Thôn Thanh Tương (Thanh Khương - Thuận Thành - Bắc Ninh) hiện
nay chỉ là làng quê thuần nông, nhưng người dân nơi đây
luôn tự hào là đất tổ ca trù, môn nghệ thuật từng
đem lại tiền bạc như một nghề kiếm ăn chính, và đã
được đi vào sách sử Thanh Tương đi hát được xâu tiền
dài.
Theo truyền thuyết, thôn Thanh Tương nằm ở ngay cửa bắc
thành Luy Lâu xưa, hiện nay vẫn còn nhiều dấu tích thành
luỹ, hào nước. Ngay từ thời Hán dân làng đã có nghề
ca hát phục vụ quan lại cai trị đóng ở trong thành. Năm
40 Hai Bà Trưng kéo quân về hạ thành, ca nương Biểu Phật
Nương người Thanh Tương đã làm nội ứng mở cổng thành
cho quân Hai Bà kéo vào như thác lũ khiến thái thú Tô Định
phải hoảng hồn xé rào lên thuyền con chạy trốn. Biểu
Phật Nương trở thành nữ tướng tuỳ tùng của Hai Bà.
Sau khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, dân Thanh Tương
đã lập đền thờ tưởng nhớ nữ tướng Biểu Phật Nương.
Người có công truyền dạy và hồi sinh làng nghề ca trù
Thanh Tương vào thời Lê là vợ chồng ca nương Nguyễn Thị
Hoa, thuộc họ Nguyễn Trọng của làng. Hiện vợ chồng
ca nương Nguyễn Thị Hoa được coi là tổ nghề và có tượng
thờ tại dòng họ, do ông Nguyễn Trọng Năng, 65 tuổi, trông
nom. Ông Năng cho biết, trước đây họ có nhà thờ tổ
nghề riêng, sau bị bom Pháp tàn phá, gia đình không có khả
năng làm lại nhà thờ nên tượng tổ nghề được thờ
chung với ban thờ gia tiên. Hai pho tượng gỗ sơn son thếp
vàng khổ nhỏ, cao chừng 20 cm, không khắc chữ nên không
biết chính xác niên đại, chỉ biết đã truyền được
gần 10 đời. Cụ Nguyễn Thị Tý, 86 tuổi, mẹ ông Năng
vốn quê ở Văn Lâm - Hưng Yên, khi về làm vợ cụ Nghiễn
cũng được dạy nghề hát, nhưng vì sinh con nhỏ nên chưa
được đi hát bao giờ. Cụ cho biết, hồi đó cả nhà cùng
làm nghề, vui lắm, kiếm tiền cũng khá lắm.
Người làm nghề giỏi nghề còn lại cuối cùng của làng
Thanh Tương là cụ Nguyễn Thị Thiệp, 82 tuổi. Cụ Thiệp
kể đã được học đàn hát từ nhỏ, thuộc hết các lề
lối và 36 giọng ca trù. Hồi trẻ cụ theo gia đình đi phục
vụ hát cửa đình, hát đám cưới, hát khao vọng khắp
vùng. Sau đó theo vợ chồng anh chị là tay đàn Nguyễn Hồng
Thái và ca nương Nguyễn Thị Vóc ra Khâm Thiên mở nhà tơ.
Riêng làng Thanh Tương có đến 40 ca nương và hàng trăm
tay đàn tay trống kiếm ăn ở phố cô đầu này. Theo cụ,
cô đầu là một cách gọi chệch của ả đầu, tức ả
đào, nay gọi là ca nương. Dân gian còn gọi miệt thị là
con hát. Vì ả đào trẻ đẹp xinh tươi, giọng ca ngọt
ngào thường làm mê mẩn những quan viên sành điệu. Ngay
gia đình cụ Thiệp cũng có người từng lấy được chồng
là quan huyện quan phủ. Sau cách mạng tháng Tám ông trùm
Hồng Thái mất sớm, rồi kháng chiến bùng nổ, gia đình
thôi làm nghề ca hát ở Khâm Thiên về quê làm ruộng. Loạn
lạc làm tan nát làng nghề. Cô đào Nguyễn Thị Thiệp đi
lấy chồng. Chị dâu đi bước nữa. Không còn nơi ca hát.
Mãi gần đây ca trù mới lại được quan tâm. Ca nương
Nguyễn Thị Vóc và Nguyễn Thị Thiệp cùng tay đàn Nguyễn
Văn Đức được ngành văn hoá mời đi hội diễn cấp tỉnh,
cấp trung ương. Hoá ra tay đàn gịong hát làng nghề quả
bất hư truyền, đi đấm cấp trung ương vẫn vượt trội
các làng nghề tỉnh khác. Nhưng sau đó không được địa
phương chú ý khôi phục làng nghề nên nghề chưa kịp truyền
hết ngón tay đàn Nguyễn Văn Đức và ca nương Nguyễn Thị
Vóc đã tạ thế, chỉ còn ca nương Nguyễn Thị Thiệp vẫn
say hát nhưng không có tay đàn tay trống đủ bộ để hát.
Anh Nguyễn Hồng Thích, cháu nội ông trùm Hồng Thái hiện
đang là bí thư đảng uỷ xã Thanh Khương cũng là một người
khá sành về lề lối hát ca trù. Anh cho rằng ca trù tuy
đã được thế giới quan tâm nhưng khôi phục còn khó lắm.
Khó trước hết là kinh phí. Không có tiền đầu tư truyền
dạy nghề thì không thu hút được người theo học. Làng
Thanh Tương hiện có tổ ca trù do chi hội người cao tuổi
đứng ra tổ chức. Cụ Thiệp dạy nghề không công mấy
năm ròng vẫn chưa ra tấm ra miếng gì. Người hát người
đàn chưa đáp ứng được yêu cầu biểu diễn. Khi có yêu
cầu phục vụ ở xã cũng chỉ được bồi dưỡng cân đường
hộp sữa giải khát thôi. Khi có yêu cầu quay băng tư liệu
hay đi hội diễn cấp trên thầy lại phải xuất tướng.
Cũng may có tay đàn Nguyễn Trọng Lộ và tay trống Nguyễn
Trọng Thỉnh bên làng Thanh Hoài trước có người theo nghề
bên Thanh Tương còn giữ được ít nhiều lề lối đủ
hợp thành bộ đi hát. Ông Trần Văn Cầu có công mở lớp
học hát ca trù tại nhà thấy không được cho học viên
đi hát thì tự ái, khi được hỏi ông có nguyện vọng
gì để ca trù Thanh Tương phát triển chỉ trả lời độc
một yêu cầu cấp trên cần tôn trọng tôi. Nếu tôn
trọng ông Cầu để ca trù Thanh Tương đùng cái phát triển
bề thế như thời đi hát được xâu tiền dài chắc ngành
văn hoá không tiếc bằng khen và tiền của đáp ứng yêu
cầu tôn trọng ông ngay. Khó thứ hai là tâm lý. Tâm lý
ngại mang danh con hát, cô đầu. Chính anh trước đã không
muốn cho bà nội, ca nương Nguyễn Thị Vóc đi hát hội
diễn giao lưu các nơi. Anh muốn người ta quên đi quá khứ
cô đầu của bà và nghề ca hát nhà tơ của gia đình. Khó
thứ ba là mục đích kiếm tiền của nghề. Nếu bỏ công
tập đàn tập hát mà không có đất biểu diễn thì mấy
ai say mê trong khi người ta còn bao nhiêu lĩnh vực làm ra
tiền của ngay. Cứ xem như thời các cụ đi hát được
xâu tiền dài vẫn chỉ ở nhà cấp 4, còn thời mất nghề
bây giờ thì nhà tầng mọc lên ngàn ngạt.
Theo cụ Thiệp còn có cái khó nữa là chất giọng. Đặc
thù ca hát là cần chất giọng. Nắm được lề lối hát
nhưng chất giọng kém cũng không sử dụng được. Tuy nhiên,
nếu tổ chức học hát quy mô thì vẫn chọn được nhiều
người có giọng hát khá đủ phục vụ quan viên. Mặt khác,
trước mắt do còn chưa có phong trào thì nên tuyển người
yêu ca trù ở cả nơi khác. Số này thường có ưu điểm
về chất giọng và tai nhạc khá. Ở làng phạm vi hẹp đã
bỏ nghề từ lâu làm gì còn tai nhạc để tiếp thu nhanh
được. Lớp học cụ truyền nghề suốt mấy năm ở nhà
ông Cầu đã có ai đủ khả năng đi hát được đâu. Trong
khi các học trò mới là cô Trần Thị Kim Tuyến và cháu
Nguyễn Thanh Tân (15 tuổi), vốn đều đã biết hát chèo
nên học hát khá nhanh, sau một thời gian ngắn đã hát được
vài giọng. Mới đây ba thầy trò tham gia Liên hoan ca trù
toàn quốc vào đầu tháng 10 nhân sự kiện ca trù được
thế giới công nhận là giá trị di sản phi vật thể thế
giới thì cả ba đều được huy chương, thầy màu vàng,
trò màu bạc. Được biết cô Trần Thị Kim Tuyến vốn
là con nhà nòi hát chèo ở làng Khám, từng đoạt huy chương
vàng toàn quốc. Cháu Nguyễn Thanh Tân ở làng Văn Quan từng
theo chị là diễn viên đoàn chèo Thái Bình đi biểu diễn
nên chất chèo đã có sẵn trong người.
Như vậy, ca trù Thanh Tương hiện đã có tướng, có quân
đủ bộ đi hát, nhưng tướng đã ngoài bát tuần, nếu
địa phương không mau tổ chức truyền dạy thì làng ca
trù danh tiếng Thanh Tương sẽ mất hẳn. Nhưng truyền dạy
lại vấp bao nhiêu vật cản liệu một địa phương có
đủ khả năng vượt qua không. Rõ ràng khoảng không cho
ca trù Thanh Tương xanh tươi trở lại còn hẹp lắm.