NGƯỜI HÀ NỘI UỐNG NHƯ TÔI BIẾT



Kỳ thứ 3



Kem Hà Nội

Chẳng biết kem có ở Việt Nam và Hà Nội từ bao giờ. Có sách vở viết : người Trung Hoa đã phát minh ra kem sớm nhất hoàn cầu nhưng chắc chắn là kem Hà Nội không phải là sản phẩm nhập vào từ Trung Hoa dù rằng Hà Nội cũng đã trải qua nghìn năm Bắc thuộc . Người Hà Nội gọi "Crème" nhập từ tiếng Pháp là "Kem" còn dân Sài Gòn xưa nay lại gọi là "Cà Rem". Cách gọi này cũng đủ thấy rõ rằng kem Hà Nội cũng như kem Sài Gòn đều là do văn minh Pháp xâm nhập vào. Xét về niên đại, chí ít kem Hà Nội cũng phải xuất hiện sau cái nhà máy đèn do người Pháp xây dựng. Hà Nội ở xứ nóng chưa bao giờ có băng tuyết. Vậy thì muốn làm ra kem thì phải có máy lạnh mà máy lạnh thì phải chạy bằng điện. Đích thị kem phải ra đời sau cái nhà máy đèn Hà Nội là có lý lắm. Hiệu kem nào là hiệu kem cổ nhất Hà Nội thì còn phải tra cứu nhưng tôi nghe nói trên Bờ Hồ xưa có hiệu kem Dê phia (Zéphir) là cổ nhất chẳng biết có đúng không.

Trước đây, kem là thứ giải khát đặc biệt của các thành phố. O ngoài Bắc ,muốn ăn kem phải về Hà Nội hay ra Hải Phòng, Hải Dương, xuống Nam Định mới có. Về quê đố tìm ra được hàng kem chứ không có cảnh mấy ông hàng kem bóp cái còi tí toe chở thùng kem đi bán khắp các hang cùng ngõ hẻm và cả trong các bản làng vùng sâu vùng xa như ngày nay. Chỉ mấy chục năm trước thôi, kem vẫn còn là một thứ giải khát xa xỉ của dân Hà Nội. Cả Hà Nội chỉ vẻn vẹn có mấy hiệu kem. Tôi còn nhớ vào lứa tuổi tôi lúc ấy ở Hà Nội có hiệu kem Cẩm Bình ở góc đường Phố Huế - Nguyễn Du. Gần rạp Tháng Tám cửa trại lính Khố xanh (nay là doanh trại của Công An) có hiệu kem Hồng Việt. Ngay bên bờ hồ Hoàn Kiếm có kem Thủy Tạ, kem Long Vân, Hồng Vân. O đoạn tàu tránh Hàng Bông lối rẽ ra Phùng Hưng có hiệu kem Hòa Bình. Gần Văn Miếu, trên đường Nguyễn Thái Học có kem Phi Điệp. O phố Yết Kiêu gần trường Mỹ thuật thì có hiệu kem Tiến Đạt....Nghe nói hồi mới Hòa Bình hiệu này có mấy cô bán kem mười ba mười bẩy xinh lắm khiến họa sỹ Nguyễn Sáng lúc bấy giờ đã trên bốn chục tuổi đến ăn kem cứ lăn lóc mê tơi.

Tôi con nhà nghèo, ngày ngày cắp cặp đi học qua chợ Hôm, đi qua cửa hiệu kem Cẩm Bình Phố Huế rồi rẽ đường Nguyễn Du để đến trường Quang Trung. Đi qua hiệu kem sang trọng này nhìn vào thấy người ăn đông lắm chẳng mấy khi có tiền mua kem. Trong cửa hàng những chiếc quạt trần cánh gỗ sơn đen xen sản xuất từ đầu thế kỷ lẫn những chiếc quạt Marelli mà người Hà Nội thường gọi là quạt trần bát điếu là loại sang nhất lúc bấy giờ quay vù vù. Quạt trần thời ấy cũng là một vật dụng tương đối xa xỉ ở Hà Nội. Thời ấy cả Hà Nội tuyệt không có lấy một cái điều máy hòa nhiệt độ nào.Trên tường, người ta ghi bảng giá các loại kem. Tôi đọc thấy có kem cốc hai màu, ba màu (Mỗi màu là một loại kem . Màu nâu là sô cô la, màu hồng là kem dâu tây, màu trắng là kem dừa, kem sữa...). Kem nước là cốc si rô màu hồng được thả vào một quả kem tròn tròn bằng quả trứng gà. Kem que thì có kem đậu xanh, kem dừa, kem cốm, kem nho , kem mùi ổi, mùi mít, mùi na... Kể cũng lạ. Kem là thứ sản phẩm giải khát Tây 100% nhưng vào tay người Hà Nội thì lập tức nó phát triển thành đủ loại. Tôi đố ai tìm mua được chiếc kem cốm, kem đậu xanh, kem mít, kem xôi... ở Paris hay London đấy. Sau này, vào khoảng những năm Hà Nội phải thắt lưng buộc bụng để công nghiệp hóa đất nước. Cái thời mà khẩu hiệu nêu ra là " Ăn lạc là ăn gang ăn thép", tất cả mọi thứ lương thực, thực phẩm đều rất khan hiếm. Đường kính lúc ấy qúy như vàng chỉ giành cho người ốm thì hiệu kem Hồng Việt ở phố Hàng Bài lại nảy ra sáng kiến ép nước mía tươi rồi cho vào máy quay thành kem mía. Vừa ngon, bổ mà lại không cần đường. Tôi cũng đã có vài lần được thưởng thức thứ kem đặc biệt dân tộc, đặc biệt Hà Nội và rẻ tiền này mà đến bây giờ vẫn không quên cái vị nhàn nhạt nhưng rất thú vị của loại kem con nhà nghèo này.

Người ta kháo nhau kem Cẩm Bình chạy bằng máy mua của Nhật Bản nên kem ngon hơn. Người vào ăn đông như kiến. Thế rồi có lần tôi thấy hiệu kem này bị đóng cửa mất cả tuần lễ, nghe nói ông chủ bị phạt vì pha đường hóa học làm tăng độ ngọt của kem. Đỡ tốn đường nhưng ăn lại độc.

Ngoài các hiệu kem sang trọng rất Hà Nội này, để chiều lũ trẻ con nhà nghèo, ngoài cửa trường học hay trong các ngõ phố người ta còn thấy một số thứ kem rất rẻ tiền khác. Đó là loại kem que pha chế sơ sài nhạt toét được lũ trẻ bán rong lệch vai đeo những chiếc phích kem vỏ sắt tròn tròn như cái thùng gánh nước nhỏ rao bán khắp nơi. Phích tây làm bằng thủy tinh hai lớp có tráng gương bên trong ánh lên xanh biếc, mở nắp ra thấy những que kem thô kệch vót bằng tre cắm tua tủa. Nắp đậy là một miếng li e tròn, dày. Lúc bấy giờ chưa có dạng hộp xốp trắng cách nhiệt như các ông bán kem tò te tí te ngày nay. Lại có bọn trẻ luôn lượn lờ bên những chỗ đông người ăn kem lượm những chiếc que vứt lung tung dưới lòng đường đem về rửa đi bán lại cho chủ hiệu kem để người ta dùnglại làm que kem mới. Tiết kiệm đến thế là cùng! Cùng với lũ trẻ đánh giày, bán báo. Bọn trẻ bán kem ngày ngày đến các lò kem nhận kem đi bán rong trên tàu điện, ngoài ga hay bến tàu bến xe và các ngõ phố. Chúng vừa đi vừa rao:

"Ai Kem đi kem đi!
Tiền lành tiền nửa ăn kem!"

Lúc ấy, người ta tiêu cả tiền rách chỉ còn một nửa. đồng tiền giá hai hào rách đôi thì mỗi nửa đáng một hào. Kể cũng hay.

Có đứa trẻ bán kem còn cao hứng hát nhại bài "Anh em trong đoàn quân du kích"

"Kem đi! Kem đi!
Kem một hào hai chiếc ! Kem một hào hai chiếc!
Một chiếc hai hào!"

Loại kem rẻ tiền này được ra lò từ những máy kem bình dân. Nghe đâu trên Chợ Gạo lúc ấy có ông chủ kem người Mỹ Hào HưngYên mở hiệu kem để giao cho trẻ đi bán rong. Thấy lũ trẻ rao kem đi ngoài đường vừa rao vừa hát thì tụi học trò trên phố lại xông ra trêu chọc:

" Kem đi ! Kem đi!
Kem Mỹ Hào ăn vào đau bụng !
Kem Mỹ Hào ăn vào đau bụng!"

Hà Nội còn có kem "Tchế cố". Chẳng hiểu sao thứ kem này lại có tên lạ vậy. Phần đông những người bán Tchế cố là người Hoa. Họ thường đẩy thùng kem đặt trên xe bốn bánh hay quẩy thùng kem trên vai đi rao bán khắp nơi và tiếng rao vang từ đầu ngõ vọng vào cuốn hút lũ trẻ con nhà nghèo mỗi trưa hè nóng nực T'chế cố...Tchế cố...

Thứ kem nhạt này làm từ đường kính pha với nước hoa quả như chanh, dứa được chế tạo bằng cách quay đảo nước ngọt qua cái nắp thùng bằng tay, dung dịch kem được ủ lạnh xung quanh bằng cách chèn nước đá vụn trộn muối ăn. Thùng quay kem bằng tôn được đặt bên trong cái thùng gỗ ghép tròn chứa nước đá. Ông bán kem dừng gánh bên gốc cây, đập đá vụn trộn muối chèn quanh thùng kem rồi ra sức quay chiếc nắp của thùng kem gắn với một cái guồng bên trong. Quay một hồi mỏi rời tay, lớp tuyết trắng kết tinh xôm xốp bám quanh thùng kem và thứ nửa đá nửa kem ấy được đem đi rao bán khắp nơi trên hè đường. Tôi đã có lần đứng hàng giờ để tò mò xem mấy bác Tchế cố chế tạo loại kem này ở Bờ Hồ trước cửa đồn Công An Hàng Trống bây giờ. Chẳng biết lời lãi được bao nhiêu nhưng chế ra được thứ kem bình dân này thật vất vả quá.

Sau này, các loại kem mở ra khắp nơi, loại kem Tchế cố hầu như đã bị tuyệt chủng. May ra chỉ còn thấy ở quanh mấy chợ quê.

Thời bom Mỹ, người già, trẻ con Hà Nội đi sơ tán cả. Hà nội vợi bớt người. Mỗi khi có việc về nhà mua gạo mua dầu tiếp tế ra vùng quê sơ tán người ta lại tạt qua hiệu kem Bốn Mùa, Tràng Tiền hay chỗ bến xe Hàng Vôi sau nhà máy nước đá làm một lúc sáu bảy que kem cho đỡ thèm, đỡ nhớ Hà Nội. Nhiều đứa trẻ đi sơ tán chỉ ngong ngóng ngày nghỉ được bố mẹ đèo xe đạp dăm bảy chục cây số về ăn kem rồi lại tất bật theo người lớn thồ mắm muối dầu gạo lên sơ tán.

Sau năm 1975, nhiều người miền Bắc vào Nam lùng mua ra đủ thứ. Lúc đầu thì xe đạp, búp bê, quạt máy. Sau thì ti vi tủ lạnh Honda...Thuở ấy, dân Hà Nội nghèo quá cái gì cũng thiếu. Mua được chiếc quạt máy nội vỏ nhựa cánh nhựa tòng tọc chạy dăm bữa nửa tháng là không kêu lên sòng sọc thì cũng văng mất cánh. Trời nóng để trong giừờng trẻ vô ý đạp phải quạt đổ vướng vào màn nóng lên khét lẹt, vỏ nhựa, cánh quạt xun lại như con cóc. Người ta đổ xô chạy giấy đổi tiền vào Sài Gòn vừa để thăm người nhà và mua đồ mua hàng. Tôi nghe đám dân ngoài ga kháo nhau: có người vừa dem ra một chiếc quạt máy Nhật để bàn. Sau quạt có chỗ đổ nước. Trước khi cho quạt chạy, chỉ việc pha nước đường đổ vào lỗ sau quạt. Cho quạt chạy một hồi là có thể mở ngăn kéo dưới đế quạt lấy ra được một que kem. Nói thế mà cũng khối người tin. Thời chiến tranh bao cấp người Hà Nội khổ quá. Đến cái kem cũng là niềm mong ước nên mới sinh ra cái chuyện quạt làm kem nhảm nhí ấy.

Bây giờ kem nhiều quá. Có thể nói chưa có bao giờ kem nhiều như hôm nay. O Hà Nội người ta bán đủ kiểu kem khác nhau. Nào là Vina Miu (Vinamilk), nào là kem ý kem Mỹ 13 mùi mà chẳng biết những mùi gì mà lắm thế Bạn có thể mua phiếu kem làm quà tặng cho bạn. Ngoài hè phố, cùng với các loại chè thập cẩm, chè Thái Lan, chè cùi bưởi học được từ trong Nam ra, người ta bán cả kem xôi nữa. Chẳng biết thứ kem này là một sáng tạo mới của dân Hà Nội hay du nhập từ đâu vào ?...Cứ mở Ti vi ra là thấy hoạt hình bọn trẻ hình kem Vina Miu vừa đi vừa nhảy múa vừa hát tưng bừng Vina miu! Vina Miu! Cảnh những đứa trẻ lam lũ lệch vai đeo chiếc phích bán kem dạo cũng đã biến mất cùng với những chiếc phích kem cổ xưa.

Kem Hà Nội nay đã thừa mứa, mua bao nhiêu cũng có. Mua kem lại có quà khuyến mại, bốc thăm lĩnh thưởng....

Hà Nội đang hòa nhập với thế giới. Người Hà Nội có thể uống bia, ăn kem, uống trà Tây trà Tàu trà ấn như mọi thành phố văn minh hiện đại trên khắp hoàn cầu.

O , kem là "Crème". Kem là thức giải khát Tây. Nhưng sao lòng tôi vẫn nhớ nhung và luyến tiếc những ngày được ăn thứ kem "Tây Hà Nội" thưở nào. Nhớ những ngày Hà Nội thiếu đói, gian khổ nhưng thơ mộng và yêu thương biết mấy !

Rượu nếp

Nếu có ai hỏi " cậu uống rượu từ bao giờ ?" Tôi có thể trả lời không ngần ngại : Từ lúc lên bốn lên năm ! Đúng thế, hàng năm, cứ đến ngày tết giết sâu bọ mồng năm tháng năm, mới tỉnh giấc là chúng tôi đã nghe tiếng rao "Ai rượu nếp đây! Ai rượu nếp nào! " vang ngoài phố. Thế là mẹ tôi gọi bà hàng rượu nếp vào và mua cho mấy chị em chúng tôi mỗi đứa một bát. Cái bát rượu là thứ bát đặc biệt nhỏ tý mà lại nông choèn và đôi đũa ăn rượu nếp thì vót nhọn và chỉ nhỉnh hơn đôi kim đan một tý. Bà hàng bán rượu mở tàu lá sen tươi đậy thúng ra xới cho chúng tôi mỗi người một bát vơi cơm rượu rồi tưới lên một chút rượu nước đục đục. Mùi men rượu thơm lừng quyến rũ. Từng hạt gạo nếp đã lên men trắng ngà chín mọng. Tôi ăn dè, gẩy từng hạt vào miệng để cảm hết cái khoái của vị ngòn ngọt và hơi tê tê cay cay nồng nồng của thứ rượu thần kỳ mà mỗi năm mới được thưởng thức một lần này gọi là để giết sâu bọ. Mọi người tin rằng sáng sớm ngày mồng năm tháng năm mà ăn rượu nếp và hoa quả xanh vào thì mọi sâu bọ trong ruột sẽ chết hết nên tết này mới được gọi là tết giết sâu bọ. Mẹ tôi cũng ăn một bát, bà còn mua thêm một chai rượu cốt đã đặt trước của bà hàng rượu để uống dần. Chai rượu sánh đặc màu vàng óng như màu mỡ gà nhạt, luôn sủi những hạt tăm nhỏ li ti từ đáy chai. Mẹ tôi pha thêm chút rượu ngang để giữ được lâu và nút miệng chai bằng lá chuối khô.

Người ta bảo phụ nữ nên uống rượu nếp sau khi sinh nở cho khí huyết lưu thông. Khi có mang, nhiều bà mẹ chồng đã chuẩn bị làm hũ rượu nếp cho con dâu. Rượu nếp cả cái lẫn nước được trữ trong vò và ngâm cùng trứng gà để nguyên cả quả thêm vào dăm lạng táo tàu và chút rượu ngang. Hũ sành đựng rượu được đậy nắp thật kín bằng rơm nắm bọc lá chuối khô rồi trát tro hòa vôi bên ngoài cho thật kín, đem để chỗ khô ráo trong góc nhà hoặc hạ thổ. Trước khi hạ thổ người ta lấy đất sét để trát kín miệng vò phòng khi chôn dưới đất lâu ngày nước ngấm vào. Người vừa ở cữ uống một chén trước trước mỗi bữa ăn thì sẽ chóng phục sức và nhiều sữa. Bà tôi nói vậy.

Như vậy là bà tôi và mẹ tôi đã cho tôi thưởng thức rượu từ khi còn bé tý. Bà tôi, mẹ tôi không biết uống rượu. Các cụ uống rượu chỉ như là một thứ thuốc bổ cần thiết khi người phụ nữ sinh nở hay khi trở trời thì uống chút ít cho giãn xương giãn cốt mà thôi.

Mẹ tôi không tự tay làm rượu nếp bao giờ nhưng bà nội tôi thì lại ủ rượu rất thành thạo. Khi tuổi đã cao, bà tôi về sống cùng với chúng tôi, gần đến ngày tết đoan ngọ, cụ lại đi mua gạo, mua men về để chuẩn bị làm thúng gạo rượu nếp cho cả nhà cùng giết sâu bọ. Hàng năm, tôi chỉ được mẹ mua cho bát rượu bé tý, ăn hết bát rượu mà vẫn thòm thèm. Lần này, bà tôi tự tay làm cho cả rá tha hồ ăn nên mấy anh chị em chúng tôi khoái lắm. Có người bảo là bà tôi diệu vợi, vẽ ra cái trò ủ rượu làm gì cho tốn công. Cứ gọi bà bán rượu vào mà mua bao nhiêu chẳng có. Bà bảo : Bà đã già rồi, liệu sau này bà đi không biết có đứa nào biết làm rượu như bà nữa không ? Chúng tôi đứa nào cũng lăng xăng giúp bà một tay và tò mò theo rõi cái bí quyết làm rượu nếp kỳ diệu mà xưa nay chúng tôi chỉ được ăn chứ đâu có biết người ta làm ra nó như thế nào.

Gạo nếp làm rượu là thứ gạo riêng, chỉ xay bỏ vỏ trấu chứ không sát sạch đi lớp vỏ cám. Thứ gạo này ngoài chợ người ta gọi là gạo xay. Hạt gạo màu vàng đục và có hương thơm đặc biệt gạo nếp cái. Gạo được đồ trong chõ sành thành xôi chín. Bà bảo muốn cho hạt rượu mọng thì đồ xong một lần phải cho xôi ra rá, xối qua nước lạnh rồi đồ tiếp lần nữa . Xôi đồ xong được đánh tơi, tãi ra mẹt để nguội . Men rượu là thứ men nắm mỗi nắm men màu trắng như vôi, bên ngoài có dính mấy vỏ trấu nom chỉ nhỉnh hơn qủa trứng nhện.

Bà tôi giã nhỏ các nắm men rồi rắc trộn đều vào mẹt xôi nguội . Tôi tò mò hỏi : men là gì ? Bà chỉ trả lời : oi dào, bà cũng chẳng biết. Nghe nói người ta làm bằng các thứ rễ cây trộn thuốc thuốc Bắc thuốc Nam gì ấy. Sau này, lớn lên có nhiều dịp đi công tác nơi này nơi kia, tôi cố tìm lời giải cho câu hỏi từ thưở còn thơ mà đâu có dễ. Mỗi vùng người ta lại có bí quyết làm men một cách khác nhau. Men là một trong những thứ quyết định chất liệu của rượu. Người không uống quen thì bảo rằng men rượu trên miền núi uống nó ngái. Người uống quen thì lại khen nó thơm. Mỗi người một kiểu thưởng thức. Chẳng biết đâu mà lần.

Sau khi đã trộn đều men rượu, bà tôi lót lá chuối khô vào trong cái rá to đã rửa sạch để khô rồi cho xôi đã trộn men , sau đó cẩn thận lấy lá chuối đậy kín mặt . Bà bảo : ở nhà quê, người ta thường lấy lá ngái hay lá sen để lót rá. Lót bằng lá ngái hay lá sen thì rượu nó có vị thơm riêng nhưng ở thành phố thì tìm đâu ra lá ngái lá sen. Cuối cùng, Bà đặt chiếc rá xôi trộn men lên trên một cái âu sứ trên bàn con trong góc bếp . Âu này để hứng nước rượu chảy xuống khi rượu đã ngấu. Thế là xong một côngviệc thần kỳ. Sau này tôi mới biết ấy là lúc ủ cho men chuyển hóa tinh bột của gạo thành ra rượu, một quá trình sinh hóa rất phức tạp.

Chúng tôi thấp thỏm chờ đợi xem cái gì sẽ xảy ra. Tôi chỉ muốn mở ra xem xem thứ xôi của bà ủ nó đã biến đổi ra sao rồi nhưng không dám. Bà tôi bảo hễ cháu nào mở ra, rượu hỏng thì không có gì để giết sâu bọ thì hỏng ăn đấy !

Hai ngày hai đêm trôi qua, mùi thơm lừng quyến rũ bốc ra từ cái rá diệu kỳ của bà tôi làm cho lũ trẻ chúng tôi càng hồi hộp chờ mong đến sáng ngày mồng năm được trông thấy cái thành kết qủa mà bà tôi vừa làm Hồi hộp như người xem ảo thuật chờ ảo thuật gia mở chiếc khăn phủ kín chiếc hộp đen. Như gã say bạc chờ giờ mở số.

Sau cùng, cái giờ ấy đã đến. Đúng sáng sớm ngày tết mồng năm, cả lũ trẻ chúng tôi thức dậy thật sớm. Người ta bảo sớm mồng năm tháng năm không được súc miệng đánh răng thì giết sâu bọ mới công hiệu. Chẳng biết có đúng không ? Để giết sâu bọ, bà tôi chia cho mỗi đứa mấy quả mận xanh. Mẹ tôi bổ quả dưa hấu cho mỗi đứa một miếng. Tiết mục hồi hộp và quan trọng nhất là bà tôi mở rá rượu nếp. Khi tàu lá chuối đã ngả màu được nhấc ra, một mùi men rượu thơm nồng lan tỏa ra khắp nhà. Từng hạt gạo nay đã chuyển thành rượu mượt mà trên mặt rá. Bà tôi dùng ba chiếc đũa nhẹ nhàng xới rượu ra từng bát và chắt chút nước cốt rượu vàng óng trong liễn rưới vào từng bát cho chúng tôi . Chúng tôi sung sướng thưởng thức cái hương vị kỳ diệu mà chính tay bà tôi tạo nên. Cái hương vị và cái cảm giác sung sướng mà suốt đời tôi không bao giờ quên mỗi khi nhớ tới bà tôi, mẹ tôi.

Sau này, người ta đem vào bán ở Hà Nội nhiều thứ rượu nếp khác nhau. Có loại làm bằng gạo cẩm là loại gạo nếp cẩm có phần vỏ cám màu đỏ. Loại gạo này có thể đong được ở một vài chợ trên Hoà Bình. Vào các quán thịt cầy bảy món, cùng với rượu ngang, người ta còn uống rượu nếp hay nếp cẩm. Thứ rượu nếp này đã được pha thêm rượu ngang để tăng độ bốc của rượu nhưng vẫn có vị ngọt. Rượu này phụ nữ uống cũng được vì thấy nó ngòn ngọt chứ không sốc như rượu trắng thuần khiết nhưng xin các qúy bà qúy cô hãy coi chừng. Rượu tuy ngọt nhưng uống vào thì say phải biết đấy.

Người ta bảo thói uống rượu nó cũng di truyền. Điều đó đúng. Đôi khi tôi nói đùa với bạn bè rằng:" Con người sinh ra từ con khỉ bú dù . Con bú dù sống trong rừng nó cũng ăn đủ thứ kể cả các quả chín đã lên men thành rượu. Có nhà khoa học quan sát đời sống của khỉ đã thấy các chú bú dù say đứ say đừ vì ăn phải cái thứ rượu trời cho kia. Vậy thì trong quá trình tiến hóa, ắt là loài người phải tiếp nhận cái gien biết ăn, biết uống cái thứ tê tê cay cay từ thủy tổ bú dù của mình là điều tự nhiên thôi ".

Thế đấy! tôi đã biết uống rượu từ thuở lên bốn lên năm phải không ông bạn ?

Người Hà Nội và bia

Tôi tiếp nhận cái văn minh "ăn rượu" từ bà tôi mẹ tôi truyền cho mỗi dịp tết đoan ngọ và tiếp nhận văn minh "uống bia" từ ông nội tôi. Hồi ấy, tôi mới mười bốn mười lăm tuổi, cổ còn quàng khăn đỏ, túi rỗng tuyếch không có một xu thì làm gì có tiền mà rượu chè, bia bọt. Chuyện là cứ vào tiết đổi trời mùa hạ, khi bàu trời Hà Nội đầy mây ngột ngạt mong mãi chẳng có giọt mưa, cái oi bức kinh khủng làm cho ai nấy mệt rũ người. Nhìn mây trời ông tôi lo lắng. Cụ bảo: "trời như thế này thì trên nguồn mưa phải biết. Cái oi này là oi nước sông sắp lên đây". Quả vậy chỉ một hai hôm sau là nước sông đỏ ngầu từ nguồn đổ về. Dân ngoài đê sông cái lại lũ lượt chạy vào khu Bác Cổ để tránh lụt. Người ta bảo chỗ này là đất cao nhất Hà Nội. Những lúc ấy, ông tôi cảm thấy mệt mỏi, khó thở. Cụ dắt tôi ra đầu phố để làm tợp bia. Đấy là lối nói của cụ mỗi khi rủ tôi đi uống. Ngay góc ngã tư đường Trần Xuân Soạn - Thi Sách cạnh trường tư thục Lam Sơn lúc bấy giờ có một quầy giải khát nhỏ do ông Bẩy làm chủ. Quầy giải khát có mặt sàn hình vuông, mỗi chiều chừng 4 mét, tường gỗ sơn xanh, mái lợp tôn dựng ngay trên vỉa hè. Loại quầy giải khát kiểu này này thời ấy được dựng lên khá nhiều ở bên bờ hồ Hoàn Kiếm dọc phố hàng Trống. Các quầy này thường bán nước chanh đá, nước dừa với những chùm dừa trĩu quả bày trước quầy chào khách. Trong quầy bán đủ thứ từ rượu bia, nước chanh cho đến các loại kẹo bánh bán cho trẻ em. Người ta xếp dăm chiếc ghế mây, vài chiếc ghế vải bên vỉa hè để khách có thể ngả lưng đong đưa ngồi hứng gió, giải khát và ngắm nhìn thiên hạ qua lại. Lúc ấy dân số Hà Nội còn thưa lắm chứ không đông đúc như bây giờ nên những cửa hàng kiểu này vẫn được phép xuất hiện đàng hoàng trên vỉa hè, góc phố và cái thú ăn uống trên vỉa hè này là một trong những cái thú của người Hà Nội.

Ông tôi uống bia không phải vì nghiện. Cụ uống bia cũng như uống thuốc vậy. Cứ mỗi khi trở giời oi bức, thấy khó thở, cụ lại gọi một chai bia nhỏ và "làm một tợp" cho dễ thở. Tôi đi theo cụ cho vui thôi chứ có uống gì đâu. Tất nhiên là bia gọi ra, thế nào cũng phải hai cốc. Tôi thì một cốc đá và cụ cũng san cho tý bia gọi là và hai ông cháu ngồi nhâm nhi. O đời hiếm người đi uống bia một mình. Có lẽ cũng vì để có người cùng uống mà cụ cho tôi - thằng cháu đích tôn đi theo cho vui cũng nên. Loại bia mà tôi được uống lần đầu tiên trong đời là thứ bia sản xuất chính hiệu từ Tiệp Khắc được nhập vào bán ở Hà Nội từ những năm sau hoà bình 1954. Chai nhỏ thủy tinh xanh và cổ chai bịt giấy bạc trắng. Sau này, có dịp đi thăm Tiệp Khắc tôi thấy loại bia này vẫn tiếp tục bày bán. Cái kiểu dáng, nhãn mác và chất liệu của từng loại bia được người ta trân trọng và gìn giữ từ đời này qua đời khác như một thứ quốc bảo về ẩm thực chứ không có lối thay đổi mẫu mã kiểu dáng luôn xoành xoạch như các thứ bia rượu, thuốc lá...ở bên ta.

Thú thật ngụm bia đầu tiên tôi được uống sao mà đắng thế. Bia vừa vào miệng tôi đã suýt nữa phải nhổ ra vì đắng. May mà tôi chưa kịp thực hiện cái phản xạ đáng xấu hổ ấy trước mặt ông tôi. Thế rồi, dần dần cũng quen, tôi uống được hết phần bia mà ông tôi rót cho và cũng cảm thấy nó là lạ, có một hương vị dễ chịu mặc dầu có đắng tý chút. Người ta bảo rằng trên đời này, hầu như cái gì gây nên nghiện lúc đầu bập vào cũng khó. Trẻ con lần đầu chấm nhầm phải bát nước mắm có ớt của người lớn thì nước mắt nước mũi dàn dụa. Lắm anh choai choai lần đầu làm bộ hút điếu thuốc cho ra vẻ người lớn để chộ mấy tiểu thư mới lớn thì bị ho sặc ho sụa...Thế rồi, ngày một ngày, những thứ ấy chẳng hiểu sao nó cứ len lỏi vào cuộc sống. Thiếu nó thì nhớ. Có thứ thấy thèm và không chịu nổi.Thế là đâm nghiện.

Tôi là một trong số những người rất thích bia, yêu văn hóa bia nhưng nếu như không có bia dăm bảy tháng thì cũng chẳng hề gì. Người ta nói nghiện hay không nó còn tùy thuộc vào cái hệ thần kinh bẩm sinh của từng người chẳng biết có đúng không. Tôi không hẳn là không nghiện bia nhưng từ lâu tôi đã mắc phải chứng nghiện cái không khí cộng đồng của bia. Đôi khi bận việc, tạt qua quán bia tôi thấy thật khó khăn khi phải một mình tu hết một vại nhưng nếu ngồi vui với bè bạn thì bao nhiêu cũng không đủ. Chẳng phải mình tôi mà nhiều người tôi đã gặp ở Việt Nam cũng như ở nhiều nơi trên thế giới cùng chung lối uống cộng đồng như thế. Người uống bia luôn có bè có bạn. Người ta uống với bạn, uống vì bạn. Đôi khi làm thơ, sáng tác ngay trên bàn bia với bạn bè. Bên Tiệp, người ta thành lập cả đảng Bia ra tranh cử nghị viện như những đảng phái quái dị khác mọc ra như nấm sau ngày chế độ Cộng Sản cũ tan rã.

Ông tôi bảo rằng trước đây, Hà Nội cũng có nhà máy bia do người Pháp sản xuất. Lúc ấy, người ta bán loại bia gọi là bia Hô Mèn (L'Home) làm trên Ngọc Hà, nơi là trụ sở của nhà máy bia bây giờ. Hồi ấy người ta bán hai loại bia một loại gọi là cổ vàng và loại khác là cổ trắng vì cổ chai được bọc bởi hai loại giấy bạc khác nhau và độ đậm nhạt của hai loại này khác nhau. Xe ô tô xi téc bán bia bốc (Bock) và nước cam ga đỗ ở gần vườn hoa Chí Linh gần nhà dây thép luôn sơn màu vàng với nhãn hiệu con hổ màu đỏ trong vòng tròn. Khách qua đường có thể dừng chân hay vừa gếch chân trên xe đạp làm một bốc bia. Lúc ấy Hà Nội vắng lắm chứ không đông đúc như bây giờ. Ăn uống trên vỉa hè là một cái thú. Trên hè phố Tràng Tiền ngày nay, người ta bày đầy bàn ghế sang trọng để bán đồ ăn thức uống.

Nghe nói phải tìm mãi người ta mới thấy được vùng Ngọc Hà là vùng có nguồn nước tốt để nấu bia. Trong công nghệ nấu bia, nước là một nguồn quan trọng bậc nhất. Dù có hoa Hu Blông, lúa mạch thứ thiệt, máy móc và quy trình sản xuất hiện đại đến mấy mà nguồn nước không ra gì thì cũng coi như bỏ.

Nghe nói có thời Công nhân mỏ Quảng Ninh phải làm việc cực nhọc trong điều kiện quá nóng nực, vất vả. Ra thăm mỏ, cảm thông với nguyện vọng của thợ mỏ, Thủ tướng Phạm văn Đồng đã chỉ thị cho bộ công nghiệp nhẹ nhập cả một dây chuyền của Tiệp Khắc về để xây dựng một nhà máy bia ngoài Quảng Ninh để phục vụ công nhân. Nhưng rút cục, máy về mà bia không có cũng chỉ vì lúc ấy vùng định xây nhà máy không có được nguồn nước ngọt thích hợp. Máy móc đành phải chuyển đi nơi khác.

Vùng Ngọc Hà - Hoàng Hoa Thám ven hồ Tây Hà Nội quả là một vùng có nguồn nước lý tưởng để nấu bia cho người Hà Nội và làm ra cái gu riêng cho người Hà Nội, người cả nước và thiên hạ thưởng thức . Nghe nói hãng bia tư nhân của ông chủ Đường Béo người Hà Nội cũng nhờ kiếm được nguồn nước quanh vùng Ngọc Hà nên bia làm ra mới có khách. Có những đại lý gian giảo mua bia của nhà máy bia Hà Nội rồi đấu trộn với bia Đường Béo với giá rẻ hơn để làm giả bia Hà Nội trục lợi.

Thưở trước, người Pháp làm ra bia chủ yếu là để phục vụ cho tầng lớp trên trong xã hội. Người dân thường Hà Nội hầu như rất ít khi được uống bia. Đại đa số không biết bia là gì.

Từ những năm sáu mươi, với sự giúp đỡ của nước bạn Tiệp Khắc, nhà máy Bia Hà Nội và cũng là nhà máy bia duy nhất của Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa đã ra đời trên nền nhà máy bia của Pháp xây dựng trước đây ở đường Hoàng Hoa Thám.

Bia được sản xuất, nhà máy mở ra các đại lý bia khắp nơi ở Hà Nội để phục vụ nhân dân với giá bao cấp là ba hào một vại bia lớn. Tôi còn nhớ một số đại lý bia đầu tiên ở Hà Nội như một đại lý đặt tại phố Hàng Bài gần rạp Tháng Tám bây giờ hay một đại lý khác mở ở phố hàng khay nay là chỗ bán hàng lưu niệm hay hiệu ảnh ....Trong các đại lý này, người ta đem đến từ nhà máy bia những thùng bia hình trụ có đóng đai sắt mỗi thùng khoảng 50 lít. Bia được rót cho khách qua những chiếc vòi to có khóa cố định trên quầy theo kiểu châu Âu. Bên quầy còn có những bình CO2 để sục khí làm lạnh bia và tạo thêm ga cho bia. Ngoài bia hơi, nhà máy còn sản xuất bia chai với các nhãn hiệu bia Trúc Bạch và bia Hữu Nghị.

Thoạt đầu, khi mới đem bia ra bán, dân Hà Nội nhiều người còn bỡ ngỡ không biết bia là gì. Trừ một số công chức hay những người đã sống lâu ở thành thị thì thỉnh thoảng có uống bia. Đa số người Hà Nội mới về sống ở Thủ Đô từ sau giải phóng thì chưa quen với thứ giải khát này. Cửa hàng bia lúc đầu thưa thớt, vắng tanh. Lúc ấy, thương nghiệp phải tìm đủ mọi cách để tiêu thụ lượng bia sản xuất được. Người ta đã bán bia hoà lẫn với si rô để có vị ngọt dễ uống hay bia kèm theo một đĩa đường kính. Có cửa hàng kem bên Gia Lâm người ta bán bia kèm theo chiếc kem que thả vào trong cốc mà chẳng hiểu sao lũ bạn tôi lại gọi thứ bia kem ấy là kem cối.

Trên báo khoa học lúc bấy giờ, đã có nhà khoa học viết bài ca ngợi công dụng của bia. Bài báo viết rằng "bia là thứ đồ uống cực kỳ bổ, trong đó có nhiều đường, vi ta min A, Vi ta min B ... Nếu uốngbia nhiều thì người sẽ phát phì. Trên thế giới có người nhịn ăn cả tháng chỉ uống bia mà vẫn khoẻ mạnh...."Và sau này, khi mà dân nghiện bia ngày càng đông lên, bia trở nên khan hiếm và nhiều tiêu cực sau bia xuất hiện thì cũng nhà khoa học nọ lại viết báo dọa thiên hạ " Bia cũnglà cồn, uốngvào có hại !".

Quảng cáo một thời gian ngắn thôi là thứ nước uống thơm mát bổ này có khách hàng ngay. Người Hà Nội đã dễ dàng chấp nhận và phổ thông hóa thứ nước uống có gốc Châu Âu này. Có lẽ lớp người chấp nhận Bia sớm nhất ở Hà Nội chính là đội ngũ văn nghệ sỹ và những người lao động nặng.

Nhiều bác công nhân khuân vác, kéo xe vất vả mồ hôi nhễ nhại nhưng chỉ tu một mạch vại bia là mệt mỏi tiêu tan và cảm thấy lâng lâng có thể hăng hái làm thêm vài chuyến hàng nữa.

Giới văn nghệ sỹ cũng thường tụ tập quanh bàn bia và sau này là ngồi xổm trên bãi cỏ, vỉa hè hay nền đất để bàn chuyện văn chương thế sự. Quán bia Cổ Tân gần nhà hát lớn, quán "chuồng cọp" đầu Nguyễn Đình Chiểu... là nơi cụ Nguyễn Tuân, hoạ sỹ Nguyễn Sáng, họa sỹ Mai Văn Hiến và nhiều nghệ sỹ tên tuổi khác thường lui tới.

Càng ngày, công chúng đến với bia càng đông, cầu không đủ cung nên việc mua bia ngày càng khó. Người ta phải xếp hàng rồng rắn tới hai ba trăm mét người nọ nối người kia để mua một cốc bia. Hồi ấy, tôi có lần trốn gìơ cơ qua cùng mấy cậu bạn ra xếp hàng ngoài quán bia đường Trần Hưng Đạo gần ngã tư Hàng Bài thì gặp ngay vị thủ phó của tôi cũng đã ra xếp hàng từ trước để chầu chực mua cho được một vại bia. Khổ quá, cái gì cũng thiếu. ăn thì không đủ no, với nhiều người, bia vừa là thứ thuốc bổ vừa tạo cảm giác thư giãn trong những ngày tháng cùng cực căng thẳng của cuộc sống trong chiến tranh và chế độ bao cấp nặng nề.

Đứng dẹp trật tự của đám người xếp hàng và chúa hay chen ngang là một anh chàng béo mập, lùn lùn với chiếc loa pin luôn the thé bài thơ nhắc nhở mà mãi cho đến tận bây giờ, mỗi khi gặp lại vị thủ phó cũ của tôi nay đã nghỉ hưu và ngồi viết văn chúng tôi vẫn khoái chí nhắc lại cái ngày gian khó xa xưa với bài thơ xếp hàng nọ:

"Muốn uống bia hơi phải xếp hàng
Xin đừng nhường chỗ chớ chen ngang
Chen ngang phát hiện cho màu áo
Kiên quyết mời ra rất nhẹ nhàng"

Xếp hàng quá đông mà nhiều khi đến cửa chuồng rồi thì bia lại hết. Cả lũ tiu ngỉu kéo nhau về hoặc đi lùng một cửa hàng khác để rồi lại phải mất hàng tiếng xếp hàng lại từ đầu. (Chúng tôi hay nói đùa là "đến cửa chuồng" như cảnh anh chơi cá ngựa biết bao công sức đổ con xúc sắc kể cả đá bao con ngựa cản đường khác để về đến cửa chuồng rồi lại bị đá trở lại vị trí ban đầu ). Cái thời ấy, hầu như phần lớn thời gian của người dân Hà Nội đều phải dành cho những cuộc xếp hàng bất đắc dỹ. Đêm thì phải thức trắng để xếp hàng chầu chực nước vì nứơc nhỏ từng giọt vợ chồng con cái, cả khu tập thể phải thay phiên nhau mà hứng. Ba bốn giờ sáng đã phải chầu chực trước cửa hàng thịt hay phản thịt mậu dịch cửa chợ để xếp chiếc rổ rách, hòn gạch, cái túi ni lông thay người, chờ đến bảy tám giờ cô nhân viên mậu dịch mới đủng đỉnh tới nhận hàng, cắt phiếu và lạnh lùng, khinh khỉnh ban phát cho kẻ mua có nhiều người bằng tuổi bố mẹ ông bà mình. Không một lời tử tế với khách hàng chứ chớ nên đòi hỏi những câu thưa gửi, cảm ơn lịch sự vốn có của người Hà Nội hào hoa. Bao cấp nó bần cùng và bệ rạc hóa người hà Nội đi và xếp hàng để mua sản phẩm ẩm thực bia trong thời kỳ khốn khó này có lẽ là một trong những kiểu bệ rạc nhất trong sinh hoạt ẩm thực chưa từng thấy ở Hà Nội xưa nay.

Dân uống bia đông quá mức chịu đựng, người ta phải nghĩ ra nhiều kế khác nhau để giữ trật tự khu vực bán bia. Một trong những điển hình là cửa hàng bia Cổ Tân kề gốc gạo xế cửa Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam. Nơi đây suốt ngày tấp nập bởi dân uống bia, dân phe bia và đủ các loại người từ các văn nghệ sỹ, thương binh, cán bộ, dân phe và cả đám du côn tụ tập kiếm chác, phá phách. Cửa hàng đã phải nhiều lần thiết kế đi thiết kế lại cửa bán bia để cố giữ trật tự mà vẫn không sao làm được. Họ đã hàn sắt vây quanh chỗ xếp hàng, chỗ rót bia để chống chen ngang. Lập rào quanh khu bán bia để chống nạn phe bia, đầu cơ bia ...Cũng chính vì thế mà dân bia còn gọi các cửa hàng kiểu này là "Chuồng cọp ". Cuối cùng thì người ta nghĩ ra một sáng kiến tuyệt vời để chống chen ngang: làm một dây thép dài có những đồng xèng nhôm đục lỗ xỏ qua dây thép. Mỗi người đến cửa mua vé chỉ được mua một đến hai cốc và được nắm tay vào những đồng xèng thay cho chiếc tích kê của mình và người nọ đứng ép sát vào người kia tay nắm đồng xèng đẩy cho đến cửa rót bia để hưởng cái hạnh phúc đựơc có trong tay một hai cốc bia sau hàng giờ xếp hàng trong phấp phởi và hy vọng.

Hồi ấy, làm gì có tiền, có lắm bia mà nhậu nhẹt lai rai. Người ta thường chỉ uống bia với dăm hạt lạc rang hay đĩa nộm là cùng. Ay thế mà để ép khách kiếm lời, nhiều cửa hàng quốc doanh nghĩ ra cái trò ép người uống phải mua kèm với bia đĩa nộm chua loét, cái nem cuốn dối nhạt phèo hay con mực nướng với giá cắt cổ. Nếu không mua thức ăn kèm thì không bán bia. nhiều khi mua thức nhậu kèm rồi phải đổ đi chỉ uống bia mà thôi.

Bia khan hiếm quá mức nên người ta nghĩ ra nhiều hình thức phân phối khác nhau. Trong những cửa hàng cung cấp đặc biệt, người nào có bìa A bìa B thì mỗi tháng được mua một hai chục chai tùy theo định lượng mỗi tháng. Các cơ quan nhà nước được cấp sổ mua bia theo tuần, theo tháng. Nếu có hội nghị đặc biệt phải làm công văn xin cung cấp hoặc nếu kèm theo lá thư tay của người quen có thẩm quyền phân phối thì càng tốt. Cơ quan sẽ được ưu tiên mua vài chục lít gọi là để phục vụ hội nghị. Cứ mỗi lần có bia về là cả cơ quan vui như hội. Người ta phân công người đem sổ lên nhà máy xếp hàng để chờ mua bia phân phối. Anh em ở nhà thì tíu tít kiếm cái ấm, cái xong để đựng. Mượn cốc mượn chén , gọi điện rủ bạn bè ở cơ quan khác sang cùng uống. Bom bia vừa vần xuống cổng cơ quan là nhanh như cắt, nhất nhất theo sự phân công của ban đời sống công đoàn, người bán phiếu, kẻ rót bia...Rồi thì tản ra từng nhóm ai nấy vui vẻ trong cái hạnh phúc dơn sơ, ước mơ nho nhỏ mà họ được lâng lâng tận hưởng. Ngày ấy tuy thiếu, tuy khổ nhưng vui. Bây giờ, đôi khi được dự những bữa tiệc đồ ăn thức uống, bia rượu thừa mứa mà sao vẫn không thấy được cái niềm vui khi được chia sẻ từng giọt bia với bạn bè thủa xưa. Lắm lúc bia nhiều mà sao vẫn thấy lạnh tanh, đắng ngắt. Cái đắng của nỗi cô đơn trống vắng tình người. Cái lạnh của mọi thứ đều quy ra thóc ra tiền . Người ta thả sức tiêu tiền, tiêu thóc của thiên hạ trong những bữa tiệc lu bù mà bất đắc dĩ ta được mời dự, phải dự.

Ngày nay, bất cứ ai đến Hà Nội cũng sẽ dễ dàng nhận dạng ra cái bản sắc uống mới của người Hà Nội. Đó là Bia và bia hơi. Khắp nơi đều mở ra các quán bia hơi. Về khoản bia hơi thì vào thời điểm tôi đang víết bài này, có lẽ Hà Nội là một thành phố đứng đầu về sản xuất và tiêu thụ bia hơi trong cả nước. Dân trong Thành Phố Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác hình như thích uống bia chai hơn bia hơi.

Người ta sản xuất và tiêu thụ đủ các loại bia ở Hà Nội. Từ bia hơi đến bia chai, bia lon với các loại quen thuộc như Bia Hà Nội mà nhiều người quen gọi là "bia nhà máy" là hãng bia quốc doanh lâu đời nhất. Ngót chục năm nay, dân bia Hà Nội lại quen với loại sản phẩm liên doanh với Đan Mạch đó là bia Halida (Hà Nội liên doanh với Đan Mạch). Ngoài ra còn có hàng loạt các hãng bia nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam mà khi vào các quán ăn ở Hà Nội, bạn sẽ luôn gặp các nữ nhân viên tiếp thị thuộc các công ty bia khác nhau ăn vận những bộ đồng phục riêng của từng hãng. Hãng Heineken thì vận đồ xanh lá cây đeo tạp dề trắng kiểu Hà Lan. Hãng Tiger thì mặc sắc phục nền vàng váy ngắn xanh tím than...Vừa ngồi vào bàn là các cô đã đon đả mời chào khách uống thứ bia chính hiệu của hãng mình. Trên các bảng hiệu, tường nhà hàng treo đày tranh biển quảng cáo cho các hãng bia và hàng loạt các kiểu khuyến mại được tung ra để tranh giành khách uống.

Bia tung ra thị trường ngày một nhiều. Quảng cáo bia treo nhản nhản khắp phố và hầu như không tối nào là không có quảng cáo bia trên các chương trình ti vi ở Hà Nội. Các điều kiện phục vụ cho người uống bia đã ngày càng cải tiến . Duy có một điều mà các quán bia hơi ở Hà Nội vẫn tỏ ra vô cùng bảo thủ đó là những chiếc cốc vại thô kệch làm bằng thứ thủy tinh tái sinh thô thiển đầy bọt là vẫn giữ nguyên hình dạng nguyên thủy của nó từ mấy chục năm nay, khi mà bia hơi mới ra đời ở Hà Nội. Có lần tôi dẫn một ông bạn Mỹ đi chơi phố, tạt vào quán bia gần nhà hát lớn uống dăm vại. Anh bạn Mỹ của tôi là người có thú sưu tầm các loại cốc uống bia cứ khẩn khoản nhờ tôi kiếm cho một chiếc cốc vại bia hơi Hà Nội. Theo anh ta, đây là loại cốc uống bia độc nhất vô nhị trên thế giới. rốt cuộc, bà chủ quán đã tặng khách cả một đôi cốc thủy tinh thô kệch làm vật kỷ niệm mang phong cách độc đáo của bia hơi Hà Nội.

Từ chỗ Hà Nội một trongnhững thủ đô khan hiếm bia vào bậc nhất trên thế giới trong thời còn bao cấp, chỉ sau mở cửa, đổi mới Hà Nội đã nhanh chóng trở thành một trong những thiên đường của những người yêu bia. Tôi không rõ lượng bia được tiêu thụ của dân Hà Nội mỗi ngày là bao nhiêu nhưng tin chắc rằng lượng bia được sản xuất ra và được tiêu thụ tại đây không thua kém gì nhiều thành phố khác trên thế giới.

Có ông bạn từ trong Nam ra Hà Nội đã hát nhái lời bài hát Nhớ về Hà Nội với lời ca:

"... Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu
Đầy đường rượu bia, đầy đường thịt cầy..."

Không biết hát như vậy có quá lắm không nhưng qủa thật hai khoản ẩm thực này có lẽ hiện tại Hà Nội là vô địch !


...CÒN TIẾP...



© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 19.06.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội.
. ĐĂNG TẢI LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .