Thương Tiếc Băng Sơn - Một Đời “Tu Chợ”



MAI THỤC


          Hồ Gươm. Xuân Kỷ Sửu 2009. Đồng hồ quay ngược về Thăng Long nghìn tuổi. Tháp Bút- Đài Nghiên tới tấp “Tả Thanh Thiên” qua internet. Nhà văn Băng Sơn mái đầu bạc trắng phiêu diêu tình Hà Nội, dạo quanh Tháp Rùa. Chúng tôi đi tìm “Hồn Hà Nội tan vào mây cao”.

       Tình yêu Hà Nội đã nâng Băng Sơn thành “Lão Tử” thời @. Người Hà Nội- Việt Nam, sau gần một thế kỷ chinh chiến, bừng nhớ Thú ăn chơi người Hà Nội (NXB Văn hóa Thông tin- 2008) cùng Băng Sơn.

           Cách ăn chơi, và phong độ hào hoa, tao nhã, vẻ thâm trầm linh thiêng của người Thăng Long- Hà Nội nảy sinh khi mảnh đất này được chọn là Kinh kỳ- Kẻ Chợ nghìn năm trước.

        Các thời đều có văn nhân, nghệ sĩ say đắm ngợi ca vẻ đẹp cảnh quan, hồn người và lối sống riêng có của Long thành, nâng nó thành nghệ thuật, thành tư tưởng, văn hóa, minh triết Việt Nam.

         Tiếc thay, thế kỷ XX, có một thời đằng đẵng, lê thê, không ai dám viết về cái sự ăn ngon, mặc đẹp của Hà Thành.

       Đầu thế kỷ XX, Thạch Lam viết “Hà Nội băm sáu phố phường” mất sớm vì lao lực.

     Vũ Bằng lưu lạc phương Nam, bởi nhớ thương Hà Nội mà viết “Thương nhớ mười hai”.

       Nguyễn Bính cũng phải ly hương để một đời khắc khoải thương “Hoa đào từng cánh rơi như tưới”…

       Những năm 1960. Nguyễn Tuân viết Phở Hà Nội bị “qui tội”. Nhưng các bậc thầy đó, vẫn kịp để lại “Hà Nội băm sáu phố phường”, “Miếng ngon Hà Nội”, “Thương nhớ mười hai”, “Tùy bút Nguyễn Tuân”… như những ngọn nến, truyền đời sau nhân rộng, tỏa lan tới Băng Sơn và thế hệ đàn em của ông.

      Tình yêu Hà nội trong Băng Sơn như men rượu ủ trong bình cổ đêm trường, đợi nắng Xuân.

        Những năm 1990, người Hà Nội trỗi dậy đi tìm mình. Các báo mở thêm trang, dành chỗ cho người yêu Hà Nội với nhiều thể loại phong phú. Tản văn Hà Nội của Băng Sơn tung ra. Người đọc như được tắm gió lành. Những sinh hoạt hằng ngày trong từng con phố nhỏ, ngõ sâu, căn gác hẹp: Bữa ăn ngày thường, Cơm nắm, Bánh đúc, Bún riêu, Gia vị, Món luộc, Chơi lá, Hoa cúng, Mái tóc, Hàm răng, Xem hát, Ca nhạc ở nhà, Chuyện giày dép, Tấm thiếp, Đôi đũa, Mẹ chồng nàng dâu, Người chồng tuyệt vời, Bàn thờ…

       Đậm đà hơn là những cách ăn chơi ngày Tết: Mâm cỗ, Sắc xuân hương Tết, Ngày Tết lên chùa, Rau trong ngày Tết, Bánh chưng rán, Chơi Tết … trong văn Băng Sơn, dậy hương thơm, màu sắc, nâng con người trở nên biết sống khôn ngoan, tử tế hơn.

       Tản văn Hà Nội của Băng Sơn nhẹ như sương mai. Trong trẻo đến ngờ.

      - “Thế còn nỗi đau đời, anh giấu nó vào đâu?”.

       Câu hỏi gợi tình tri âm, tri kỷ, và hơi bướng bỉnh của tôi, góp giọt nước tràn Núi Tuyết.

          Băng Sơn muốn sẻ chia, tâm sự.

         Hẹn hò rất lâu, dịp Tết Kỷ Sửu này, đủ duyên, tôi đến thăm Băng Sơn tại 66- mặt phố Lê Văn Hưu, nhưng lại phải đi vào ngõ sâu số 7- Ngô Thì Nhậm.

        Cánh cửa gỗ mộc cũ kỹ mở ra khoảng trời nhỏ. Băng Sơn ở ngôi nhà hai tầng, trong phố Lê Văn Hưu thơm hương những cây long não già trầm lặng.

        Gia đình nghệ sĩ Băng Sơn- Mai Phương tụm lại ở tầng hai, không rộng, mà thơm thảo.

        Cụ long não trên trăm tuổi ngày đêm thì thầm ngoài cửa sổ ban công, xanh mát tình bè bạn. Hương café quyến rũ từ tiệm giải khát tầng một ngôi nhà 66 này, vờn quanh ông suốt tháng ngày.

        Hương phố. Hương cây. Sang đến thế! Tinh lọc đến thế. Lẽ nào chẳng có một Băng Sơn của Thú ăn chơi người Hà Nội.

     Chén trà thơm hương nhài nhè nhẹ. Băng Sơn kể chuyện đời mình phiêu bồng, lãng du Kẻ Chợ.

        Mười ba tuổi, Trần Quang Bốn phải rời mẹ, xa mái trường làng Cẩm Giàng- Hải Dương, mà mỗi lần đi học, cậu cứ ngẩn ngơ ngắm ngôi biệt thự thắm tươi hoa lá, cỏ hương của gia đình ba anh em Thạch Lam, Hoàng Đạo, Nhất Linh… lên ở với bố tại cửa hàng bán đồ điện 84- Cầu Gỗ- Hà Nội.

         Vừa học tiểu học Cao Bá Quát, vừa làm “cậu giáo” dạy bọn trẻ ngõ Hàng Hành, rảnh rỗi thì lang bang ngõ nhỏ, cửa ô, vỉa hè, hàng cây Hà Nội, trèo sấu, bắt ve, chúi mũi vào các hiệu sách Bờ Hồ, giao du cùng bè bạn, hồn cây, hồn phố, hồn người Hà Nội, đêm về chong đèn viết nhật ký, làm thơ, vẽ tên bóng hồng loằng ngoằng ám ảnh… cậu Bốn lớn bổng thành thi sĩ.

        Năm 1952. Hà Nội tạm chiếm.

         Băng Sơn là chàng trai Hà Thành hào hoa, tuổi hai mươi có thơ in trên nhiều báo. Nhờ chất giọng ngâm thơ hào sảng, chàng đóng vai chính trong kịch thơ Con tôi về giữa mùa xuân (kịch bản của Giang Quân).

       Từ đấy, có một Băng Sơn sống cùng Hà Nội nghệ sĩ hết cõi thực, sang cõi mộng, bay tới cõi vô cùng.

      Đọc thơ Băng Sơn do nhà thơ Vân Long (bạn thủa mười ba đến giờ của ông) trích dẫn, tôi nghĩ nếu Thơ Mới không chết yểu, thì Hà Nội sẽ có một Băng Sơn “Liêu Trai thơ”:

            “Đèn lay nghe gió chuyển mình/ Tiếng ma loạt xoạt gọi tình ngoài cây/ Nửa đêm là phút đầu ngày/ Lá rùng sương lạnh người gầy cùng đêm”. (Nửa đêm chợt tỉnh- Tập thơ Hai người- NXB Văn Hóa 1992)

        Vân Long kể: “Hằng đêm anh trò chuyện với Bồ Tùng Linh trong sự tĩnh lặng đến gai người, nhất là những đêm mất điện, leo lét một ngọn nến: “Nửa đêm thắp nến gọi ma về…”, “Em đã thành không sao cứ về gõ cửa/ Căn hồn xưa…”

          Hà Nội tạm chiếm.

         Băng Sơn và các nghệ sĩ Hà Thành lắt lay bên “Thềm lá nắng rơi đầy” tụm bên nhau, sống đời nghệ thuật với những ban kịch nói, kịch thơ, Thơ Mới, những tờ báo Nhân văn… sau này họ đều trở thành những tên tuổi khó quên: Thế Lữ, Đào Mộng Long, Trúc Quỳnh, Song Kim, Ngô Quân Miện, Trần Huyền Trân, Quách Thị Hồ… Họ sống và yêu mảnh đất Hà Thành tận li ti huyết mạch. Giờ đây, hồn họ vẫn đang phiêu diêu cùng Hà Nội đổi thay.

         Số hiếm hoi còn lại, có vợ chồng Băng Sơn- Mai Phương. Băng Sơn cùng bạn lập đoàn kịch, diễn vở Cô gái nước Tần của Hoàng Cầm- đang là trưởng đoàn văn công quân đội kháng chiến. Băng Sơn- Mai Phương thủ vai Tần Vũ- Tần Huyền Cơ.

        Mai Phương- con gái nhà lành, theo đạo Thiên Chúa, vượt trăm, núi ngàn sông, gót giày đinh Pháp, trở thành “người vợ tấm mẳn” (chữ Vũ Bằng tặng người vợ Thương nhớ mười hai) của chàng nghệ sĩ Băng Sơn nghèo, đau ồm…

        “Đầu bạc răng long”, xuyên hai thế kỷ sấm chuyển, lửa nung, mưa gió luân hồi, Băng Sơn- Mai Phương sống bên nhau thắm tình chồng, nghĩa vợ, tình mẫu tử, ông bà, cháu chắt…

        Năm mươi năm, ông bà làm “đám cưới vàng” trong khách sạn sang, vẫn dâng Đất- Trời Hà Nội và mời bạn cơm nắm muối vừng, gói trong lá sen xanh, thơm hương bùn đất quê nhà, đúng kiểu cách “Băng Sơn”.

       Năm 1954. Hà Nội giải phóng. Nghệ sĩ bốn phương gọi nhau về. Họ mơ cùng xây ngôi nhà Nghệ thuật, tỏa ánh sáng, hương thơm, xây đời hạnh phúc, bình yên, bay bổng. Thế rối Tan giấc mơ hoa (Hoàng Giáp). Giọt mưa thu

(Đặng Thế Phong) thánh thót rơi, tan tành thế kỷ.

       Băng Sơn thành Núi Tuyết. Im bặt nhịp Liêu Trai.

        Thế rồi! Dãy Trường Sơn bốc cháy. Lớp lớp nghệ sĩ đàn em phải xông pha trận mạc.

       Thế rồi! Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (Nguyễn Tuân), Hà Nội Máu và Hoa…

       Băng Sơn ở đâu trong rừng cờ đỏ ấy?

       Nhờ chữ nghĩa và chút tài vẽ vời, ông được làm tuyên truyền cho Bộ Thủy sản, và sang ngành Ăn uống Hà Nội. May hơn khôn. Băng Sơn có cơ hội đi đó, đi đây, đi khắp núi đồi, đồng bằng, sông biển Bắc kỳ, vẫn giấu trong tim tình nghệ sĩ đậm thương giống nòi…

        Song, người cầm bút đích thực làm sao rời nổi trang giấy khi lồng ngực còn phập phồng hơi thở! Bạn cũ mời về viết cho tờ Độc Lập của Đảng Dân chủ, dù Băng Sơn không phải Đảng viên.

       Ông bảo: “Tôi không vào Đảng nào. Chỉ thích viết văn thôi”.

          Làm báo thời ấy cần đúng chính sách, chủ trương. Không nghệ thuật ngôn từ. Không sai chính trị.

        Băng Sơn “cầy” nhanh thoăn thoắt, đủ số chữ nộp tòa soạn, trên chiếc máy chữ Đức, mà ông “sắt son” cùng nó đến bây giờ.

         Thời gian quí giá, ông dành cho Hà Nội phố. Lang thang một mình tìm lại thú vui xưa. Lang thang kiếm sống, đỡ gánh nặng áo cơm, cùng Mai Phương nuôi hai con bằng tài cắt dán những mảnh vải nhung màu thành đủ loại hoa, làm thiếp chúc Tết bán.

          Lang thang bên những bạn cùng “chất nghệ” nhâm nhi chút rượu nút lá chuối khô, thầm thì những câu thơ như vàng rơi, ngọc rắc….

         Gió đêm Hà Nội lùa khe cửa. Băng Sơn viết đoản văn, tùy bút. Bản thảo chồng thành đống. Không báo nào chịu in. Cứ viết.

     Năm 1988. Hà Nội thời mở cửa. Cái đống bản thảo im lìm phủ bụi của Băng Sơn bỗng mọc cánh bay. Báo chí Nam- Bắc đua nhau in bài. Hàng chục cuốn sách ra đời: Thú ăn chơi người Hà Nội, Nghìn năm còn lại, Cái thú lang thang, Thấp thoáng hồn xưa, Áng văn ẩm thực, Ứng xử đời thường, Tiếng ru hồn…

        Băng Sơn trở lại là mẫu người viết tài tử  đầu tiên, sau gần một thế kỷ vắng bóng (Vũ  Trọng Phụng, Tản Đà, Thạch Lam, Vũ Bằng…).

           Đảng Dân chủ giải tán 1987, Băng Sơn thành nhà văn, nhà báo tự do.

        Không nhận lương của cơ quan, tổ chức, tòa soạn nào. Không nô lệ bất cứ cái gì. Ông sống bằng tiền nhuận bút còm. Không cầu cạnh.Vẫn phong lưu. Ai hỏi Băng Sơn làm việc ở đâu? Ông vuốt mái tóc bạch kim bồng bềnh như sóng, tự hào: “Tôi là kẻ lang thang”.

         Xuân Kỷ Sửu, bảy mươi sáu tuổi, ông vẫn ngồi gõ bài cho các báo đặt, trên chiếc máy chữ hòa cùng hơi thở của ông năm mươi năm có lẻ. Âm thanh lách cách, đều đều, những con chữ nhảy múa, lấp lánh hồn ông, hồn Hà Nội…

     Băng Sơn trò chuyện cùng tôi bên lọ hoa tươi màu vàng nắng, màu tím thủy chung, trên tường có hai bàn thờ, một thờ Chúa, một thờ Phật:

- Cô hỏi, nỗi đau đời anh giấu vào đâu?

- Phải quên nó đi, em ạ.

    Đời anh, những cái bực mình nhiều vô kể. Quên nó đi.

Gặp chuyện đau đời. Biết mình không làm gì được. Quên nó đi. Cái  Ác nó ập xuống đầu mình. Đẩy nó ra. Quên nó  đi. Giữ cho tâm hồn mình trong sáng mới sống được. Cả đời chưa bao giờ mình để ý đến của cải, chức tước, ganh đua, tranh giành hơn thiệt với ai. Họ tranh thì mình chạy. Tuổi hai mươi cùng Vân Long đọc triết lý Dương Vương Minh. Cái triết lý trung dung, vừa phải. Vật chất như lò lửa, ai dại dột lao vào, nó thiêu trụi sự sống của mình. Anh bị mất mặt tiền tầng một nhà 66- Lê Văn Hưu, gia đình để lại. Nó thuê làm tiệm cafe. Nó chiếm. Nó chiếm cửa trước, mình đi sân sau. Không kiện cáo gì. Kiện làm sao nổi giữa chợ đời. Mình là hàn sĩ. Tiền đâu? Thời gian đâu mà theo kiện. Sự đời nó thế! Chợ đời, ai bán, ai mua, ai tàn, ai hại, ai phản bội, ai tráo trở, dối lừa… mình biết cả, nếm đủ cả. Coi như không có. Không dính vào ta. Ta có việc của ta. Trời đất của ta. Niềm vui- Hạnh phúc do ta tạo dựng.

        Phải sống. Kiếp người ngắn hơn ngôi nhà, không dài bằng cây long não ngoài kia. Cả đời theo kiện, còn thì giờ nào mà sống! Sự sống là quan trọng. Sự sống của mình phải được nâng niu từng ngày, từng giờ, từng giây. Không để cái xấu, cái Ác nó chen vào tiêu hủy. Mỗi sáng thức dậy, ta mỉm cười tạ ơn Thượng đế, tạ ơn Mẹ cha, đã cho ta được làm người. Ngẩng cao đầu nhìn trời xanh, mây trắng, cỏ cây, hoa lá muôn màu, mỉm cười với con người và vạn vật. Nhìn vào cái Đẹp, cái Thiện, để bước đi, từng bước an bình. Lọc cho tâm hồn mình trong sáng. Mình sống như thế, tự nhiên vui vẻ lắm. Mình còn có dòng chữ ngọc trong tim. Không bao giờ cạn. Ngồi vào máy chữ là quên hết. Viết cái yêu để chống cái ghét. Viết cái đẹp để quên cái xấu. Truyền tình yêu cuộc sống, nâng con người đứng dậy. Đã là người ai mà chẳng giống ai. Ai cũng cần được tiếp thêm dòng nước mát yêu thương và cái Đẹp, giúp tăng năng lượng và trí lực, mở đường mà đi trong kiếp sống hữu hạn, nhọc nhằn…

       Băng Sơn tặng tôi cuốn Trăm ngôi nhà nghệ sĩ Hà Nội (NXB Thanh Niên- 2008). Tập tùy bút ông viết âm thầm mười năm “Xin thắp lên một cây nến trắng, gọi hồn phố, hồn nhà” . Tôi đọc một mạch. Cảm giác bồn chồn. Nỗi ám ảnh thường trực. Hóa ra, hồn “Liêu Trai thơ” không mất trong Băng Sơn. Nó biến ảo thành “Liêu Trai văn”. Bao nhiêu năm, bấy nhiêu ngày, Băng Sơn thức trò chuyện cùng âm hồn Hà Nội. Bạn của ông năm, sáu chục năm qua, lần lượt về thiên cổ. Cõi trần, họ sống bên nhau. Cõi âm, hồn lại trở về. Băng Sơn trò chuyện với người này, đến người khác, và dẫn ta đi thăm những ngôi nhà họ đã từng ở, từng vật vã áo cơm, từng yêu thương, khổ đau và sáng tạo, hiến dâng cuộc đời. Với Nguyễn Hà, bạn thân số một của ông, hồn luôn ẩn hiện, thấm đẫm từng con chữ, tràn ngập căn phòng hẹp tầng hai 66- Lê Văn Hưu… Hà Nội Âm thế kỷ XX và Hà Nội Dương gặp nhau trong cuốn sách này.

        Trăm ngôi nhà nghệ sĩ Hà Nội- Những ngôi nhà không ra nhà, những gác xép, chuồng chim, căn hộ, góc đền Ngọc Sơn, góc phố cổ, ngõ sâu, xóm bụi cửa ô, ngoại thành… nay cái còn, cái mất, cái xây lên, cái bị chiếm… nhưng thẳm sâu một Hà Nội nghệ sĩ linh thiêng, còn vẹn nguyên, đầy ắp những linh hồn : Đào Mộng Long, Thế Lữ, Trúc Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Hà, Trần Lê Văn, Quang Dũng, Vũ Bão, Vũ Bằng, Trần Huyền Trân, Quách Thị Hồ, Chế Lan Viên… Cả những người bạn chưa nổi tiếng, nhưng đã sống hết mình, hiến dâng cho kho tàng tình yêu Hà Nội, Băng Sơn cũng nhớ, cũng tri ân.

         Lẽ vô thường là thế! Kiếp người sinh, lão, bệnh, tử. Quả đất ngầm rung chuyển từng tích tắc.

      “Ta là ai, chiếc bóng hay sự vĩnh hằng? Con người không thể chỉ là chiếc bóng mờ nhạt đi qua trái đất không để lại chút gì. Phải sống, cho dù là hoang tưởng rằng ta cũng là một hạt cát, hoặc hạt cát của một hạt cát, lắng xuống một lớp miền nào đó, hội tụ vào đâu đó, để rồi sẽ hồi sinh…”(sđd- trang 310)

     Thấu lẽ vô thường. Băng Sơn đã một đời “tu Chợ”. Không ai ép buộc. Tự mình gạn lọc, khơi trong hồn mình. Ông ăn bằng mắt, yêu cũng bằng ánh mắt, nụ cười, và hồn Liêu Trai diệu nghệ... Đau đời thì đi tìm cái Đẹp, viết ra tặng đời. Chẳng phải tu khổ hạnh, ép xác, không gồng sức, căng gân, hay giả dối, “tu Chợ” là phương sách Băng Sơn nâng niu sự sống mong manh nhưng rất thiêng liêng của mình.

       Đêm sâu. Đọc Trăm ngôi nhà nghệ sĩ Hà Nội, thao thức không yên, tôi phải ngồi dậy tham Thiền, nguyện cầu linh hồn nghệ sĩ siêu thăng tịnh độ.

        Nghệ sĩ khi sống dâng trọn khối óc, trái tim, tâm hồn, năng lượng… của mình cho đời. Họ yêu trần thế chẳng muốn rời xa và còn nhiều việc chưa kịp làm, nhiều điều oan trái. Họ khó siêu thăng. Gặp hồn bạn Dương gian thương yêu, linh hồn về quấn quýt. Người ta đồn rằng những hồn ma nổi tiếng của HollyWod còn ẩn hiện trong những ngôi nhà, trong căn phòng họ từng sống. Nhất là những người chết trẻ. Năng lượng của họ còn nhiều, nên bóng hình không mờ phai. Cầu siêu là tri thức bí ẩn đạo Phật truyền cho nhân loại mà chúng ta chưa biết. Có thể tiếng chuông, tiếng nguyện cầu là năng lượng tình thương, nâng linh hồn siêu thoát.

         Cách đây gần hai tháng, hình như linh hồn nhà văn Nguyễn Minh Châu giục tôi viết email cho Hồ Anh Thái: “Chị mơ cùng Thái đi tìm nhà sư nào đó xây một ngôi chùa cầu siêu cho các văn nghệ sĩ, trí thức chân chính của đất Việt... Giấc mơ ban ngày của chị có vẻ ảo, nhưng ngẫm kỹ là lẽ thật.” Văn sĩ họ Hồ viết lại: “Chị ơi! Việc ấy thật là cao quí, và có vẻ xa xôi, nhưng em nghĩ cũng có người sẽ làm được”. Hồ Anh Thái viết thêm tiêu đề email khẳng định: “ Sẽ làm được”.

         Giấc mơ ấy của tôi, không ai làm được, cũng chẳng sao, vẫn còn những tấm lòng trong sáng, biết yêu thương thông hai cõi Âm- Dương như Băng Sơn là đủ. Khi những dòng chữ ngọc “Chân- Thiện- Mỹ” tung bay giữa thanh thiên bạch nhật, nó sẽ nhân lên đến vô tận, vô cùng. Nó truyền đi năm tháng và không bao giờ chết.

         Băng Sơn đã sống giữa chợ đời đen bạc, giữa Kẻ Chợ giang hồ rung chuyển thế kỷ XX, và tự nguyện một đời tu Chợ bởi ông sớm ngộ lẽ vô thường, để nâng niu sự sống và tồn tại, dù một chấm sáng nhỏ nhoi sau cái chết:

                          Ngoài phố mưa bay Xuân bốc rượu
                        Tấc lòng mong mỏi cháy tê  tê
                          Hỡi ơi bạn tác ngoài thiên hạ
                         Chẳng đọc thơ ta cũng ắt về…

            (Thơ Thâm Tâm nhớ Trần Huyền Trân - Băng Sơn trích dẫn)

 ______________________________________________
 
Hồ  Gươm Xuân Kỷ Sửu 2009 
Hồ  Gươm ngày đầu Thu 2010 Băng Sơn nhẹ cánh bay.     
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 06.09.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com