng đô tại thành Phú Xuân (Huế) lập triều Nguyễn ngày 1- 6- 1802.

Quang Trung chết. Ngọc Hân hai mươi chín tuổi, ôm hai con nhỏ dại khóc Chồng qua bài “Ai Tư Vãn” rung chuyển Thăng Long- Hà Nội khối tình “Trai anh hùng, gái thuyền quyên”:

“ Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa nở
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong…
Buồn thay nhẽ! Sương rơi, gió lọt
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa…
Xưa sao sớm hỏi, khuya bày
Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ!
Giờ sao bỗng thờ ơ lạnh lẽo
Tình cô đơn ai kẻ xót đau…
Xưa sao gang tấc gần chầu
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sênh ca!
Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh
Nửa cung gãy phím cầm lành
Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ!...
Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?...
Công nhường ấy mà nhân nhường ấy
Cõi thọ sao hẹp bấy hoá công?...
Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình!”.

Thăng Long- Hà Nội 2010.

Đêm cuối Thu trăng lặn sao mờ.

Trong tiếng niệm thần chú khai quang điểm nhãn vang âm linh diệu tại ngôi chùa Yên Phú, tôi nghe đau đáu tiếng Hoàng đế Quang Trung Khóc Vợ Ngọc Hân- Công Chúa Thành Thăng Long thống thiết “Ngọc Hân ơi! Ngọc Hân nàng hỡi!”

Ngọc Hân ơi!

Ngọc Hân ơi! Ngọc Hân nàng hỡi!
Đêm thảm sầu ở lại Thăng Long
Tuôn giọt châu sa nàng nức nở
Đau buồn thương Non Nước biến dời
Suối Tình Chồng Vợ chẳng hề vơi
Oan nghiệt thay! Vòng tạo hoá
Cắt chia nguồn ân ái đá vàng
Nàng ngơ ngác xót xa quặn thắt
Cuộc chia ly tang tóc bất ngờ
Nàng ôm con gánh hận bơ vơ
Hạnh phúc tan, nát cả sơn hà
Ngày đen tối, phận bèo dạt trôi
Thù hận chiến tranh, rơi xương máu
Vợ goá con côi, gió phũ phàng
“Lá ngọc cành vàng” cung đàn gãy
Giấc mơ dựng nghiệp đổ hoang tàn
Khát vọng cứu đời yên dân tan
Xã tắc chênh vênh, Tây Sơn bại
“Ai Tư Vãn” khóc Chồng, khóc Nước
Gửi trọn lòng son với núi sông
Hoà sáng Thăng Long Tình yêu lớn
Trai anh hùng với gái thuyền quyên
Đường vu qui Chồng Nam vợ Bắc
Tình Nhà Nghĩa nước chẳng tàn phai


 ______________________________________________

Hồ Gươm- Chùa Yên Phú- Đêm 29-8- 2010 Âm Lịch
Hô thần nhập tượng Hoàng đế Quang Trung.
 




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 09.10.2010.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com