Chùa Yên Phú

NGÔI CHÙA HUYỀN THOẠI



MAI THỤC


       
 

        Tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Nữ thần của người Việt, bao trùm đời sống cộng đồng, đến mức nó hoà cùng Phật giáo. Và khi Nho giáo chiếm lĩnh tư tưởng chính thống của xã hội trong rất nhiều thế kỷ, tín ngưỡng này đã giữ vững vai trò của người phụ nữ. Đàn bà Việt Nam, dù không có địa vị xã hội, nhưng họ được tôn trọng trong gia đình, trong tâm thức Folklo và thế giới tâm linh. Trong hệ thống tín ngưỡng ấy, nữ giới được tôn thờ và làm chủ thế giới siêu nhiên.

         Khắp đất nước Việt Nam, nơi nào cũng có đền, phủ thờ Nữ thần, Phật Bà, Thánh Mẫu: Chùa Dâu thờ Phật Mẫu, đền thờ Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), đền thờ Bà Chúa Liễu nhiều nơi, Bà Đen (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang)…

      Tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Nữ thần là cốt lõi của nền văn minh lúa nước Đại Việt. Cây lúa nước đã xuất hiện tại đây khoảng năm nghìn năm. Việc trồng lúa gắn với vùng đồng bằng nước mênh mông, phù sa màu mỡ, những con sông chảy trôi về biển. Tín ngưỡng thần linh của người Việt cổ trồng lúa nước sinh ra từ tình yêu thiêng liêng với đất đai, sông nước và bốn mùa mưa nắng. Họ sùng bái tự nhiên và sự hài hoà Âm- Dương, đề cao tính nữ. Yếu tố Âm- Đất là Mẹ tượng trưng cho ý thức cộng đồng hướng về ước vọng phồn thực, sinh sôi, nở hoa kết trái, đâm chồi nảy lộc, sự trường tồn và phát triển nòi giống.

       Phật giáo du nhập vào nước ta rất sớm, vào cuối thời Hùng Vương, mà Phật tử đầu tiên là Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa, đã nhanh chóng hoà nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Nữ thần bản địa mà phát triển sâu rễ bền gốc đến ngày nay.

           Lịch sử Phật giáo chùa Dâu là sự gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng nông nghiệp trồng lúa nước đã hình thành dòng Phật giáo dân gian Dâu với hệ thống Tứ- Pháp (Thần- Phật). Xa xưa ấy, bà Man Nương, một phụ nữ bình dân đã tiếp nhận Phật giáo từ một vị tu sĩ nước ngoài. Bà trở thành Phật Mẫu, mẹ của bốn vị Nữ thần tự nhiên được Phật hoá: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (Mây, Mưa, Sấm, Sét) và Thạch Quang Phật. Tín ngưỡng Tứ- Pháp chùa Dâu đã hội tụ vào nó các yếu tố tôn giáo như Phật giáo, Ấn Độ giáo thờ thần Shiva, tín ngưỡng bản địa: thờ thần linh nông nghiệp, thờ đá, thờ cây, thờ Thuỷ thần, tín ngưỡng phồn thực, cùng tâm thức thờ Mẫu.

           Tháng 12- năm 2009. Hội thảo khoa học về ngôi chùa cổ Yên Phú khoảng trên 2000 năm, toạ lạc tại xã Liên Ninh- Thanh Trì- Hà Nội, các nhà khoa học đã phát hiện chùa Yên Phú hiện hữu sự kết hợp hài hoà giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Nữ thần và tín ngưỡng thờ Thuỷ thần giữa một vùng lúa bát ngát, hồ ao, sông nước, đất cổ Thăng Long, qua những thần phả và huyền thoại, nghi lễ thờ cúng, hội làng, đẹp như thơ.

      I. Huyền thoại trinh nữ và ni cô Phương Dung:

       Chùa Yên Phú (Thanh Trì Hà Nội) xưa là Thanh Vân Cổ Tự sau đổi thành Khánh Hưng Tự, do ni cô Phương Dung trụ trì từ những năm 40. Thần phả chùa Yên Phú kể rằng cuối thời Hùng Vương thứ mười tám, làng Lưu Hàm, huyện Thượng Hiện, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam có vợ chồng bà Huệ sinh cô gái Phương Dung, đẹp xinh, da trắng, tóc dài, mắt nhung huyền, dáng thanh tao, yểu điệu, yêu kiều. Tuổi trăng rằm, nàng nguyện không lấy chồng, một lòng theo Phật. Một hôm nàng đến châu Thường Tín- Thăng Long thời cổ, qua đầu làng, thấy ngôi chùa Yên Phú cảnh đẹp phong quang, trăng gió mơ màng, duyên lành bay toả, nàng ở lại chùa, hương khói phụng thờ, sớm tối tụng kinh niệm Phật, và đặt tên chùa là Thanh Vân Cổ Tự.

          Một hôm nàng ra sông Kim Ngưu tắm, bỗng đám mây hồng xà xuống cuốn lấy thân thể nàng. Đêm đó, nàng mơ thấy một tướng quân mặc áo gấm, đeo ngọc châu, dáng kỳ dị từ dưới nước đi lên, tự xưng là quan Thuỷ thần và nói với nàng: “Nhà ngươi đức dày, Trời đã soi tỏ, lệnh cho hai vị Thuỷ thần đầu thai xuống làm con, nên chớ có lo lắng về điều đó”. Nói xong Thuỷ thần lên thuyền rồng, bay lên. Nàng tỉnh dậy, mơ hồ giấc mộng Thiên Thai.

        Sớm mai, nàng qua miếu thấy có hai quả trứng lớn, bèn mang về chùa. Bỗng từ trứng phát ra tiếng vang như sấm, tách vỏ, xuất hiện hai vị đầu người mình rắn, da có vảy, tướng mạo kỳ lạ, thiên tư to lớn. Các bô lão làng Yên Phú kéo đến, hai vị thần nói: “Anh em chúng ta vốn là Thuỷ thần mà các ông thờ phụng lâu nay, tên là Trung Vũ và Đài Liệu. Nay phụng mệnh thiên đình giáng sinh để giúp nước”.

        Sư Phương Dung nuôi hai người ăn học, giỏi văn chương, tinh thông võ lược. Trời làm hạn hán, hai người truyền dân làng lập đền cầu Âm- Dương, Trời- Đất. Ngay sau đó mưa to, ruộng đồng đầy nước, mùa vàng ấm no. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, sư Phương Dung và hai con tập hợp hơn hai mươi thanh niên cùng mấy ngàn người làng Yên Phú cờ rong trống mở, lên đường, góp phần đánh tan quân Nam Hán. Trưng Nữ Vương ban cho mẹ con sư Phương Dung bổng lộc, về hưởng ấp Thanh Trì. Ba mẹ con bái tạ vua Bà, lên thuyền rồng trở về, đến giữa sông Kim Ngưu, một đám mây vàng sà xuống, mưa to gió lớn, nước nổi lên. Người ta thấy sư Bà mình mặc áo gấm, ngồi trên kiệu hoa, cưỡi mây bay lên. Hai người con lao xuống sông biến mất .

         Trưng Nữ Vương sai quân đến làm tang lễ, phong thần phù hộ dân làng Yên Phú, ba mẹ con sư Bà được dân tôn Thành hoàng làng, thờ phụng trong chùa Yên Phú đến ngày nay. Hình tượng trinh nữ, ni cô Phương Dung hiền dịu, trắng trong đã hoá Thiên thần, sáng soi như những tướng lĩnh anh hùng đất Việt “sinh vi tướng, tử vi thần” nâng ngôi chùa Yên Phú bay lên cùng năm tháng.

          Huyền thoại sư Bà Phương Dung bay bổng diệu kỳ hồn trinh nữ hoá thân cùng Thánh thần, Phật,sông nước, nữ tướng, chiến trận, tình yêu thánh thiện, tình Mẹ bao la, phơi phới giữa làng quê Việt,hấp dẫn hơn cả những câu chuyện thần nữ trên thế giới, ẩn chìm trong ngôi chùa cổ Yên Phú, gây xúc động sâu xa. Vậy mà, đôi khi mải vội bước chân qua, ta không cảm nhận được điều kỳ diệu thiêng liêng ấy.

          II. Không gian văn hoá tâm linh chùa Yên Phú:

       Hơn hai nghìn năm qua, chùa Yên Phú là kho báu tâm linh, ẩn chứa những giá trị văn hoá dân gian Việt, hội nhập cùng Phật giáo. Sự hoà hợp giữa tín ngưỡng Thành hoàng làng và Phật giáo là nét đặc sắc độc đáo. Chùa vừa thờ Phật vừa thờ Thành hoàng làng, sư Tổ chùa Yên Phú đồng thời là Thành hoàng làng, là Thánh Mẫu, nên hội chùa cũng là hội làng Yên Phú.

        Hội làng- chùa Yên Phú, Thành hoàng làng được rước từ đình miếu ra lăng mộ sư Bà Phương Dung tế lễ, sau đó rước về chùa. Kiệu rước Thành hoàng làng gồm hai cỗ kiệu. Kiệu sư Bà Phương Dung dùng kiệu võng do tám cô gái đồng trinh đi trước, đến kiệu hai ông Trung Vũ, Đài Liệu, tạo một không gian văn hoá hợp trùng nhiều lớp tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ Thuỷ thần Rắn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, thờ Mẫu, Phật giáo, mang màu sắc văn hoá Việt- Ấn- Trung được Việt hoá.

      Lễ hội làng Yên Phú diễn ra hằng năm (từ 5 đến 7/11). Làng dành một mẫu ruộng ở cánh đồng Nhị Châu cho dân lần lượt làm, nộp tiền cho làng soạn lễ. Lễ vật gồm bảy lễ, trong đó có một lễ chay (xôi vò, chè, bánh chay). Người nấu cỗ chay phải chọn con nhà gia giáo, nền nếp, vợ chồng hoà thuận, con cháu hiếu thảo, có nếp có tẻ. Những người này phải trai tịnh trong một tháng, khi làm cỗ, tâm trạng bình an, một lòng tâm niệm về Thần, Phật, Mẫu.

      Cả làng tham gia đám rước. Trống nổi lên, mọi người dù đang làm gì cũng phải chạy ra ngay, tự lo công việc mình được giao. Người bất khả kháng vắng mặt, phải biện đủ ba mươi miếng trầu, thưa trước khi rước bốn giờ. Ai không tuân theo bị phạt, không nể vì bất cứ ai.

        Tiếng chiêng gióng giả ba hồi chín tiếng gọi hội. Các chức sắc, bô lão tề tựu đầy đủ, lễ phục trang nghiêm vào cuộc rước thần. Hiệu trống nổi, chiêng hoà nhịp, phường đồng văn tấu  nhạc. Đội cờ thiêng với cờ tiết, cờ mao sặc sỡ, và năm lá cờ ngũ hành, năm màu riêng biệt dẫn đầu. Đội tứ linh: long, ly, qui, phượng, uy nghi, ngạo nghễ theo sau. Đội tàn, tán, lọng dẫn theo hai ông ngựa giấy đỏ, trắng, vốn là ngựa chiến của hai nam thần Vũ Trung và Đài Liệu. Đội Lễ bộ và Bát bửu cùng đội bát âm, chiêng trống tưng bừng diễn khúc Ngũ lôi, Lưu thuỷ. Hai kiệu bát cống có thêm mũ quan văn, quan võ, trên võng là mũ công chúa, chăn gối, đi trước, kiệu võng sư Bà đi sau, trên kiệu đặt bát hương, oản khảo… mỗi kiệu có tám nam thanh nữ tú, trinh tiết, khoẻ mạnh khiêng. Cuối cùng là các đoàn bô lão, dân làng và khách thập phương. Đoàn rước kéo dài cả cây số, hướng tâm thành kính, trang nghiêm, thanh thản, vui tươi, cùng đội múa rồng rộn rã, linh thiêng, uốn lượn chín khúc, tiến lên, lùi xuống, làm cho đám rước hội chùa làng Yên Phú rộn ràng, uyển chuyển, tràn đầy sinh khí và hứng khởi.

         Khi đám rước trở về chùa, lễ đại tế đón và thỉnh thần về hưởng lễ vật, dân làng chúc tụng thần, cầu mong bảo hộ cho làng.

        Hội làng Yên Phú về cơ bản là lễ hội đặc trưng của làng Việt vùng đồng Bắc bộ. Điều đặc biệt hơn cả là nó liên quan mật thiết đến ngôi chùa cổ Yên Phú. Bởi vị Thành hoàng làng là trinh nữ, nữ tướng, Thánh nữ, nhà sư, người Mẹ, Nữ thần… là cội nguồn sáng tạo một không gian văn hoá độc nhất vô nhị của chùa Yên Phú. Hiện tượng hầu bóng diễn ra trong hội làng, tuy mờ nhạt. Nó thể hiện tín ngưỡng thờ Mẫu. Hầu bóng là nghi lễ riêng có của Đạo Mẫu, tín ngưỡng bản địa của người Việt từ truyền thống đến hiện đại.

       Hội làng Yên Phú có sự liên quan chặt chẽ  đến chùa làng Yên Phú, là sự đan xen, hoà quyện tín ngưỡng bản địa (Thuỷ thần, Nữ thần) và tôn giáo ngoại lai (Phật giáo) và sự tự làm mới mình, hoà hợp cùng các dân tộc, quốc gia trên thế gian của Phật giáo, dưới dáng dấp Đạo Mẫu ngay từ thuở ban đầu du nhập vào Việt Nam.

       III. Chùa Yên Phú- Ngôi nhà Tâm thiêng liêng của mọi người:

           Cơ duyên hạnh ngộ. Chúng tôi gặp nhau trên nền chùa làng Yên Phú đã trên hai nghìn năm tuổi, phía Nam Thăng Long- Hà Nội, cách Hồ Gươm mười tám cây số, đang được xây lại.      

         Thượng toạ Thích Thọ Lạc- trụ trì chùa Yên Phú hoan hỉ nói về ngôi chùa thân thương của mình trong ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai.

         Theo di chỉ để lại chùa Yên Phú là một trong những ngôi chùa được xây sớm nhất nước ta. Chùa Yên Phú mở ra cho người Việt Nam hiện đại một quá khứ huy hoàng của Phật giáo từ khi mới du nhập vào đất Việt. Thông qua phương thức truyền đạo khéo léo của các danh tăng và đặc điểm khúc xạ văn hóa của dân tộc, Phật giaó đã hoà nhập với tín ngưỡng thờ Thần, thờ Mẫu bản địa, hiện diện trong các ngôi chùa Việt. Phật giáo vào Việt Nam ngay từ buổi đầu đã nhập thế và đồng hành cùng dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, các nhà sư và Phật tử đã sẵn sàng “Cởi cà sa, khoác chiến bào” tham gia chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước.

          Chùa Yên Phú do ni sư Phương Dung trụ trì, chứng tỏ phụ nữ Việt đã xuất gia ngay khi Phật giáo vào Việt Nam. Nhà sư Phương Dung cùng hai người con nuôi là Trung Vũ và Đài Liệu đã tập hợp dân làng Yên Phú tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, góp phần đánh tan quân Hán. Sau này vua Lê Đại Hành đã phong tặng ni sư Phương Dung là Hoàng Thái hậu Tuệ Tĩnh Phu Nhân, hai người con Trung Vũ và Đài Liệu được phong là Bản Cảnh Thành Hoàng Linh Phù.

         Hơn hai nghìn năm qua, chùa Yên Phú trường tồn cùng nắng mưa, bão táp, những cuộc chiến tranh, những triều đại thay màu đổi sắc và lòng dân Việt yêu Phật, yêu người. Thời Trung đại, vua Quang Trung đã chọn chùa Yên Phú làm nơi tập kết quân, tạo nên chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa giải phóng kinh thành Thăng Long… Hơn hai nghìn năm qua, chùa Yên Phú không chỉ là nơi truyền giáo, cư trú tu tập của chư tăng, ni, đáp ứng nhu cầu văn hoá tâm linh của người Việt, mà còn là nơi dân làng tụ hội, yêu nước, yêu nhà, góp của công sức đánh giặc giữ nước. 

        Hiện tại, chùa Yên Phú là kho báu tâm linh, thờ Phật, thờ Thần, thờ ni cô Phương Dung được tôn là Thánh Mẫu, đậm chất văn hoá tâm hồn Việt. Nhà nước công nhận chùa Yên Phú là di tích lịch sử cần bảo tồn và phát triển. Tuy nhiên, chùa bị hư hỏng do thời gian và qui mô nhỏ không đủ cho nhu cầu chiêm bái và thực hành Phật pháp của nhân dân.

          Trước nguyện vọng chính đáng của nhân dân, Thượng toạ Thích Thọ Lạc đã không ngại khó khăn, trở lực, phát tâm cùng Phật tử mười phương công đức sức lực, trí tuệ, tiền của và vật liệu, nhất tâm xây lại ngôi chùa Yên Phú cổ kính linh thiêng trên hai nghìn năm. Hiện nay chùa Yên Phú đang được xây dựng nhanh chóng, kịp chào mừng Đại Lễ Thăng Long- Hà Nội nghìn năm tuổi. Phật tử khắp nơi hướng tâm công đức, hoan hỉ chờ đón sự xuất hiện của ngôi chùa có bề dày lịch sử văn hoá tâm linh, mái ngói Âm- Dương tươi màu Thiền cao vút mây trời, mang phong cách kiến trúc hài hoà giữa cổ và kim, vừa thể hiện được tinh hoa truyền thống, và sự tri ân đến các bậc tiền bối đã có công khai sơn, tạo sự, vừa thể hiện được sự kế thừa và tầm vóc của người việt Nam hiện đại.

         Với Thượng toạ Thích Thọ Lạc, niềm hoan hỉ dâng trào gấp bội, khi ngôi chùa cổ Yên Phú được xây lại đàng hoàng, cao rộng, thoáng mát, không những là nơi cho nhân dân và Phật tử xa gần tới lễ bái và du lịch văn hoá tâm linh xung quanh một vùng di chỉ về ni sư Phương Dung, mà còn là môi trường tu học thuận lợi cho các tăng ni và Phật tử, giác ngộ được triết lý sống của Đạo Phật, sống được với nó, để đạt tới niềm vui vẻ trong suốt cuộc đời.

       Thầy Thọ Lạc cười hỷ xả như Đức Di Lặc Bồ Tát và bảo chúng tôi:

    - Ngôi chùa xây xong chỉ là cơ sở vật chất, là phần cứng của máy vi tính. Còn phần mềm của nó là hoạt động Phật sự, nghiên cứu, giáo dục, truyền bá Phật pháp, là ngôi nhà tâm linh của tất cả mọi người. Chùa Yên Phú mở rộng cửa đón chào tất cả những ai muốn tham dự vào sự nghiệp giáo dục lối sống của con người Việt Nam hiện đại, thông qua Phật pháp. Chùa Yên Phú thân thiện mời các nhà giáo dục, các trí thức, học giả, văn nghệ sĩ, doanh nhân, thầy thuốc, nhà từ thiện… thoải mái đến đây cùng tu tập và góp phần truyền bá Phật pháp trong cộng đồng dân cư.

     Dưới bóng cây Bồ Đề mới trồng hơn mười năm, toả

    linh khí xanh lá cành xum xuê, gốc cây lớn ba người ôm không xuể, nơi sân chùa Yên Phú, chúng tôi vui như chưa bao giờ vui thế. Đã từng đến nhiều ngôi chùa, từng gặp nhiều nhà sư, hiếm thấy ai có tư tưởng mang Phật pháp giúp dân, gần đời, yêu người như Thượng toạ Thích Thọ Lạc.

             Một ngày được sống cùng chùa Yên Phú đang xây dựng ngổn ngang, chật chội, chúng tôi chứng kiến những sinh hoạt sôi động, phong phú, linh thiêng, thánh thiện của thầy trò Thượng toạ Thích Thọ Lạc. Một đám tang vừa được cầu siêu buổi sớm. Mặt trời lên, một lễ cưới trang trọng thiêng liêng diễn ra nơi Tam Bảo. Buổi trưa, nghi lễ ăn cơm chay im lặng hành khất theo từng bước chân Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

              Buổi chiều lễ sinh nhật một năm tuổi Câu Lạc bộ Nghệ Thuật Liên Hoa do nghệ sĩ ưu tú Cải lương dân ca Thuý Đạt làm chủ nhiệm (ý tưởng sáng lập của Thượng toạ Thích Thọ Lạc). Dưới Tam Bảo linh thiêng toạ lạc trong gian nhà tạm lợp mái tôn, tiếng chuông chùa vang lên, gọi mọi người vào cuộc vui hát dân ca, toả ánh sáng Phật pháp lan khắp làng mạc, đồng quê, tới muôn nhà, muôn người, sống theo lời Phật dạy: Từ, Bi, Hỉ, Xả, Bình đẳng, Bác ái, Tự do, Yêu người, yêu vật, yêu thiên nhiên cỏ cây hoa lá, sông hồ, đồng ruộng, núi non…

             Ngôi chùa cổ làng quê Yên Phú giờ đây vang lên tiếng hát, cung đàn muôn điệu của làng quê Việt: hát chèo tươi vui, quan họ ngọt ngào trong trẻo, ca trù cao sang Thăng Long, điệu hát văn, lẩy Kiều, vang cùng câu kinh, tiếng chuông, tiếng mõ rộn vang, mời gọi những người con dân Việt tụ về.

               

                  Buổi tối là khoảng khắc mọi người Thiền định.

                   Im lặng giữa thinh không.

                   Chan hoà ánh sáng Phật.

        

           Thượng toạ Thích Thọ Lạc vui cùng muôn ánh mắt, nụ cười của mọi người. Bao nhiêu năm khổ công tu học Phật tại Đài Loan, Mỹ, Pháp, Ấn Độ… nay Thầy được trở về ngôi chùa làng cổ kính, ấm tiếng mẹ hiền, được nghe các bà, các chị hát lời ca thánh thiện dâng Phật bằng giọng dân ca Việt, ru hồn người vào cảnh đời sống non nước thái hoà, còn gì vui hơn:

            “Đây Yên Phú tự linh thiêng. Bồ đề bóng mát lưu tên sư bà. Nhớ xưa khúc khải hoàn ca. Cùng Trưng Vương giữ nước nhà bình yên. Nay con về trước của Thiền. Kính dâng lên trước Phật tiền lời ca. Lòng nguyện theo Phật Di Đà. Cùng nhau vui sống chan hoà yêu thương. Chắp tay khấn nguyện mười phương. Đài sen toả mát, ngát hương đất trời”. (Thuý Liệu).

               Dưới bóng cây bồ đề linh diệu màu xanh, chúng tôi hân hoan cùng thượng toạ Thích Thọ Lạc, trả lại hồn quê Việt cho các ngôi chùa làng Việt Nam. Phật giáo vào Việt Nam ngay từ buổi đầu đã hoà với tín ngưỡng bản địa, mang bản sắc Việt Nam, mà tiêu biểu là Thiền Trúc Lâm Yên Tử do Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Phật tại Tâm. Và cách tu của dân gian Việt: “Thứ nhất là tu tại gia/ Thứ nhì tu chợ/ Thứ ba tu chùa”. Bởi thế, ngôi chùa Việt là nơi tụ hội của những người tu tại gia. Ngôi chùa không bao giờ đóng kín. Ngôi chùa luôn có tiếng Thị Mầu, Thị Kính, anh mõ, anh Nô, mẹ Đốp, tiếng trẻ vui cười, tiếng “Ba cô đội gạo lên chùa”, tiếng tiếng đàn hát dân ca, tiếng ngâm thơ của nàng Điểm Bích, tiếng nguyện cầu của chị Dậu, anh Pha…

             Ngôi chùa làng là nơi ký thác đời sống tâm linh của mọi tầng lớp người dân Việt, qua tiếng chuông chùa thong thả ngân nga mỗi sớm mỗi chiều. Ngôi chùa làng Việt Nam đầy ắp sự sống giữa Đạo và Đời, hoà quyện không gian.

              Thượng toạ Thích Thọ Lạc sinh năm 1963 tại Kim Sơn- Ninh Bình, lên tám tuổi xuất gia trong ngôi chùa làng Đồng Hướng. Nơi Đức pháp chủ đệ nhất Thích Đức Nhuận tu và là thầy dạy của Thượng toạ Thích Thọ Lạc. Hoà Thượng Thích Đức Nhuận là một trong những người thống nhất Phật giáo ba miền năm 1981, sau khi giải phóng miền Nam. Hoà thượng đưa ra ba đề nghị nhằm phát triển Phật giáo Việt Nam: mở các trường đào tạo tăng ni; các ngôi chùa phải có kế thừa người trụ trì; các Phật tử có quyền tự do tín ngưỡng.

            Noi gương Thầy, Thượng toạ Thích Thọ Lạc tự mình tinh tấn tu học thạc sĩ, tiến sĩ Phật học trong, ngoài nước, và giúp các đệ tử của mình được tu học uyên thâm như Đại Đức Thích Minh Thuần rất trẻ, học một lúc mấy trường đại học, học các nhạc cụ dân tộc: đàn bầu, nhị, sáo, đàn tam thập lục, đủ tài trở thành “Người nhạc trưởng áo nâu của Câu lạc bộ Liên Hoa- chùa Yên Phú”. 

              Thượng toạ Thích Thọ Lạc “ngộ” học thuyết Sáng Đạo trong Đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đạo thắp sáng ngọn nến trong tâm hồn mỗi con người, tự giải thoát chính mình khỏi những khổ đau. Đức Phật từng nghĩ: “Lý do duy nhất mà ta từ bỏ đời sống Thái tử là đi tìm chân lý để giúp mọi người. Bây giờ ta đã thấu rõ chân lý. Ta sẽ làm hết sức mình để truyền bá con đường chấm dứt khổ đau.”

              Chúng tôi tin rằng học thuyết Sáng Đạo trong Đời mà Thượng toạ Thích Thọ Lạc thắp lên từ ngôi chùa làng Yên Phú, cổ xưa nhất Thăng Long- Hà Nội, sẽ toả sáng các ngôi chùa làng quê Việt Nam thế kỷ XXI.

              Xuân Canh Dần 2010. Cơ duyên tiền kiếp. Gặp nhau dưới bóng cây Bồ đề toả sức sống xanh huyền diệu, nghiêng mình trước pho tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, chúng tôi khấn nguyện:

             “Con xin sám hối tất cả những trọng nghiệp của con, mười trọng tội và năm trọng nghiệp đã phạm từ vô thuỷ tới nay bởi tâm thức bị vô minh. Con xin hoan hỉ công đức của ba thời gian, được tích luỹ bằng thiện hành. Nguyện tất cả công đức nào của con tạo nên, tất cả trở thành nhân, dẫn tới sự giác ngộ. Xin cho con có khả năng dẫn dắt chúng sinh hữu hình đến với Đức Phật đại từ, đại bi, đại trí tuệ”.

           Tâm thức bừng tỉnh, dẫn dắt chúng tôi Về chùa Yên Phú trong tiếng chuông thu không nhè nhẹ buông rơi:

                                       Về Chùa 

                               Kiếp xưa ta đã hẹn mình

                      Nương nhờ cửa Phật nối tình thế gian

                              Vượt đời trăm nẻo can qua

                      Về chùa cầm nhịp cung đàn yêu thương

                                                              (Mai Thục)

          Chúng tôi cùng Thầy Thích Thọ Lạc vừa xây xong một ngôi chùa giữa thinh không. Đó là trang Web “Sáng Đạo trong Đời”. Bạn hãy cùng chúng tôi tu tập qua  sangdao trongdoi.vn, sẽ tìm thấy yêu thương và an lạc.

             IV. Đại lễ Cung rước Xá Lợi Phật và Thánh tăng từ chùa Yên Phú về Tổ Đình Kim Liên:

                    Nhân dịp Đại lễ Phật đản (Phật lịch 2554 năm) Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc), toạ lạc tại xã Đồng Hướng- Huyện Kim Sơn- Tỉnh Ninh Bình sẽ diễn ra sự kiện trọng đại, linh thiêng “Đại lễ cung nghinh Bảo Ngọc Xá Lợi Phật và Thánh Tăng về Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc)” vào ngày 21 tháng 5 năm 2010 (nhằm ngày mồng 8 tháng 4 năm Canh Dần).

    * Xá Lợi Đức Phật- Ngọc tinh tuý do đức tu Từ Bi Hỉ Xả:

    Người có cơ duyên nhận được Xá Lợi Đức Phật và

    Thánh tăng để Cung rước về Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc) là Thượng toạ Thích Thọ Lạc (Uỷ viên dự khuyết HĐTS GHPG Việt Nam.

     Uỷ viên Ban Phật giáo quốc tế TWGHPGVN

             Phó trưởng ban trị sự Phật giáo Tỉnh Ninh Bình

             Trụ trì: - Tổ đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc)

    Chùa Pháp Hoa (220A Lê Văn Sĩ- Quận 3- TP Hồ Chí Minh)

    Chùa Yên Phú (xã Liên Ninh- huyện Thanh Trì- Hà Nội)

            Trò chuyện với chúng tôi, Thượng toạ Thích Thọ Lạc nhấn mạnh ý nghĩa của Xá Lợi Đức Phật là Ngọc tinh tuý, kết tinh phần di thể của Đức Phật do công đức tu hành của Ngài.

            Con người bình thường khi chết hoả táng, cơ thể tan thành tro. Bởi con người tham, sân, si, chất tinh tuý bị tiêu huỷ.

           Đức Phật do đức tu Từ Bi Hỷ Xả, sau khi nhập diệt, thiêu di thể, kết tinh thành tám mươi viên ngọc trong suốt, màu vàng, nhỏ xíu. Sự kết tinh đó do Đức Phật dày công giới, định, tuệ, tâm thanh tịnh, từ bi bao la, trí tuệ toả sáng…

            Ngọc Xá Lợi Đức Phật được chia cho tám vị quốc vương của tám nước xung quanh Ấn Độ như Nêpal, Tây Tạng… mỗi nước mười viên. Một vài nước bảo tồn được Ngọc Xá Lợi Phật quan niệm họ cung kính, thờ phụng, giữ quốc gia thái hoà, dân chúng yên vui, khí Đất thịnh vượng thì Xá Lợi Đức Phật tiếp tục nảy sinh.

           Ngọc Xá Lợi Phật hết sức linh thiêng, nơi nào có cơ duyên được thờ Ngọc Xá Lợi Phật thì đó là bảo vật quốc gia, đem lại sự bình an cho nhân dân đất nước.

            Miền Bắc hiện nay có ba ngôi chùa chính thức được thờ Ngọc Xá Lợi Đức Phật một cách hệ thống, bài bản là Quán Sứ, Bái Đính và bây giờ là Đồng Đắc- Ninh Bình giữa một vùng lúa nước mênh mang với những người nông dân hiền hoà, sớm tối chăm lo cày cấy, mộ đạo Phật.

            Thánh tăng là các vị đệ tử lớn của Phật như: Xá Lợi Phất, Ca Diếp, A- nan… chứng quả La Hán. Phật có 1250 đệ tử, thường đi cùng Phật, đều chứng quả La Hán. Các vị Thánh tăng đắc đạo, khi chết thiêu, đều có xá lợi. Xá Lợi Thánh tăng không sáng bằng Ngọc Xá Lợi Phật,  nhưng toả ánh sáng Phật pháp, chứng minh con đường giác ngộ của Đức Phật là bất diệt, đem lợi ích cho chúng sinh.

              * Ngọc Xá Lợi Phật và Thánh tăng thờ tại Tổ Đình Kim Liên- Duyên lành huynh đệ:

            Hoan hỷ trước sự kiện Đại lễ Cung rước Xá Lợi Phật và Thánh Tăng về Tổ đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc), Thượng toạ Thích Thọ Lạc tâm sự với chúng tôi về tình huynh đệ giữa Thầy và người bạn đồng tu- Thượng toạ Thích Biểu Chánh- phó trưởng ban hoằng pháp Trung ương  GHPGVN, Viện trưởng Thiền viện Phước Sơn- Thành phố Biên Hoà, đã dâng hiến năm viên Ngọc Xá Lợi Đức Phật và mười viên Ngọc Xá Lợi Thánh tăng, mà Thượng toạ có duyên may, được tặng từ xứ Phật, nay dâng Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc).

            Thầy Thích Thọ Lạc và Thích Biểu Chánh là bạn đồng học rất tâm đắc tại Học viện Phật giáo TP Hồ Chí Minh. Ra trường hai Thầy cùng giảng dạy, cùng nhận trọng trách  trưởng khoa tại Học viện Phật giáo TP Hồ Chí Minh… Những ngày sang Ấn Độ học, hai Thầy tâm đắc ý tưởng xây dựng Phật pháp Việt Nam với phương pháp “Sáng Đạo trong Đời”.

             Thầy Thích Bửu Chánh mong muốn tôn thờ Ngọc Xá Lợi Phật và Thánh tăng tại Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc) để gắn kết Phật giáo Bắc- Nam và duyên lành huynh đệ. Bởi Tổ Đình Kim Liên là nơi tu hành đắc đạo của đức pháp chủ đệ nhất Thích Đức Nhuận- người chân tu đắc đạo đã có công thống nhất Phật giáo Bắc- Nam sau khi đất nước hoà bình.

           Tổ Đình Kim Liên (chùa Đồng Đắc) xuất hiện thời Nguyễn Công Trứ (1829). Chuyện kể rằng Nguyễn Công Trứ được triều đình cử về Ninh Bình cùng dân khai đất bãi, lấn biển, lập làng mới. Biết nhà sư họ Lê chùa Phúc Nhạc, xã Khánh Nhạc, huyện Yên Khánh- Ninh Bình chân chính, đức độ, được  dân tin sùng, Nguyễn Công Trứ đã đến chùa bái yết cụ, nhờ giúp đỡ. Sư Tổ ra tay giúp Nguyễn Công Trứ tập hợp dân làng đắp bãi biển phù sa bồi, lập ấp.

             Việc thành công. Nguyễn Công Trứ tâu triều đình phong tước vinh danh nhà sư. Ngài từ chối. Nguyễn Công Trứ hỏi nguyện vọng, sư Tổ nói: “Ở đâu có dân, ở đó có tín ngưỡng. Tôi muốn xây dựng ngôi chùa trên đất mới này”. Nguyễn Công Trứ để sư Tổ tự tìm mảnh đất cao nhất ở trung tâm xã Đồng Đắc (vùng đất mới lập) xây chùa. Nhà sư họ Lê trở thành sư Tổ đệ nhất chùa Đồng Đắc.

             Gần hai trăm năm qua, chùa Đồng Đắc đã có sáu đời sư trụ trì, đều đắc đạo. Thượng toạ Thích Thọ Lạc là vị trụ trì thứ bảy, đã noi gương sáng các bậc sư Tổ, toả ánh sáng Phật pháp trong Đời.

      * Đại lễ Cung nghinh Bảo Ngọc Xá Lợi Phật và Thánh tăng về Tổ đình Kim Liên là sự học Tâm Phật:

                 Phật tử và nhân dân Ninh Bình- Hà Nội và khắp nơi tưng bừng hoan hỉ tham dự Đại lễ Cung rước Xá Lợi Phật và Thánh tăng- Báu vật thiêng liêng, nhắc chúng ta về con đường sống Từ Bi Hỷ Xả của Đức Phật, mà cả nhân loại đều hướng tới, đem lại hạnh phúc, an bình cho chính mình và xóm làng, dân tộc, Tổ quốc, non sông.

             Tại Hà Nội. 4h sáng rước Xá Lợi từ chùa Yên Phú- Hà Nội về chùa Đồng Đắc. Đúng 7h đến đầu làng Đồng Đắc, mọi người dừng xe rước Xá Lợi đi bộ kéo dài hai cây số về chùa Đồng Đắc. Đoàn rước có chín cỗ kiệu của chín ngôi làng lân cận cùng chư tăng đi sau xe Xá Lợi, các đoàn Phật tử và quan khách nối tiếp. 9h sáng. Ban đại diện Phật giáo huyện Kim Sơn- Ninh Bình long trọng tổ chức mít tinh kỷ niệm ngày Đản sinh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. 11h giờ trưa. Lễ an vị Xá Lợi Phật và Thánh tăng. Khai mạc triển lãm Xá Lợi Phật và Thánh tăng.

               Đây là thời khắc thiêng liêng để Phật tử chiêm bái trực tiếp Ngọc Xá Lợi Phật, nhắc nhớ mỗi người rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một con người có thật, đã từng sống ở trần gian bể khổ, nhờ biết tu tâm, luyện trí, yêu thương con người và vạn vật ở thế gian, mà tự tìm ra con đường giải thoát. Giải thoát cá nhân mình, Đức Phật dâng cả cuộc đời, truyền bá sự giải thoát ấy, để cứu chúng sinh. Đức Phật kêu gọi mọi người: “Hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi”.

              Chiêm ngưỡng Ngọc Xá Lợi Phật và Thánh tăng, chúng ta tin tưởng sắt đá rằng, cõi người trên hai nghìn năm qua đã học theo con đường giải thoát khỏi đau khổ, vươn tới hạnh phúc, của Đức Phật. Không có con đường nào tươi sáng  hơn con đường mà Đức Phật đã dạy chúng ta “Xoay lại tìm mình” tự mình sống theo cách sống Từ Bi Hỷ Xả. Sống bằng Trí tuệ và Tình thương.

                   Phật tử Việt Nam đã ca vang lời ca dâng Đức Phật:

                            Trí Phật sáng ngời như trăng tỏ

                            Tâm Phật thanh tịnh tựa lưu ly

                            Phật ở thế gian thường cứu khổ

                            Tâm Phật không đâu không từ bi.

      Hồ Gươm ngàn Hoa dâng Phật
      Mùa Phật đản 2010
       
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 16.05.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com