TẾT TRUNG THU



MAI THỤC


Một chiếc là vàng rơi nhẹ trên sách của ai đang ngồi đọc dưới bóng cây cổ kính bên hồ Gươm, những cánh hoa Lộc Vừng màu đỏ trái tim mong manh trôi trên sóng nước xanh in hình Tháp Bút, với làn gió heo may hanh vàng rung nhẹ … báo Thu về. Tiếng chim ríu ran trên cành vòm  xanh cây hoa sữa dạo nhạc đẩy đưa một câu thơ cổ: 

Lý- Trần thiên tải phồn hoa địa
Lư­u tại Hồ đâu nhất dạng thu


Tiến sĩ Vũ Tông Phan

Giáo sư Trần Quốc Vượng rất thích câu thơ này, ông dịch (Lý - Trần ngàn thuở phồn hoa địa, còn lại bên hồ một dáng thu).

Mùa thu nghìn đời nay vẫn thả những sợi tơ vàng mật ong thẫm đẫm hồn thơ, văn, nhạc ,họa … và gieo biết bao cảm hứng sáng tạo cho con người .

Mùa thu như bản nhạc đất trời báo bình yên sau những cơn nóng lửa nung người, những trận mưa đêm xối xả, những cơn bão nghiêng ngả cành cây, những cơn lũ làm sông Hồng gầm réo, những tiếng sấm ùng oàng và bầu trời mây đen bao phủ… Mùa thu "Trời lơ lửng màu xanh ngắt" gợi tâm tình sâu nặng. Nao nức hơn cả vẫn là nỗi đợi chờ ánh trăng rằm Trung Thu trong trẻo nhất, sáng nhất trong năm, soi tỏ thế gian này.

Người nông dân Việt Nam nhìn trăng Thu để biết cái bụng mình no hay đói:

Muốn ăn lúa tháng năm,
Trông trăng rằm tháng tám

Thời tiết mùa thu mát mẻ, mưa nắng thuận hòa, cây cối sinh trái ngọt, là quà tặng của đất- trời cho con người. Khắp chợ cùng quê, đâu đâu cũng có các thứ quả: bưởi, na, hồng, chuối, mía, quả thị vàng thơm cổ tích cơ Tấm thảo hiền gặp Hồng tử, làm vợ đức vua… xa xa những cánh đồng chờ vụ gặt tháng mười … Thảo thơm mùa thu Hà Nội còn có cốm non xanh ngọc. Những hạt cốm như ngọc lưu ly, xanh hương nơn nao thu gợi nhớ đồng quê lúa.

Người việt cổ hồn nhiên ngắm trăng vào tiết Trung thu, lo chuyện cấy cày, lòng vui mở hội chơi trăng nên gọi là Tết "Trông giăng". Họ không biết đến điển tích Trung Hoa đời vua Minh Hoàng nhà Đường, chỉ biết lòng người đang hòa cảm với đất- trời mà bày cỗ Trung Thu trong cảnh trăng gió thênh thang với những sản vật vườn nhà, trước hết là tạ ơn trời đất, thánh thần, tổ tiên, ông bà, cha mẹ, cầu các thần linh, trong đó có thần mặt trăng, che chở cho cuộc sống con người và cảnh vật được an khang, hòa hợp, sau là vui chơi với trăng, sao, gió mát, thưởng hoa quả, diễn trò, kể chuyện, ca hát… với con cháu trong lúc nông nhàn.

Cảm hứng giao hòa giữa con người - trời - đất, đã nảy nở nhiều sáng tạo văn hóa, thành Tết Trung Thu tưng bừng, náo nhiệt, đậm màu sắc dân gian, thiên về vui chơi cùng "ông giăng", không phân biệt người lớn trẻ con, khôngù kiêng kỵ, không hướng tất cả về cõi tâm linh như Tết Nguyên Đán, mà quay về thiên nhiên đang hiện hữu và cuộc sống đời thường với những ước mơ gần gũi . Đó là một lễ hội con người - đất- trời hòa nhập 

Bày cỗ "trông giăng":

Tết Trung thu, ngoài cỗ cúng gia tiên có con gà, đĩa xôi, còn có cỗ để riêng không cúng gọi là cỗ "trông giăng" gồm "cây nhà, lá vườn": bưởi, hồng, na, ổi, đu đủ, chuối, mía… kẹo vừng, kẹo bột, oản, bánh dày…

Hà Nội có thêm cốm vòng, bánh nướng, bánh dẻo. Ngày nay bánh nướng, bánh dẻo được dùng khắp mọi nhà, gọi là bánh "ông giăng" hay bánh Trung Thu. Từ đầu tháng tám phố phường đã bán các đồ Trung Thu. Bánh nướng, Bánh dẻo của các hãng thi nhau bày biện, người Hà Nội thích hãng bánh kẹo Hà Nội- phố Bà Triệu.

Sắm cỗ Trung Thu phải sắm cả phần đồ chơi cho con trẻ: ông tiến sĩ giấy, đèn ông sao, đền củ ấu, đèn mũ ông sư, đèn con thỏ, đèn xếp, đèn lồng, đèn kéo quân, trống bỏi, đầu sư tử, mặt nạ, con rối múa gậy… Nếu không mua được đủ thì ít nhất cũng phải có ông tiến sĩ giấy và chiếc đèn ông sao. Mâm cỗ trông giăng thường đặt ở sân, hè ,vườn, chỗ có thể trông thấy ông giăng và rộng rãi để vui chơi, ngắm trăng. Trên đầu bàn cỗ Trung Thu là ông tiến sĩ giấy .

Người Hà Nội bày cỗ Trung thu rất khéo, quả bưởi được tạo hình hoa và các con giống đặt ở chính giữa, xung quanh là các thứ quả xếp bên nhau thành khối màu sắc hài hòa, vui mắt, hai bó mía róc trắng muốt, buộc hai nuột lạt màu hồng, không thể thiếu bánh nướng, bánh dẻo tượng trưng cho mặt trăng. Bày cỗ xong, người ta không thắp hương cúng.

Theo quan niệm người Việt, mỗi người đều có một linh hồn ngự bên thể xác, tết Trung Thu là dịp con người, trời đất, thánh thần, linh hồn, cả ông phỗng, ông tiến sĩ , con  cá hóa rồng cùng hòa nhập, cùng ăn uống, vui chơi, cùng thưởng thức ánh trăng, không phân chia trang trọng theo lễ nghi, không người nào phải thụ lộc của thánh thần. Cỗ trông giăng là tình thương của vũ trụ và con

người dành cho trẻ con nên khi ăn cỗ được gọi là "phá cỗ" như một chò chơi thú vị.

Theo ánh trăng rằm mênh mang và tiếng trống bỏi "tong tong" bọn trẻ từ các gia đình mang đèn ông sao, đội mũ sư tử ra ngõ phố, đường làng hò hát, đốt hạt bưởi khô , múa lân, rước đèn … Ngọn nến đỏ ở giữa đèn được thắp lên, những chiếc đèn ông sao sáng lung linh như sao trời đậu trên bàn tay bé nhỏ, tiếng hát dồng dao còn vang vọng suốt cuộc đời:

Ông giẳng ông giăng
Xuống chơi nhà tôi
Có bầu có bạn
Có ván cơm sôi
Có nồi cơm nếp
Có nệp bánh trưng
Có lưng vò rượu

Trăng đã lên cao, lũ trẻ “dung giăng dung giẻ” chẳng muốn về, ngư­ời lớn vẵn đợi chờ bên mâm cỗ.

Pháo cỗ không có giờ. Đêm càng khuya trăng cáng sáng. Không khí phá cỗ đông vui, ông bà, bố mẹ quây quần bên con trẻ như bạn bè, dạy cho chúng biết cách tách mía, bổ bư­ởi, tách bánh. Trẻ vừa ăn vừa hát, đánh trống, gõ mâm, tự do, phóng khoáng, tâm hồn rộng mở.

Đêm Trung Thu tưng bừng thế là để cho gấu không ăn trăng, giữ cho trăng sáng suốt đêm, cho già trẻ cùng vui không ngăn cách, cho mưa thuận gió hòa, cho mùa mang bội thu, cụộc sống bình yên.

Đây là bài học trực quan dành cho con trẻ về tình yêu con ngư­ời, yêu thiên nhiên, vũ trụ. Chúng được cộng cảm cùng ngư­ời lớn sống vui vầy giữa trăng sao, cây qua, hoa lá, những con vật hàng ngày ở xung quanh. Nếu không có rằm Trung Thu làm sao trẻ sớm biết đến một bầu trời đầy ánh trăng mông lung huyền ảo ấy.

Đêm hội trăng rằm

Tết Trụng Thu, phần lễ linh thiêng không nhiều bằng phần hội đêm trăng. Không khí lễ hội Trung Thu bắt đầu trước rằm từ nửa tháng với nhịp làm việc của các lò bánh, các làng nghề đồ chơi, các sản vật mùa thu. 

Xa xưa, người Lạc Việt cứ mùa Thu tháng tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ca hát dưới trăng mừng vụ mùa, vì chỉ làm một vụ. Khi tiếp nhận lịch Trung Hoa và làm thêm vụ chiêm, dân ta ăn tết Nguyên Đán, nh­ưng không bỏ lễ hội trăng rằm tháng tám. Thời Lý - Trần Triều đình coi tết Trung Thu là một lễ tiết lớn. Vua quan th­ưởng trăng, ngắm quả trong v­ườn th­ượng quyển.

Người dân Thăng Long - Hà Nội từ lâu coi Tết Trung Thu như­ một thú chơi, một ngày lễ hội. Mùa thu, quả chín bốn phương đổ về “băm sáu phố phường”, sắc màu rực rỡ, nức hư­ơng trên chợ Hàng Da, Đồng Xuân , chợ Mơ, chợ Bưởi … Mùa thu Hà Nội , cốm vòng xanh ngọc, hồng đỏ thắm, chuối trứng quốc vàng, trà ướp sen, dâng h­ương đất cho phố phường. Các phố Hàng Đư­ờng, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Giấy, Hàng Bông, Hàng Hòm, Hàng Thiếc, ng­ười ta bày bán bánh, hoa quả và đồ chơi Trung Thu bằng giấy. Nào đèn các loại, nào con giống, voi giấy, ngựa giấy, nào trống bỏi, nào ông tiến sĩ...

Ngày nay xen vào đó có đồ chơi Trung Quốc hiện đại với các loại ô tô, tàu hoả, người máy, xe tăng, súng, g­ươm... Nhưng vẫn không làm mất đi màu sắc của Trung Thu truyền thống. Nhà nào cũng sắm cỗ “trông giăng” trẻ em có đèn ông sao, có trống gõ ‘tong tong”, được đi rước đèn, hát múa, phá cỗ tập thể, nhưng sao ng­ười ta vẫn thấy thiếu vắng những tiếng hát đồng dao gọi trăng, những niềm vui cộng cảm giữa con người với đất trời, với “ông giẳng, ông giăng” trong lòng con trẻ, như­ những Trung Thu thơ ấu của họ.

Phải chăng những ngôi làng đã thành phố chật hẹp, nhà đã cao chen lấp ánh trăng? Phải trăng lòng ng­ười lớn ngổn ngang, bề bộn, bon chen, khô cạn, không gieo đư­ợc niềm vui hoà nhập đất trời tới con trẻ như thuở cha ông?

Trung Thu thời hiện đại có còn ai dạy bọn trẻ hát câu ca: “Thằng cuội ngồi gốc cây đa/ Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời”? Có còn ai ngồi kể cho con câu chuyện sự tích Thỏ Ngọc, chuyện chị Hằng Nga dịu dàng tươi đẹp toả sáng đêm đen? Có còn ai biết làm đèn kéo quân với người, ngựa xe, tướng, sĩ chạy tít mù qua lớp giấy bóng màu, dựa vào hình của đèn mà kể lại các điển tích, sự tích, trò chuyện, chơi vui, kích thích trí tưởng tượng cùng con trẻ?

Ngư­ời lớn và trẻ em bây giờ xa cách quá, hãy nhờ đến các trò chơi lễ hội Trung Thu mà trở về tình bè bạn . Tiếc thay ngư­ời lớn bây giờ bận, chỉ lo ép buộc con cái nhồi nhét chữ qua vi tính mà chẳng nghĩ chuyện thả chúng ra ngoaì trời học thiên nhiên, học cha mẹ, học ngư­ời đời, bằng các cuộc học mà chơi, chơi mà học.

Những trò chơi Trung Thu đều mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về thẩm mỹ, trí tưởng tượng, tâm hồn, gợi những ước mơ. Đèn cá chép, bánh dẻo hình cá chép, cá chép bằng giấy là hình ảnh cá chép hoá rồng, cá chép vư­ợt Vũ Môn. Hằng năm cá chép tụ hội về Vũ Môn thi vư­ợt ghềnh này. Con nào vượt được sẽ hoá rồng. Ngày xưa, người đi thi đỗ, gọi là cá vượt được Vũ Môn. Tặng hình con cá cho con, cha mẹ mong con học hành thi đỗ. Nhà văn Tô Hoài nhớ mãi ông tiến sĩ giấy ngồi chễm chệ giữa bàn cỗ trông giăng. Ông kể:

- Ông tiến sĩ mẹ mua về chỉ bằng cái khay con con. Nhưng áo thụng giấy vàng , đai bụng, mặt trắng phếch, đội mũ cánh chuồn và cờ đuôi nheo cắm đằng tr­ước, lọng che sau lư­ng. Cả xóm chẳng nhà nào mua ông tiến sĩ, bởi chẳng nhà nào có trẻ con đi học. Cả nhà tôi chắc cũng chẳng ai biết ông tiến sĩ là ông gì, nhưng thấy ông đội mũ, đi hia, thì phải là ông quan, là cậu học trò. Mẹ mua cho tôi ông tiến sĩ, có ý cầu mong cho tôi học hành tấn tới cho ngày sau thành ông tiến sĩ.

Trò múa Lân là trò chơi của cả cộng đồng dưới trăng Trung Thu. Kỳ Lân là con vật thần thoại, thân h­ươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng trên trán, lông trên lưng ngũ sắc, dưới bụng sắc vàng. Đó là con vật tượng trưng cho sự hiền hòa. Không đạp lên cỏ cây hoa lá, không làm hại vật sống. Kì Lân chỉ xuất hiện khi có thánh nhân ra đời hoặc thời thịnh trị. Trò múa lân ngày Trung Thu trong tiếng trống rộn rịp là sự cầu mong thái bình thịnh trị, vua sáng, tôi hiền.

Tết Trung Thu hiểu cho tới ngọn nguồn đâu phải chỉ là Tết dành riêng cho con trẻ mà là một lễ hội ánh trăng, soi sáng cho con ngư­ời và đất trời hòa nhập.

 

 ______________________________________________

   Hồ Gươm- Thu 2010  
 




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 21.09.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com