"NGÀY 29- 6- 2010 TẠI CHÙA BÁI ĐÍNH, XÃ GIA SINH, HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH, VIỆN NGHIÊN CỨU TÔN GIÁO ĐÃ TỔ CHỨC HỘI THẢO KHOA HỌC "PHẬT GIÁO THỜI ĐINH VÀ TIỀN LÊ TRONG CÔNG CUỘC DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC".

NEWVIETART HÂN HẠNH GIỚI THIỆU CÙNG ĐỘC GỈA BÀI THAM LUẬN CỦA NỮ VĂN SĨ MAI THỤC.

-  THIỀN SƯ -
NGƯỜI TRÍ THỨC THỜI ĐẠI



MAI THỤC


Hình tượng “Thiền sư- người trí thức thời đại” xuất hiện ở Việt Nam rất sớm.

Đầu thế kỷ III, Khương Tăng Hội đã truyền bá Thiền học tại Việt Nam, trước khi Thiền sư Tỳ-Ni- Đa- Lưu- Chi, người Ấn Độ, đến chùa Pháp Vân (chùa Dâu) vào năm 580.

Thiền của Khương Tăng Hội là An Ban Thiền, tức là phép tu Thiền niệm hơi thở ra, thở vào do chính Phật Thích Ca Mâu Ni truyền dạy cho các đệ tử khi ngài còn tại thế.

Khương Tăng Hội là ông tổ Thiền học Việt Nam.

Cha mẹ Tăng Hội sinh quán ở Khương Cư (xứ Udơbếch), di cư sang Ấn Độ, rồi sang buôn bán và lập nghiệp tại Giao Châu. Tăng Hội sinh ra trên đất Giao Châu. Mười tuổi, cha mẹ đều mất, Tăng Hội xuất gia học Phật ở Giao Châu, tu tập tinh tiến. Ông thông minh, tính tình chân thật, chăm học kinh điển, giỏi cả Phạn ngữ và Hán ngữ. Khương Tăng Hội thông hiểu tam tạng, lục kinh, toán, số, thiên văn, văn chương và chính trị.

Khương Tăng Hội dịch nhiều kinh chữ Phạn ra chữ Hán và viết tựa kinh An Ban Thủ Ý, biên tập chú sớ các kinh khác.

Sau một thời gian hành đạo ở Giao Châu, biết miền Giang Đông- Trung Quốc chưa có đạo Phật, Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp, thủ đô nước Ngô vào năm 247 cất một túp lều tu và mở trường giảng Phật.

Vua Ngô Tôn Quyền thấy Ngài đức độ, thông thái, uyên bác, nhiều phép lạ, giáo hoá dân sống thiện, lấy làm tín phục và xây dựng ngôi chùa Kiến Sơ, thỉnh Ngài về dạy đạo Phật, làm cho Phật giáo nơi đây thịnh hành. Ngài tịch khoảng năm 280.

     Sách “Lương Cao tăng truyện” của Huệ Hạo (Trung Quốc) đánh giá cao Khương Tăng Hội: “Một người trác tuyệt và có đặc tài, học thức và cởi mở, tính tình chân thực, thích nghiên cứu. Ông giảng Tam tạng kinh điển thật rõ ràng, khảo sát lục thư với tinh thần vô cùng khoáng đạt, đọc nhiều sách thiên văn, và cả những sách không thuộc nội điển… giỏi công xảo và là một thiên tài văn chương”.

       Khương Tăng Hội là hình mẫu “Thiền sư- Người trí thức thời  đại” đầu tiên của Việt Nam, được vua trọng dụng và nhân dân tin kính.

       Sau Khương Tăng Hội, các Thiền sư Việt Nam với phương pháp tu Thiền, đã sản sinh nhân cách Thiền sư- người trí thức, góp phần vào sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây nền văn hoá dân tộc.

     Có thể kể ra rất nhiều tên tuổi các Thiền sư- người trí thức buổi đầu như: Thích Đạo Thiền, Thích Huệ Thắng, Pháp Hiền, Cảm Thành, Thiện Hội, Trưởng lão La Quí… đều là những bậc khai sáng xã hội, giúp vua điều hành vận nước. Họ luôn hiện rõ bản lĩnh người trí thức. Trưởng Lão La Quí (852- 936) di chúc:

Trị minh vương tắc xuất
Ngộ ám tối tắc tàng

                 

Dịch: 

“Gặp vua sáng thì hiện
Thấy vua tối nên ẩn”

        Nhân cách “Thiền sư- người trí thức thời đại” như trên, đã xuất hiện nhiều vào thời Đinh và tiền Lê, là Tinh hoa Phật giáo qua các mặt văn hoá, tư tưởng, chính trị, cùng vua dựng nước và giữ nước, sản sinh ra những nhân vật Phật giáo trí thức- Tinh hoa dân tộc.


  I . Bối Cảnh Chính Trị- Xã Hội thời Đinh & tiền Lê:

    Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 983, đã chấm dứt thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc, xây dựng một Nhà nước độc lập từ đây.

      Nhà nước non trẻ, phải chống chọi với nhiều thế lực bên trong và bên ngoài. Ngô Quyền mất (939- 967). Loạn mười hai xứ quân. Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lên ngôi, lập nước Đại Cồ Việt (968- 980). Loạn cung đình, cha con Đinh Tiên Hoàng bị giết. Lê Hoàn lên ngôi (981- 1009). Lê Hoàn mất, cung đình loạn. Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi và dời đô về Thăng Long, xây dựng một nước Đại Việt hùng cường, phát triển đến ngày nay.  

   Từ cố đô Hoa Lư đến Thăng Long- Hà Nội một nghìn năm qua là trang sử hào hùng của dân tộc với cuộc dời đô vĩ đại, xây nên Nhà nước Việt Nam trường tồn.

           Chúng ta không quên những ngày đầu dựng nước thời Đinh và tiền Lê. Thời đại anh hùng ấy, chưa đầy hai mươi năm, gặp nhiều khó khăn, nhưng đã cha ông ta vượt lên, xây thành đắp luỹ kiên cố về chính trị, văn hoá, tư tưởng, tâm hồn dân tộc Việt mà Phật giáo giữ vai trò Quốc đạo, trồng hoa thơm, trái ngọt cho hôm nay.

        Cuối thời Bắc thuộc Phật giáo đã lan rộng khắp mọi miền cả “An nam đô hộ phủ” (tức đất nước ta). Đã xuất hiện một lớp cao tăng người Việt (trong đó nhiều người đã học ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương) hiểu biết, tinh thông chữ  Hán, Phạn, đóng góp cho sự xây dựng và bảo vệ đất nước, được nhân dân coi trọng, là những trí thức thời đại.

        Khi đất nước độc lập, tầng lớp Thiền sư- người trí thức thời đại được vua chọn làm điểm tựa về tinh thần, văn hoá, tư tưởng, cùng vua xây dựng và quản lý đất nước.

         Những trung tâm Phật giáo lớn ra đời. Trung tâm Đại La với chùa Khai Quốc, đến giữa thế kỷ X là nơi tu hành của Thiền sư Vân Phong. Học trò của ông là Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu- trở thành người “giúp nước Việt” thời Đinh Tiên Hoàng & tiền Lê.

        Thời Đinh & tiền Lê, một trung tâm Phật giáo được xây dựng tại kinh đô Hoa Lư mà những ngôi chùa cổ trong hang núi còn thơm hương khói đến ngày nay.

        Cảnh điêu linh, loạn lạc mười hai sứ quân thúc đẩy người dân tìm đến Phật giáo. Và những tướng lĩnh, vua quan, cũng cầu mong bình an, sám hối mà tìm đến Phật. Nam Việt vương Đinh Liễn, con trai Đinh Tiên Hoàng, sau khi giết em ruột mình, đã cho dựng ở Hoa Lư một trăm cột kinh bằng đá, cầu vong hồn em siêu thoát, cầu cho mình giữ được chức tước, bổng lộc lâu dài, và ăn năn sám hối…

        Đinh Tiên Hoàng sau khi lên ngôi đã công nhận Phật giáo giữa triều đình, qui định các cấp bậc tăng đạo song song với các cấp bậc quan lại văn võ, cùng lo việc nước. Nhà sư Ngô Chân Lưu được cử làm Tăng thống- chức quan đứng đầu Phật giáo, được ban hiệu là Khuông Việt đại sư (933- 1011). Trương Ma Ni được cử làm Tăng lục, dưới chức Tăng thống…

        II. Tinh hoa Phật giáo thời Đinh & tiền Lê- các “Thiền sư- người trí thức thời đại”:

Một câu hỏi đặt ra:

Tại sao Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành lại chọn Phật giáo làm quốc đạo?

Nhiều ý kiến đã trả lời câu hỏi này. Nhưng theo chúng tôi, có một lý do rất gần và rất thực là các Thiền sư đã tỏ rõ vai trò, nhân cách người trí thức thời đại. Họ học Phật Thích Ca Mâu Ni, thông thái, quảng đại, nhìn xa, trông rộng, thấu lẽ vô thường, thấu kiếp người “sắc sắc, không không” nên hết lòng yêu nước, yêu dân, thương người, sẵn sàng đóng góp trí tuệ siêu việt của mình vào việc dựng nước. Họ hiểu đời người là giả tạm, nên không tranh giành, ham hố quyền lực, của cải, ngôi báu, cũng không phụng thờ một cá nhân nào, không sở hữu và bám víu bất cứ điều gì. Họ tâm nguyện tìm phương cách sống có ích cho cộng đồng trong kiếp người ngắn như hơi thở, sống an nhiên tự tại và giải thoát vòng sinh tử luân hồi.

Bởi thế, vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành, tin cậy họ, nương tựa vào họ để xây dựng cung đình và Nhà nước phôi thai.

Có thể chứng minh nhân cách rực rỡ và trí tuệ siêu việt của họ qua Khuông Việt đại sư và các Thiền sư thời Đinh và tiền Lê.

Khuông Việt đại sư- người có trí tuệ siêu việt hay sách Phật thường gọi là trí tuệ Bát Nhã, bản lĩnh vững vàng, tầm nhìn vượt xa thời thế. Được Vua Đinh trọng đãi, Ngài tận tâm phụng sự việc nước.

Ngài nhìn rõ qui luật chuyển động xã hội và những rối loạn tất yếu của triều đình buổi đầu trứng nước.

Đinh Tiên Hoàng bị giết, loạn cung đình. Lê Hoàn thay ngôi, các tướng lĩnh trung thành của vua Đinh đều chống lại Lê Hoàn, nhiều người bỏ triều  chính, không hợp tác, có người chết theo vua Đinh…

Khuông Việt đại sư đứng cao hơn thời cuộc. Ngài không phục vụ cá nhân ông vua nào, mà đem trí tuệ và tình thương của mình phụng sự nhân dân, đất nước. 

Vua Đinh chết. Khuông Việt lại ra sức giúp Lê Đại Hành dựng nước và giữ nước. Bao nhiêu việc binh, việc nước, Lê Đại Hành đều cùng sư bàn thảo. Vua cử sư làm ngoại giao, tiếp sứ nhà Tống. Khuông Việt đại sư làm những bài thơ giao hảo, nâng tầm vua Lê Đại Hành ngang vua Tống và tỏ tình cảm hữu hảo với nước lớn, tránh binh đao.

Tuy lo việc nước, được vua tin yêu, nhưng Khuông Việt đại sư không ham quyền lực, của cải. Ngài một lòng hướng về Phật pháp. Sư viện lẽ già yếu xin từ quan về quê dựng chùa Phật Đà trên núi Du Hý, làng Cát Lợi, quận Thường Lạc tu tập, học giả bốn phương tụ hội rất đông.

Năm 79 tuổi, trước khi ngồi kiết già thị tịch, sư đọc bài kệ:

Mộc trung nguyên hữu hoả
Hữu hoả, hoả hoàn xanh
Nhược vị mộc vô hoả
Toản toại hà do manh.

(Trong cây sẵn có lửa
Có lửa, lửa lại sanh
Nếu bảo cây không lửa
Cọ xát làm gì sanh)

Đại sư Khuông Việt hiểu qui luật của vạn vật, con người và thời cuộc ở tầm siêu thức. Ngài đã sống và hành động trên cái tầm hiểu biết cao đó, để phục vụ Tổ quốc, nhân dân. Ngài biết vươn lên đỉnh cao trí tuệ và tình thương, sống có ích cho đồng loại trong kiếp luân hồi ngắn ngủi.

Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (915- 990) được gọi là “bác học, hay thơ và có tài vương tá, hiểu rõ việc đời” đã giúp vua Lê Đại Hành vận trù kế hoạch dựng nước rất đắc lực. Lê đại Hành hỏi vận nước, sư trả lời bằng một bài kệ:

Quốc tộ như đằng tạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

         

Dịch:

Vận nước như mây quấn
Trời Nam hưởng thái bình
Vô vi trên điện các
Chốn chốn hết đao binh

Rất tiếc, chẳng có vị vua nào thực hiện nổi phương châm “Vô vi trên điện các” mà Thiền sư Đỗ Pháp Thuận nhắn gửi.

Thiền sư Vạn Hạnh- làng Cổ Pháp, gia đình đời nối đời thờ Phật. Ngài thông thái khác thường, 21 tuổi xuất gia, thông Tam học và nghiên cứu Bách luận, vẫn xem thường công danh, phú quí. Sư Vạn Hạnh có khả năng tiên tri, mỗi lời ngài nói, dân chúng đều cho là lời sấm ký.

Niên hiệu Thiên Phúc năm thứ nhất (980), Hầu Nhân Bảo (tướng Tống) kéo sang đánh nước ta. Lê Đại Hành mời sư đến hỏi, sư đáp “trong ba, bảy ngày thì giặc ắt lui”. Quả đúng như lời sư đoán.

Lê Đại Hành chết. Lê Ngoạ Triều ở ngôi quá tàn bạo, mọi người đều oán ghét. Sư Vạn Hạnh biết thời thế suy tàn. Ngài không ngoảnh mặt trước cơn bĩ cực của xã hội. Bằng tình thương và trí tuệ, sư Vạn Hạnh vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi qua những lời sấm ký. Thiền sư Vạn Hạnh- người trí thức sống trong thời đại rối ren, đã sáng suốt nhìn xa rộng, nuôi dạy và giúp Lý Công Uẩn thành một đức vua anh minh, tầm nhìn Thiên niên kỷ, để Việt Nam có một Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi.

Năm 1018 Sư Vạn Hạnh tịch. Ngài để lại bài kệ nổi tiếng, là triết lý sống cho con dân Việt muôn đời:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thạnh suy vô bố uý
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô

(Thân như bóng chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu đượm hồng
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông)

Triết lý sống của Thiền sư Vạn Hạnh như ngọn đăng truyền sang các Thiền sư thời Lý- Trần và muôn đời sau, để văn hoá Việt Nam có Triết lý nhân sinh Phật giáo Lý- Trần, Thiền Trúc Lâm Yên Tử với đội ngũ các Thiền sư- người trí thức thời đại, mở mang văn hoá, trí tuệ, dựng xây đất nước. Tiêu biểu là Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập Thiền Trúc Lâm Yên Tử, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, triết lý sống căn bản của người Đại Việt, xây nên văn hiến Đại Việt, để “Non song muôn thuở vững âu vàng”.


III. Thiền Học & Trí Tuệ Siêu Việt:

Nghiên cứu tinh hoa Phật giáo toả sáng từ các Thiền sư- người trí thức thời Đinh và tiền Lê, chúng tôi nhận thấy mấy đặc điểm sau:

. Một là, các vị Thiền sư giác ngộ đạo Phật. Đó là một đạo sống, con đường sống, một triết lý sống. Đạo Phật đã dạy con người phương thức sống và suy nghĩ, một lối thực hành trong đời sống cá nhân, để diệt khổ, tiến tới giác ngộ và giải thoát.   

. Hai là, các Thiền sư học Phật, tu theo Phật, thấu lẽ vô thường, tự thực hành giải thoát khỏi xiềng xích của dục vọng, diệt tham, sân, si, sống an lạc, tự tại, xoay lại tìm mình, tu thân theo Bát chính đạo: Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định, Chính kiến, Chính tư duy.

. Ba là, Thiền học- Phép tu siêu việt:

Theo các nhà nghiên cứu Phật học, Trung tâm Phật giáo Luy Lâu- Giao Chỉ hình thành sớm nhất khu vực lãnh thổ quốc Hán. Phật giáo Luy Lâu ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ năng động, không cố chấp, không giáo điều, bình đẳng, nhiệt tình. Đạo Phật thích ứng phong tục, tập quán, lịch sử, chính trị của các quốc gia mà nó du nhập. Phật giáo Luy Lâu hoà hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thần của cư dân lúa nước.

Song rất may cho chúng ta, Phật giáo không rơi vào thần quyền, bởi các nhà sư Ấn Độ đầu tiên sang Luy Lâu đã truyền dạy Thiền như Ma Ha Kỳ Vực. Ngài giảng trước đám đông: “Giữ miệng, nhiếp thân, ý, cẩn thận, chớ phạm ác, tu hành mọi điều thiện, như vậy độ được đời”.

Kỳ Vực nhấn mạnh sự thực hành Thiền định “Tám tuổi tuy đọc, trăm tuổi không hành thì đọc ích gì. Mọi người ai cũng kính trọng người đắc đạo, nhưng không biết làm để tự mình đắc đạo. Đáng thương thay! Lời ta tuy ít, nếu người nghe theo, làm lợi sẽ rất nhiều”.

Thế kỷ III. Giao Châu xuất hiện dòng Thiền Khương Tăng Hội. Khương Tăng Hội phiên dịch chú giải nhiều kinh sách tiếng Phạn sang tiếng Hán. Trong đó có hai bộ được Chavannes dịch ra tiếng Pháp. Hai bộ này Khương Tăng Hội minh hoạ sáu hạnh Ba- la- mật của Bồ Tát: hạnh bố thí, hạnh trì giới, hạnh nhẫn nhục, hạnh tinh tấn, hạnh Thiền định và hạnh trí tuệ.

Hạnh Ba- la- mật nghĩa là đến bờ bên kia, đến đích hoàn thiện.

Trong các bộ kinh do Khương Tăng Hội dịch, có những bộ kinh có ảnh hưởng lớn đến Thiền học Việt Nam.

Bộ kinh “Bát thiên tụng Bát Nhã” sớm được Khương Tăng Hội dịch ở Giao Châu cho thấy chủ đề “chân không” có ảnh hưởng rất lớn đến Thiền học Việt Nam, đặc biệt Phật giáo Lý- Trần.

Khương Tăng Hội còn chú giải cuốn “An Ban thủ ý” dạy phép đếm hơi thở ra, vào để điều tâm. Đây là phép tu Thiền siêu việt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được Khương Tăng Hội- ông tổ Thiền sư Việt Nam, truyền sang các Thiền sư Việt, ngót hai nghìn năm qua, để họ đạt tới trí tuệ Bát Nhã, trở thành những trí thức thời đại, khai mở và phát triển văn hiến Việt Nam.

Đây cũng là phép bí truyền phương Đông. May mà ngày nay, phép “thở” này đang được truyền bá rộng rãi ở Việt Nam, châu Á, phương Tây và toàn cầu (Thiền sư Thích Nhất Hạnh viết nhiều sách dạy cách Thiền thở- dịch ra nhiều thứ tiếng).

Sau này các dòng Thiền vào Việt Nam đều chú trọng tu định, qua Thiền định mà trí tuệ Bát Nhã bừng sáng.

Phái Thiền Tì- Ni- Đa- Lưu- Chi với tư tưởng vượt lên cái “không” và “hữu” rất coi trọng việc tu định, tham Thiền. Thiền sư Quán Duyên, học trò của Lưu Chi, sau khi Thầy tịch đã “thẳng vào Từ Sơn, tu tập Thiền định, hình như cây khô, vật ngã đều quên, người đến học không đếm xiết. Thiền học phương Nam, nhờ thế mà thịnh”.

Thế kỷ IX. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang với tư tưởng “Chân lý không ở đâu xa, ở ngay hiện tiền, trong bản thân mỗi con người”. “Tâm tức Phật”.

Thiền sư Vô Ngôn Thông với phương pháp “đốn ngộ”, giác ngộ đến bất ngờ, trong phút chốc, lúc Thiền định, ánh sáng của trí tuệ Bát Nhã loé lên. Không nhiều lời vô ích.

Thiền định giúp con người tập trung tư tưởng, ý nghĩ không tán loạn, sẽ nhìn thấy sự vật với con mắt sáng suốt, đầu óc tỉnh táo, trí tuệ Bát Nhã bừng sáng và đến một trình độ tu tập nhất định, có thể đạt được quyền năng “siêu nhiên”, “phép lạ”.

Thiền định trong hơi thở giúp con người nối hai bờ tâm lý và sinh lý, trở về với chính mình trong phút giây hiện tại, tiếp xúc với cảnh giới màu nhiệm của cuộc sống. Mỗi bước đi như nở hoa sen, tâm hồn an nhiên tự tại, thêm yêu người yêu vạn vật thế gian, cảm nhận được hạnh phúc, yêu thương xoá dần những tham, giận, si mê…

Phép Thiền thở để điều tâm, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy chúng ta trên hai nghìn năm nay, tưởng dễ mà rất khó, nếu ai đó không chịu thực hành.

Những Thiền sư Việt Nam đã biết Thiền định theo Phật ngay từ thủa đất nước sơ khai, đạt tới trí tuệ siêu việt, ngôn ngữ siêu việt, làm được những việc siêu phàm, được vua và dân tôn làm người trí thức thời đại.

       Điều này đã được chứng minh và lý giải qua các nhân vật Tinh hoa Phật giáo thời Đinh và tiền Lê mà chúng tôi gọi là hình tượng “Thiền sư- người trí thức thời đại”.

        IV. Kết Luận:

Hình tượng “Thiền sư- người trí thức thời đại” nảy nở từ Tổ Thiền Việt Nam Khương Tăng Hội đến Khuông Việt đại sư và các Thiền sư thời Đinh và tiền Lê… tới ngày nay là vườn cây Bồ Đề xanh cành lớn cội, mà dòng sữa ngọt lành vô tận của nó là một kho báu Thiền học & Trí tuệ siêu việt của nhân loại và Việt Nam trường tồn, phát triển gần hai nghìn năm trong nền văn hiến Việt Nam. Kho báu này, nếu được truyền dạy trong cộng đồng, dạy từ trẻ nhỏ đến người lớn, sẽ sản sinh những nhân cách lớn, những phẩm chất tốt đẹp con người Việt Nam- Tinh hoa thời đại mới. Nó góp phần không nhỏ vào công cuộc dựng nước, bảo vệ lãnh thổ quốc gia, xây cuộc sống hoà bình, bác ái, bình đẳng và phát triển văn hoá truyền thống Việt Nam, nâng tầm vóc con người Việt Nam hiện đại lên đỉnh cao mới.

Chúng tôi đề nghị Giáo hội Phật giáo Việt Nam, các nhà nghiên cứu tư tưởng, văn hoá truyền thống, các vị lãnh đạo quốc gia, hãy cùng nhau nghiên cứu và truyền bá Thiền học Việt Nam rộng rãi trong cộng đồng Việt Nam.

Không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta đã có Phật Hoàng Trần Nhân Tông, một tấm gương rạng ngời hào quang, mở ra con đường ích nước cứu dân, với Thiền Trúc Lâm Yên Tử- đậm chất Việt Nam, tuôn chảy, nở hoa kết trái, hơn bảy trăm năm nay, trong đời sống Tinh hoa Việt.

 
 
 
 Tài Liệu Tham Khảo:
 
* Thiền sư Việt Nam (Thích Thanh Từ- NXB tp Hồ Chí Minh- 1999)
* Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Viện triết học- NXB Khoa học xã hội- 1989)
* Phật học (Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam- 1976)
* Các sách của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.
* Di tích lịch sử văn hoá Triều Đinh & tiền Lê- (NXB Dân tộc- 2007)
 
   ___________________________________________

 
 
 

Bài tham luận hội thảo khoa học “Phật Giáo Thời Đinh và Tiền Lê Trong Công Cuộc Dựng Nước và Giữ Nước”


Hà  Nội- Chùa Bái Đính- Ninh Bình 6- 2010
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 01.07.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com