ĐỒNG LÚA NAM BỘ



MAI THỤC


       
 

                                 Từ thủa mang gươm đi mở nước

                                Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long

        Câu thơ ấy của Huỳnh Văn Nghệ đã in sâu trong tâm trí chúng ta, gợi về tình yêu thương giống nòi, dân tộc trên dải đất hình chữ S từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau.

        Mở từng trang sử, tìm hình bóng cha ông từ cổ đại, Lý, Trần, Lê đến nay… đã vượt rừng, xuyên biển, mở nước về phương Nam, xây nên một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, độc đáo Việt Nam. Đó là hành trình của cây lúa nước. Lúa nước dẫn đường cho người Việt làm nên những đồng bằng. Từ đồng bằng sông Hồng, sông Mã đến đồng bằng sông Đồng Nai, sông Cửu Long thơm hương lúa.

        Những cánh đồng lúa nước phì nhiêu. Những kênh rạch chằng chịt tạo ra chân trời lúa, chân trời nước, chạm đường mây thênh thang của đồng bằng Nam Bộ thật kỳ thú, mênh mang, mở lòng người rộng đến bao la, đến vô cùng. Miền đất này, ngàn năm trước đã từng có nền văn hóa Óc Eo rực rỡ, chẳng hiểu vì sao nó biến mất, để lại đất này “cây rừng rậm rạp, đầm lầy, dã thú và không thấy bóng người”. Vùng đất mới Nam Bộ với Sài Gòn- Gia Định chính thức xuất hiện trên bản đồ văn hóa Việt Nam cách đây trên ba thế kỷ. Năm 1988, chúng ta kỷ niệm ba trăm năm thành phố Sài Gòn, kể từ khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Phúc Cảnh được lệnh của  Chúa Nguyễn Phúc Chu cử đi kinh lược phương Nam, tổ chức cai trị miền đất mới.

        Thế kỷ XVII, người Việt tới đây, trước mắt là biển cả mù khơi, rừng thẳm bạt ngàn, chứa chất đầy hiểm nguy, bí ẩn. Họ thốt lên:

                        “Tới đây xứ sở lạ lùng

              Con chim kêu phải sợ, con cá  vùng phải kinh”.

          Đất Nam Bộ hoang vu, thời tiết khắc nghiệt. Đồng Tháp Mười trước 1945, vẫn còn là nơi “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh”. Trong vòng ba trăm năm, người Việt các thế hệ đã “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” cùng nhau biến đồng đất hoang vu thành những đồng lúa mênh mông, những vườn cây hoa thơm, quả ngọt, khoe sắc dưới nắng vàng. Họ bảo nhau trồng lúa nước, chấp nhận hòa hơi thở của mình với những cánh đồng lúa nước và những dòng sông, cửa biển… Họ không đắp đê ngăn những cơn nước lụt dọc theo các triền sông Cửu Long mà dựa vào nguồn nước phù hợp với thủy lưu lên xuống của sông và biển để làm nên những cánh đồng vàng. Họ lập thôn ấp men theo kênh rạch, tạo nên những mái nhà bên đường nước thênh thang. Họ sống trên nước và chết cũng trôi theo dòng nước. Người Việt biết sống hòa vào thiên nhiên Nam Bộ và còn biết sống hòa hợp cùng các dân tộc khác trên đất Nam Bộ: Khơ Me, người Xtiêng, người Mạ, người Mnông, các lái thương Trung Hoa… Thiên nhiên rộng lớn đất đai, sông nước, biển trời ấy đã hun đúc nên tính cách người Nam Bộ siêng năng trồng cấy, chăn nuôi, cần mẫn làm ra các hải sản cá, cua, tôm, mực, năng động làm nghề thủ công, buôn bán, giao thương, sống trọng nghĩa, kinh tài, khí chất hào sảng, mạnh mẽ, gần thiên nhiên, chịu học hỏi…

             Du khách ngày nay thỏa thuê du thuyền trên những con đường nước Nam Bộ, gió mênh mang, ngắm người trên các loại ghe thuyền đi lại, mua bán, vận chuyển, họp chợ, hò hát, đờn ca… mà vui cùng các “anh Hai Nam Bộ” hay các “công tử Bạc Liêu”.

         Giữa thế kỷ XVIII, đất đai phì nhiêu Nam Bộ đã được người Việt khai phá, biến thành vựa lúa lớn của cả khu vực Đông Nam châu Á. Lúa gạo Gia Định, Hà Tiên đã bán ra Thuận Quảng và xuất qua Xiêm La, Singapore, Trung Quốc. Năm 1836, triều Nguyễn tổng kiểm tra ruộng đất ở Nam Bộ, đo được tất cả 630.075 mẫu đất các loại. Đất Nam Bộ có chứa tới 300.000 ha diện tích trồng lúa, đến năm 1930 là 2.434.000 ha.

         Lúa gạo Nam Bộ thơm ngon, rẻ hơn các vùng khác. Người Nam Bộ chịu khó làm việc và dễ mến… Bởi thế nên,  những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp vào Việt Nam và khai thác triệt để mục tiêu sản xuất lúa gạo xuất khẩu. Khắp nơi thóc lúa chiếm vị trí hàng đầu trong việc buôn bán với người nước ngoài. Họ mở cảng Sài Gòn xuất khẩu gạo Nam Kỳ ra khu vực và châu Âu, sang cả châu Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản… Tốc độ xuất khẩu tăng rất nhanh. Gạo xuất khẩu mang những thương hiệu: “Gò Công”, “Vĩnh Long”, “Bãi Xàu”… Thị trường châu Âu ưa chuộng loại gạo hạt tròn “Gò Công” và hạt gạo dài “Vĩnh Long”. Trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã xuất khẩu một lượng lúa gạo Nam Bộ lớn, năm 1907 xuất 1.427.535 tấn. Để vận chuyển nhanh lúa gạo về cảng Sài Gòn, họ đã ra sức hoàn thiện mạng lưới giao thông đa dạng: xe lửa, đường bộ, đường sông… và lập nhiều nhà máy xay xát lúa gạo lớn ở khắp các vùng lúa.

          Tuy nhiên cuộc “Khủng hoảng lúa gạo năm 1919” do mất mùa lúa Nam Bộ, do chất lượng gạo kém… làm cho ngài Toàn quyền Pháp điên đảo. Người Pháp ban hành nhiều biện pháp sít sao. Nhiều cuộc hội thảo, nhiều phiên họp nêu biện pháp làm tăng chất lượng gạo Nam Bộ để cạnh tranh với thị trường thế giới. Họ nhận định muốn nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu phải đầu tư cải thiện sản xuất lúa gạo ngay từ đồng ruộng đến các nhà máy xay xát. Hướng dẫn nông gia chọn giống và bảo quản lúa, định giá thỏa đáng, nghiêm trị các hành động gian lận…

         Về giá trị của việc xuất khẩu lúa gạo Nam Bộ đối với nền kinh tế ở chính quốc, Thống đốc Pagès nói: “Có người hỏi rằng thuộc địa và lúa gạo có lợi gì cho nước Pháp? Thật là một câu hỏi vừa ngây ngô vừa ngốc ngếch! Điều đơn giản là nếu Nam Kỳ xuất khẩu đựợc nhiều gạo thì Nam Kỳ mới có tiền để mua sản phẩm tinh chế, các sản phẩm kỹ nghệ và chế biến, từ vải vóc đến rượu vang, từ xe hơi, xe đạp đến kim hoàn, cùng mọi hàng hóa mà người châu Âu cũng như người Việt tầng lớp trên đều cần thiết. Nếu Nam Kỳ chở về Pháp 500.000 hay 600.000 tấn gạo thì Nam Kỳ sẽ mua  lại những lô hàng quan trọng, giúp nền kinh tế Pháp phát triển… góp phần làm cho các nhà máy ở chính quốc tồn tại.”

        Còn người dân Việt trên cánh đồng lúa Nam Bộ và  khắp các cánh đồng lúa nước Việt Nam muôn đời sống nhờ lúa gạo thì hát nôm na với nhau rằng: “Nhất sĩ, nhì nông/ Hết gạo chạy rông/ Nhất nông nhì sĩ”. Sinh ra trên những cánh đồng lúa nước bao la, bát ngát tận chân trời, mà người dân Việt nhiều đời nay, vẫn luôn phập phồng lo về nỗi hết gạo, nói gì đến những thứ cao sang? Thế hệ chúng tôi đã từng chứng kiến cảnh “Hết gạo chạy rông/ Nhất nông nhì sĩ” thời bao cấp, những thập niên cuối thế kỷ XX. Cảnh làm ăn hợp tác xã ngày ấy, người nông dân chán ruộng, những cánh đồng lúa xác xơ. Gạo không đủ ăn, dân thành phố phải chia nhau từng hạt bo bo, bột mì mốc, gạo mọt. Ai có quê hương, có bố mẹ làm nông nghiệp, may ra được tiếp tế vài cân “gạo quê” dành để nấu cháo nghiền thành nước cho trẻ sơ sinh. Nhưng “gạo quê” chẳng phải nhà nông nào cũng có mà ăn. Đồng ruộng bỏ không. Nông dân đói. May sao, ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, đã dám “liều mình như chẳng có” đứng ra tổ chức nông dân phá vỡ vòng bao chắn của lối làm ăn tập thể dối trá, dựa dẫm, ỉ lại, “cha chung không ai khóc”. Ông chia ruộng cho từng hộ nông dân tự toan lo cày cấy và thụ hưởng bát cơm thơm từ tấm lưng còng “một nắng hai sương” của mình “trên đồng ruộng cạn, dưới đồng sâu”. Riêng ông chịu kỷ luật vì dám “phá rào”. Đau đớn thương yêu người nông dân và hạt lúa đến nghẹn lòng, ông Kim Ngọc từ giã cõi đời trong những giọt nước mắt buồn. Ai đó đã trồng trong sân vườn nhà ông Kim Ngọc,  một cây nhót, xanh quả, trĩu cành, khi quả chín, nó đỏ rực và rơi xuống đất. Từng quả nhót màu đỏ rơi, đỏ như màu máu.

           Mới đây, Nhà nước tặng thưởng Huân chương cho ông Kim Ngọc. Nhưng nỗi lo “Hết gạo chạy rông” của người dân Việt vẫn ám ảnh người Việt hôm nay. Lo hết gạo, chúng ta đừng quên người nông dân trên những cánh đồng lúa. Bạn đang làm doanh nghiệp, thương mại, làm kỹ sư, bác sĩ, làm thầy giáo, công nhân, làm nhà quản lý, ngoại giao, ngọai thương… làm bất cứ việc gì cũng vì hạt lúa, vì những cánh đồng lúa nước, cái nôi của sự sống người Việt, không có một thứ gì thay thế được. Và dù bạn là ai đi nữa, giàu có đến đâu đi nữa, thì gốc rễ của bạn và của tôi vẫn là hồn cốt Người Nông Dân trên cánh đồng lúa nước. Bạn cùng tôi, tự hào vì đứng trên nền tảng của Văn minh lúa nước mà đi khắp gầm trời cuối đất.

       Nếu bạn quốc tế hỏi tôi là ai? Tôi sẵn sàng trả lời rằng tôi là người con sinh ra từ những cánh đồng lúa nước, nền văn minh lúa nước Việt Nam. Tôi yêu những cánh đồng vàng lúa gợn sóng nhấp nhô đẹp hơn cả những bức tranh của các danh họa nổi tiếng thế giới. Và bản nhạc cánh đồng vàng, cánh đồng xanh lúa, miên man mềm mại như những cánh cò bay lả bay ra ru tôi về miền cổ tích là bản nhạc mà tôi say đắm suốt một đời. 

       Hai mươi chín năm, sau khi Bắc Nam thống nhất tôi mới được đặt chân trên cánh đồng vàng Nam bộ. Tôi một mình lên ôtô khách Sài Gòn thẳng tới Cà Mau. Bạn hỏi tôi sao liều thế? Tôi nói: “Đất nước mình đẹp như thơ, dân mình hiền như thóc gạo, nhưng họ đủ thông minh để phân biệt kẻ dữ, người hiền. Họ không bao giờ nỡ hại người lành”.

        Con đường Sài Gòn- Cà Mau đi mất chín giờ đồng hồ qua những cánh đồng, những vườn quả xanh mướt, xoài chín lúc lỉu, thơm hương tan cùng gió. Những dòng sông vươn mình dưới nắng vàng, lấp lánh chảy trôi về biển lớn. Đến Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, một vùng đất mới hiện ra, đẫm phù sa và thắm đỏ màu trái tim những người con Việt đi mở nước. Thành phố Cà Mau. Gió miên man. Nước miên man. Và tình người cũng miên man, ấm như nắng, dạt dào mênh mang như nước. Họ đón tôi, chân thành nồng hậu.

        Cà Mau bốn mùa nắng gió. Hoàng hôn tím dần. Vợ chồng thầy giáo Trần Văn Chiến cùng mấy cặp vợ chồng học trò của thầy khao tôi nhậu dưới một sân chim trong thành phố. Tôi nhìn lên bầu trời vô tận, vô cùng, khao khát được bay lên. Từng đàn cò trắng xếp hành những đội hình đông vui, xoải cánh bay về rừng cây xanh thẫm, gió rì rào đón đợi. Trên những ngọn cây tôi nghe tiếng cò gọi nhau xao xác tìm về tổ ấm. Tiếng vợ chồng gọi nhau, tiếng cha gọi con, anh gọi em, tiếng cò mẹ gọi cò con. Tiếng gọi thân thương trìu mến ấy đã nâng bước chân tôi đi khám phá mảnh đất, con người Cà Mau.

       Cà Mau hai mùa mưa nắng. Người đã nhiều lên. Đất hoang hoá đã hết. Những con thuyền no gió. Những chiếc ghe êm đềm chở đầy gạo, hoa trái, lướt trên những dòng kênh, rạch hiền hoà, mộng mơ đang được thay dần bằng những con thuyền gắn máy chạy phành phạch trên dòng nước, tung khói khét mù.

          Đêm Cà Mau không ngủ. Người ta đi mò cá, bắt cua, đi ôtô về Sài Gòn. Họ bảo: “Đêm rất mát”. Ngày xưa, cá tôm nhiều đến mức xoà tay xuống nước là vớt được. Bây giờ, người đông, của khó, người ta bảo nhau trồng lúa mùa mưa, mùa khô nuôi tôm, thả cá.

        Rẽ nước bằng xuồng máy, tôi vượt gió ra Đất Mũi. Bước chân xuống chiếc xuồng nhỏ, bốn bề sông nước chơi vơi, gió tơi bời bốn phía, tôi hơi ngợp. Nhưng bên phải tôi có ông Xem, bên trái có o Thắm, đằng trước có anh Nhơn và chàng lái tàu thiện nghệ, nỗi sợ tan dần. Xuồng rẽ nước phóng vào không gian như một mũi tên. Gió thơm hương rừng đước, rừng mắm, hương bùn đất mặn mòi, hương sông ngòi, kênh rạch, hương bếp từ những mái nhà lợp lá dừa nước bám chênh vênh hai bên bờ nước… Hơi nước ủ hương thơm ấy phả táp vào thân thể tôi, làn da bừng lên sự sống linh diệu, tâm hồn tôi thênh thang tình yêu nước, yêu người, yêu cỏ cây hoa lá giữa nước, trời vô tận…

         Đất Mũi mênh mang những con đường nước. Ở đây mênh mang tưởng như chỉ có nước với trời, rừng ngập mặn hoang vu và biển dữ, tưởng như nơi đây là chốn hỗn mang, nguyên thuỷ. Nhưng nơi đây, cây và người, nước và người , đất và người bảo nhau cùng chung sống, bám tựa vào nhau mà vui sống. Cây mắm bạn với người, bám quanh đường nước. Cây mắm có bộ rễ mọc ngược lên, đất phù sa bồi ra biển đến đâu, cây mắm mọc choài ra, tiên phong giữ đất. Cây đước có bộ rễ chùm, mọc theo sau cây mắm, giữ đất bám chắc khoẻ vào bộ rễ của mình. Và những con người phương Nam gan góc, hồn hậu, bám lấy rừng đước làm nhà sàn, lấy gỗ đước làm củi sưởi, làm than đun nấu, đóng thuyền xuôi trên nước mà bắt cá, bắt tôm, mà giao thương, gặp gỡ, mà học thành người, để yêu thương nhau cùng vui sống…

         Xuồng cập bến sau hai giờ lao vun vút trên đường nước. Chúng tôi đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng tận cùng phía Nam Tổ quốc. Nắng vỡ oà. Gió vỡ oà. Nỗi xúc động vỡ oà lồng ngực. Ngồi trên ngôi nhà du lịch hai tầng vừa được xây trên mỏm đất tận cùng Tổ quốc thiêng liêng mà ngày nào bạn cũng nhìn thấy nó trên bản đồ, tôi phóng tầm mắt ra bốn phương trời đất, nghe gió nắng rì rào hát ca, cảm thấy mình như đang bay. Phía Tây là biển biếc Thái Lan, Campuchia, phía Nam là Philippin, Malasia, phía Đông là Bà Rịa, Vũng Tàu, Côn Đảo… Và trên mảnh đất xóm rạch Mũi này có cột mốc toạ độ quốc gia số 1 (Cột mốc số 0 ở Lạng Sơn). Nơi đây rừng đước nối nhau, rừng mắm nối nhau, cùng nhau giữ đất bồi ra biển mỗi năm hàng trăm mét.

          Ông Xem thân thương kể với tôi rằng tuổi thơ ông chèo ghe cùng tía vào rừng đước gặp chồn, rắn, hổ, chim, và cá nhiều không tả xiết. Mùa gió chướng, hai cha con ông căng buồm mà đi trên nước, đi miên man trên những dòng nước chằng chịt, tưởng quên lối về, nhưng chỗ nào có cá nhiều, nhìn nước là tía biết…

        Mê man trong gió nắng linh diệu ôm dải đất tận cùng Tổ quốc, tôi bắt gặp một chàng trai Hà Nội, bằng tuổi con trai tôi, cũng mê man oà vỡ như tôi. Hai mẹ con ôm lấy nhau, muốn ôm choàng cả đất nước nhân dân, yêu thương tha thiết trào nước mắt. Nhưng chợt tỉnh ra, thấy thân phận mình mong manh quá! Trước giây phút rời chân giã biệt mảnh đất mà tôi đã đi cả một đời, một kiếp trầm luân, qua bao núi cao, biển rộng, sông dài, rừng thẳm, đất dày, vực sâu tăm tối, đạn bom, sấm sét, bão tố, trời đêm… thắm máu đào của hàng triệu người Việt Nam, mới tới được, tôi lặng lẽ hái một nhành đước, thả cho đước trôi ngược về biển Bắc làm hoa vĩnh biệt giáo sư, viện sĩ, bác sĩ Tôn Thất Bách vừa đột ngột qua đời. Cầu mong anh yên nghỉ giấc vĩnh hằng. Cầu nguyện linh hồn anh siêu thăng tịnh độ…

              Cà Mau những đêm không ngủ.

       Mặt trời lên rất sớm. Vợ chồng thầy Chiến hộ tống tôi đội nắng xuyên rừng U Minh bằng xe máy. Chuyến đi ngoạn mục và mạo hiểm. Tôi từng đọc sách, xem phim về đất rừng U Minh, mà sao vẫn lơ mơ tưởng rằng cuộc đi dã ngoại vào rừng U Minh thật là dễ dàng, thật là mát, đẹp và thơm, tha hồ mà ngắm mây bay, gió thổi, nghe chim hót véo von… Ai ngờ tôi phải vượt những chặng đường sống trâu gồ ghề, đá sỏi mấp mô, gió tung mù bụi dưới nắng hè chang chang, có khi phải vác xe máy xuống xuồng trôi theo kênh rạch. Tôi ngồi sau xe máy của bạn Tùng Linh, thỉnh thoảng Linh lại kêu “ Quá trời”, sợ tôi ngã. Cứ như thế, tôi đã xuyên rừng U Minh, lúc thì gặp vườn chuối, vườn dừa, khi gặp bãi hoang lau sậy, những ngôi nhà lợp lá dừa nứơc với một lũ chum vại đứng giữa trời hứng nước mưa, khi gặp rừng đước kề bên bãi bồi lấn ra biển… Tôi vui ngất ngây khi gặp rừng Tràm. Hương Tràm nhè nhẹ bay trong không gian rộng lớn, ướp vào bầu không khí thứ hương ngòn ngọt, thơm tho mùi mật ong, quyến rũ, xao động đến say lòng để tôi nhớ suốt đời. Nhớ hương Tràm, nhớ cánh đồng lúa thơm tình đất và người Nam bộ, mà năm tháng càng dày thêm nỗi nhớ.  

 
 
Hồ  Gươm- mùa hoa Loa Kèn 2010 
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 02.05.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com