THÁNG BA GIỖ MẸ



MAI THỤC


          Câu tục ngữ “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” truyền  dân gian, như mệnh lệnh tâm linh, để mỗi người con Việt tìm về Đạo Mẫu.

         Đạo Mẫu lấy Mẹ làm linh tượng, nhưng bên cạnh Mẹ có Cha. Nếu tháng ba, người dân đổ về Phủ Giầy- Nam Định và các đền, điện thờ Mẫu khác để giỗ Mẹ- ngày hóa của Thánh mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ Đạo Mẫu, thì tháng tám là ngày giỗ cha- vua cha Bát Hải Đại vương, đức Thánh Trần, được thờ chính ở đền Đồng Bằng (Thái Bình) và Kiếp Bạc (Hải Dương). Ngày hội giỗ Mẹ- Cha, với nghi lễ hầu bóng (lên đồng) của Đạo Mẫu, từ lâu là nhu cầu tâm linh không thể thiếu của người Việt Nam ở trong, ngoài nước.

        Các nhà nghiên cứu khẳng định Đạo Mẫu là sự tích hợp các giá trị văn hóa- nghệ thuật dân gian qua các bài văn chầu, truyện thơ kể sự tích các Thánh, diễn xướng, hát chầu văn, hầu bóng… (Sách Đạo Mẫu ở Việt Nam- NXB Văn hoá Thông tin- 2006)

               Nghi lễ lên đồng hay hầu bóng như hành trình của thần linh vui sống với trần gian. Lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các thần linh Đạo Mẫu vào thân xác các bà đồng, ông đồng để ban phúc lành, sức khỏe, bình an… cho người trần. Đây là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp, một loại hình sân khấu tâm linh với các động tác hát múa, nhập vai Thánh trong không khí âm nhạc và làn điệu hát văn cổ truyền. Múa hầu bóng linh thiêng, kết hợp âm nhạc, lời hát và nghi lễ tôn giáo thể hiện sự tái sinh của Thánh trong thân xác người nhập hồn. Các ông đồng bà đồng say ngây ngất khi thánh nhập, tạo trạng thái mê ảo trong tâm hồn người dự. Họ như được gặp gỡ thánh hiền mỗi khi các thánh giáng đồng: Quan đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam, ông Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Tứ vị Chầu bà, cô Bé, cô Chín, cậu Bé, cậu Ba… trong sắc màu rực rỡ, mỗi người một kiểu áo quần, một màu sắc thiên nhiên, mỗi màu tượng trưng cho một miền vũ trụ: thiên phủ màu đỏ, đất màu vàng, sông biển màu trắng, núi rừng màu xanh… Họ sống trong không gian mộng ảo, cảm thấy các thánh thương yêu, an ủi, chở che, chữa bệnh, trao niềm vui, tặng quà, trợ giúp phút khó khăn… Sự giao cảm giữa người và Thánh trong lễ hầu bóng là phút thăng hoa kỳ diệu, giải tỏa những ẩn ức chất chồng. Người lên đồng và người tham dự đều thấy mình khỏe ra, vui, nhẹ nhõm, quên âu lo, nhọc nhằn.

        Lên đồng xuất hiện thời hậu Lê ở miền Bắc rồi cả nước, và người Việt đi Pháp, Mỹ, Úc, Đức, Anh, Nga… đã mang theo Đạo Mẫu và nghi lễ lên đồng, như một hành trang kết nối cùng tổ tiên, nguồn cội.

                           Tháng Ba giỗ Mẹ.

         Bà Nguyễn Nga, Việt kiều Pháp- người sáng lập Ngôi nhà nghệ thuật (Maison des Arts 31A- Văn Miếu- Hà Nội) sau nhiều năm nghiên cứu Đạo Mẫu, nay đủ duyên giới thiệu Đạo Mẫu cho du khách trong, ngoài nước (tại Maison des Arts) với một điện thờ linh thiêng, đủ những pho tượng cổ Tam tòa Thánh Mẫu: Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thánh Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn… với nghi lễ lên đồng huyền ảo, riêng sắc màu Việt.

           Đêm Hà Nội yên bình. Chúng tôi cùng các bạn quốc tế, các phu nhân đại sứ, các vị tham tán văn hóa… được tham dự lên đồng cổ truyền tại Maison des Arts. Lên đồng cuốn hút bạn nước ngoài vào không gian nghệ thuật tâm linh đặc sắc hồn Việt.

         Phu nhân đại sứ Pháp mê cuộc vui suốt bốn, năm giờ liền. Bà thốt lên: “Thật tuyệt vời. Lên đồng đã gom vào tất cả các loại hình hát, múa, âm nhạc đồng quê Việt, cả trình diễn thời trang dân tộc, đủ các kiểu áo quần, màu sắc, và tâm hồn, nhân cách các vị anh hùng dân tộc Việt… Lên đồng giúp chúng tôi hiểu người Việt Nam là ai”

         Bà Nguyễn Nga nói về Đạo Mẫu:

  • Trên con đường tìm về cội nguồn bản sắc văn hóa

Việt Nam, tôi đã tìm thấy trong Đạo Mẫu, một tín ngưỡng xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI, nhiều giá trị văn hóa, quan trọng hơn cả là Chầu văn cho các giá đồng. Tôi tha thiết với nó, vì đã thể hiện truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ và cái bọc trăm trứng. Các giá đồng còn ca ngợi, làm sống dậy, và mong gặp lại, hình ảnh, nhân cách cao đẹp của các vị anh hùng đánh giặc, người có công khai mở vùng đất mới, người thương dân: dạy làm nghề, chữa bệnh, dạy văn hóa, nghệ thuật… và một phần trong số những người được dân tôn Thánh là người dân tộc vùng núi. Bởi thế, Đạo Mẫu thu cả một vùng non nước, tâm hồn, nghệ thuật của đại gia đình Việt Nam trong ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hầu bóng đã tham dự vào lĩnh vực giáo dục lòng yêu nước và hoàn thiện nhân cách Việt Nam qua các nhân vật có thật, được dân thờ như Trần Hưng Đạo…

    Khi sáng lập Maison des Arts, tôi vừa muốn phổ biến,

vừa muốn chia sẻ  các giá trị văn hóa ngàn năm thông qua các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, âm nhạc… truyền thống, mà Đạo Mẫu không thể vắng bóng ở Maison des Arts.

        Bà Nga còn nhìn lễ nghi hầu bóng ở góc độ xã hội:

  • Lên đồng đã góp phần xử lý tình trạng lệch giới tính

trong xã hội Việt Nam cực kỳ hay. Trong bất cứ xã hội nào, cổ, kim, Đông, Tây, đều có những người không thuận giới tính. Bị cô lập, bị dồn nén, họ biến dạng, bùng nổ, sinh rắc rối, phức tạp, đôi khi nguy hại cho xã hội. Hầu bóng tạo một không gian cho họ được sống hết mình với các nhân vật, sống nhiều kiếp, nhiều giới tính, giải tỏa những ẩn ức sinh lý, lúc là thánh, lúc là ông, là bà, là cô, là cậu…

         Hầu bóng là trạng thái thăng hoa hoàn toàn, giải phóng con người cá nhân, tạo an bình xã hội.

         GS Ngô Đức Thịnh cho biết lên đồng cũng là một trong các dạng thức của tín ngưỡng Shaman, phổ biến khắp các dân tộc trên hành tinh, nảy sinh từ thời xã hội bộ lạc, nay trong xã hội đô thị hóa, lên đồng là phương thức giải tỏa các dồn nén (stress) của con người. Với người Việt Nam lên đồng là tình cảm ơn Cha, nhớ Mẹ không bao giờ nguôi.

                                 Tháng Ba giỗ Mẹ.

          Xuân Canh Dần 2010. Chúng tôi tưng bừng tham dự cuộc tế lễ Mẫu Liễu Hạnh tại Đền Bà Kiệu ngay giữa Hồ Gươm.

        Đền Bà Kiệu thờ Mẫu Liễu Hạnh do bà Lê Thị Kiệu thuộc dòng họ Lê xây từ đời Lê Thần Tông (1619- 1628). Đền Bà Kiệu gắn với Hồ Gươm và cụm kiến trúc Đền Ngọc Sơn, Tháp Bút- Đài Nghiên, Cầu Thê Húc… thành một cảnh thiên nhiên hoà trời mây, non nước, con người, toả sáng tư tưởng Thiên- Địa- Nhân hợp nhất và khát vọng Hoà bình- Tự do- Bác ái của Thăng Long- Hà Nội.

          Thời Pháp thuộc, Viện Viễn Đông Bác Cổ Xếp Đền Bà Kiệu vào danh sách “Cổ tích liệt hạng” và Nhà nước ta đã công nhận di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng. Đền có tên là Thiên Tiên Điện thờ Mẫu Liễu Hạnh, nhưng do bà Kiệu xây nên dân gian gọi nôm là “Đền Bà Kiệu”.

         Suốt gần năm trăm năm qua, ngôi đền thơm hương khói, tế lễ Xuân Thu nhị kỳ, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo nghi lễ dân gian và đạo thờ Mẫu của người Việt.

        Nhưng có một thời gian dài cuối thế kỷ XX, Đền Bà Kiệu bị chiếm dụng làm chỗ bán tranh. Đồ thờ cúng, hoành phi, câu đối, bát bửu, quần áo tế lễ… đã bị biến mất. Chỉ còn gian hậu cung do vợ chồng ông Lê Mạnh Hùng, con trai của người thừa kế di sản Đền Bà Kiệu trông nom, gìn giữ thờ cúng.

         Nhiều tiếng nói vang lên đòi trả lại không gian Đền Bà Kiệu thờ Mẫu Liễu Hạnh.

          Linh thiêng thay! Mùa Xuân Canh Dần 2010. Mừng Thăng Long- Hà nội nghìn năm tuổi. Người ta đã thôi không bán tranh nữa. Trả lại Đền Bà Kiệu thơm hương khói thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

                                 Tháng Ba giỗ Mẹ.

         Lễ giỗ Mẫu Liễu Hạnh (giỗ Mẹ) tháng Ba hằng năm tại Phủ Giầy. Trước đó, các ngôi đền thờ Mẫu Liễu Hạnh khắp nơi trên đất Việt linh thiêng đều tế lễ Mẫu Liễu Hạnh. Đền Bà Kiệu, sau mấy chục năm im lìm, giờ đây lại được tưng bừng tế lễ Mẫu Liễu Hạnh. Bao nhiêu năm vắng cảnh tế lễ linh thiêng, Đền Bà Kiệu trống trải u sầu. Nay hồn thiêng Thánh Mẫu toả ấm mái ngói nâu nấp bóng đa già trong buổi lễ tế mùa Xuân.

         Đền Bà Kiệu mái ngói nâu trầm, sáng tươi màu sắc, âm thanh, nghi lễ dân gian.

         Đội tế lễ nữ của Thăng Long- Hà Nội gồm các cụ bà, gương mặt hoan hỉ, trang trọng, lộng lẫy trong trang phục áo dài thụng màu vàng, mũ hoàng hậu đính kim tuyến, chân đi hài, uyển chuyển dâng hương, đăng (đèn, nến), rượu, hoa quả, trầu cau, thực (xôi, oản)… Từng động tác của các bà, đều tăm tắp, nhịp nhàng theo người lĩnh xướng và  điệu Lưu Thuỷ rộn ràng như nước chuyển của dàn bát âm.

           Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng gõ mõ… rộn rịp âm vang từ mái chùa cổ  kính, dưới bóng đa già Đền Bà Kiệu tan theo sóng nước Hồ Gươm xanh biếc, gọi mời du khách năm châu bốn biển đang dạo ngoài Hồ Gươm vào đền. Họ xúm lại, vây kín Đền Bà Kiệu, lẫn vào không gian ca múa nhạc dân gian Việt như bước vào câu chuyện cổ tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

          Những mái tóc vàng, đen, trắng bạch kim, gương mặt tươi sáng, hồn nhiên, quay phim chụp ảnh lia lịa. Những cụ già, trẻ nhỏ, nam thanh, nữ tú quanh “Băm sáu phố phường” kéo nhau vào Đền Bà Kiệu, hân hoan cùng nhịp trống.

           Chiêng trống nổi lên hoà cùng tiếng sáo, tiếng mõ, tiếng đàn nguyệt… làm cho không gian buổi tế thêm linh thiêng. Những người tế thực hiện nghi thức tế như các diễn viên hướng những người tham dự đồng cảm tâm linh thiêng liêng. Trên cao, Thánh Mẫu như đang hiện xuống trần gian, vui cùng cõi người, ban phúc, che chở cho cộng đồng làng xã… Đó là giây phút hoá thân, nhập cuộc của mỗi con người vào yếu tố lễ thức và nghệ thuật dân gian Việt Nam, nghìn năm còn lại.

       Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Đền Bà Kiệu còn lưu giữ đạo sắc Quang Trung và đạo sắc Cảnh Thịnh (con trai Quang Trung). Sắc chỉ của Quang Trung phong Bà Chúa Liễu Hạnh là Đế Thích Thiên đình Liễu Hạnh Công chúa- Thượng đẳng thần (năm 1788) và cho phép thờ Bà ở điện Thiên Tiên tức Đền Bà Kiệu. Nơi đây còn có bài ký trùng tu đền năm 1886 do ông Nguyễn Huy Kỷ viết:

       “Thăng Long kể từ triều Lý, triều Lê về trước là kinh kỳ của Việt Nam ta vậy. Trải qua thời gian hàng ngàn năm, đền quán, đình miếu, linh tích nhiều vô kể. Nhưng cảnh đẹp tuyệt vời, khói hương mãi mãi, Thần Tiên giáng thăng, khiến người trai giới lễ bái, có nơi nào đẹp hơn đền Huyền Chân phía Đông Hồ Hoàn Kiếm… Nguyên ngôi đền được xây vào thời Lê Trung Hưng, mở rộng thêm vào những năm Cảnh Trị. Đền đổi tên là điện Thiên Tiên, việc thờ cúng thuộc về con cháu họ Lê.

        Ôi! Linh tích miếu đường nguy nga thay đổi khác xưa để phụng thờ thần, cầu phúc đáp đền công thần. Đó là việc thường tình của người đời vậy. Thời gian thay đổi mà không đổi, cảnh đẹp của non sông vẫn thế. Cây xanh, hồ xanh, bóng chiều ấm áp hoà quyện cùng các bậc quân tử, mặc khách tao nhân”.

           Xuân Canh Dần 2010. Mừng Thăng Long nghìn tuổi. Người Hà Nội và du khách thập phương bồi hồi, rạo rực cùng lễ nhạc tế linh thiêng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh toả vang ấm Đền Bà Kiệu. Hồn linh thiêng Thăng Long nghìn năm lại về. Sắc màu Thăng Long nghìn năm lại về cùng các vị thần Thăng Long vui sống với nhân gian.

           Tiếng các bà, các chị vui ca hát quan họ vang vang lan trong gió chiều Hồ Gươm: “Tính tình tang, tang tính tình tang… em đi vào đền là em đi vào đền… Vào đền là em đi vào đền, tay em thắp là nén nhang, em khấn là em vái… tính tình tang em đi vào đền.”

         Du khách nước ngoài qua đây, thành kính ngưỡng mộ nét đặc sắc văn hoá Thăng Long- Hà Nội, độc nhất vô nhị trên thế giới. Đó là những âm thanh, sắc màu, hồn thiêng của nền văn minh đồng bằng Bắc bộ- văn minh lúa nước, trường tồn cùng người Việt Nam.

                          Tháng Ba giỗ Mẹ.

        Lễ tế giỗ mẹ diễn ra ở tất cả mọi ngôi đền thờ Mẫu Liễu Hạnh. Nhưng trung tâm vẫn là ở Phủ Giầy, nơi giáng sinh và cũng là nơi hoá của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, chính thức bắt đầu vào ngày mồng ba tháng ba hằng năm, kéo dài chục ngày. Nhiều nghi thức diễn ra trong những ngày giỗ mẹ linh thiêng. Hầu bóng là nghi lễ không thể thiếu trong ngày giỗ mẹ tháng Ba. Trong nghi lễ hầu bóng không thể thiếu các bài văn chầu được sáng tác bằng chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ. Đây là những bài Thánh ca, ngợi ca công đức và kể sự tích Thánh Mẫu. Thánh ca được các cung văn hát trong cuộc hầu bóng Thánh Mẫu cùng với âm nhạc, múa hát, diễn của người nhập đồng tạo không khí linh thiêng huyền ảo, hoà nhập giữa con người và thế giới thần linh. Hình thức phát triển cao hơn của thể loại văn chầu là truyện thơ, mang tính tự sự và trữ tình, khắc hoạ tính cách nhân vật, kể chuyện cuộc đời thăng trầm và những tình huống đầy kịch tính, nhưng hào hùng, bi tráng đầy chất thơ ca. Lời thơ của văn chầu nhiều khi chưa được chau chuốt, bởi phải chở cuộc sống của các vị Thánh, song với những sự tích thần kỳ, cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú, vẫn cuốn hút người nghe và tạo hiệu quả tâm lý rõ rệt, tạo không khí đồng điệu, giao lưu, truyền cảm, huyền ảo, linh thiêng. 

                        Tháng Ba giỗ Mẹ

         Đến Phủ Giày, mọi người được tắm mình trong diễn xướng dân gian tổng hợp, một loại hình sân khấu tâm linh trong lễ hầu bóng. Âm nhạc vang lên cùng những làn điệu hát văn bay trong gió đồng quê từ tinh mơ đến đêm khua, làm nao nức không gian, rạo rực lòng người. Âm nhạc và hát văn trong lễ hầu bóng không chỉ đượm hương thờ Thánh, mà còn tươi mới hồn người với các làn điệu dân ca mượt mà sâu lắng. Đó là các làn điệu dân ca đồng bằng Bắc bộ: sa mạc, cò lả, bồng mạc… một số làn điệu ca nhạc thính phòng như hành vân, ngũ đối, kim tiền, lưu thuỷ… những làn điệu của âm nhạc ca trù, phú chênh, phú xuân, phú tỳ bà … của quan họ đường trường chim thước… của cải lương như xá quảng; của dân ca Huế; các điệu dân ca Mường, Tây Nguyên… Người ta ngỡ ngàng phát hiện ra hát văn trong lễ hầu bóng xuất hiện rất nhiều làn điệu. Mỗi khi một vị Thánh, một nhân vật xuất hiện với những điệu bộ và tính cách khác nhau, thì lại có một làn điệu âm nhạc phù hợp với vị đó. Và mỗi một làn điệu chính lại có nhiều giọng, nhiều cung bậc âm thanh khác nhau. Hiếm thấy một loại hình ca nhạc nào lại có nhiều làn điệu tinh tế, uyển chuyển như vậy.

         Âm nhạc và hát văn phong phú diễm tình đ a giọng

điệu, đủ sức diễn tả tâm hồn tính cách các vị Thánh hay cũng là con người Việt, hồn Việt.

         Các nghệ nhân chơi nhạc và hát trong lễ hầu bóng là những Cung văn. Họ là nhân vật  không thể thiếu bên cạnh các ông đ ồng, bà đồng. Họ vừa chơi năm loại nhạc cụ chính: nguyệt, cảnh, phát, trống và thanh la, vừa hát. Giọng hát của họ ngọt ngào, tình cảm, luyến láy theo từng thanh

sắc âm nhạc, quyến rũ, nâng người nghe vào thế giới ảo mộng Thánh thần.

         Âm nhạc và hát văn gây hưng phấn cùng với múa đồng. Khi Thánh nhập thân xác các ông đồng, bà đồng bị thôi miên, múa ngất ngây, cuốn mọi người vào trạng thái say mê ngây ngất trong cảm giác thần linh tái sinh và cộng hưởng nhịp sống với chính mình.

         Hầu bóng hội đủ những đặc tính của loại hình sân khấu dân gian mang tính tâm linh, hay gọi là sân khấu tâm linh. Nó thể hiện được ước mơ cao cả của con người, ngưỡng vọng vươn tới thế giới Thánh thần.

                           Tháng Ba giỗ Mẹ.

        Người Việt Nam hiện đại từ khắp trong, ngoài nước đổ về Phủ Giày- Nam Định hoá thân vào nghi lễ hầu bóng, thoả ước mong gặp Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Một vùng lúa mênh mang vang động rộn rã âm nhạc và hát văn đồng quê Việt vút lên cao bay bổng cùng Thánh Mẫu Liễu Hạnh- Đức Mẹ muôn dân, tạo ra khung cảnh văn hoá văn nghệ dân gian không đất nước nào có được.

         Chúng tôi mong nghi lễ hầu bóng ngày giỗ Mẹ sớm được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của  

Việt Nam và Thế giới.

                        Tháng Ba giỗ Mẹ.

              Bạn sẽ hỏi Mẫu Liễu Hạnh là ai?

        Xin tặng bạn câu chuyện cổ tích Mẫu Liễu Hạnh được chuyển thành văn vần cho dễ đọc.


          Mẫu Liễu Hạnh


Tín ngưỡng dân gian nhiều đời

Bà Chúa Liễu Hạnh hiện khắp nơi

Thánh Mẫu, người Việt sùng bái

Thờ  đền, điện, phủ các vùng Bắc Nam

Nhiều nơi  đền thờ riêng Bà

Lạng Sơn, đền Tiên

Sài gòn  đền lớn Phủ Giày

Hà Nội Phủ Tây Hồ, Đền Bà Kiệu

Vụ Bản- Nam Định, Phủ Giày nổi danh

Vô vàn sách nói về Chúa Liễu

Một Con Người đa hình tướng

Sống động trong văn hóa dân gian

Nhiều thể  loại văn nghệ về Bà

Sự tích, huyền thoại, hát múa, lên đồng…

Đoàn Thị  Điểm sống sau Liễu Hạnh

Bút tài hoa uyên bác, kể chuyện Bà

Người phụ  nữ công dung ngôn hạnh

Thiết tha yêu cuộc sống trần gian

Khát khao hạnh phúc ngày thường…

Tâm thức Folklore Việt Nam

Mẫu Liễu Hạnh là Nữ Thần

Trong hệ  thống Thần Tứ bất tử

Phù Đổng, Tản Viên, Chử Đồng Tử

Mẫu Liễu Hạnh- Người Mẹ Việt Nam

Một nàng Tiên và Đức Phật

Trong bốn vị Thần bất tử này

Liễu Hạnh gần gũi đời thường

Tâm hồn phong phú, tinh tế, mãnh liệt

Sống và  yêu, bình thường mà phi thường…

Tín ngưỡng Liễu Hạnh phát triển Đạo Mẫu

Đạo gốc cổ truyền, bản địa Việt Nam

Người Việt tin sâu sắc cộng đồng

Với cội nguồn dân tộc

Niềm tin từ thuở hồng hoang

Được hình dung qua đấng siêu nhân

Lạc Long Quân & Âu Cơ

Chở  huyết thống gia đình dòng họ

Khẳng định dân tộc ta một giống

Cùng một bọc Mẹ sinh ra

Thế  mạnh dân mình Mẫu hệ

Tam phủ  là điện Mẫu 

Thờ  bà Tổ Mẫu ba thị tộc

Mẫu Thượng ngàn cai quản núi rừng

Mẫu Thoải quản lý sông nước

Miền  đồng bằng do bà Quỳnh Hoa

Đạo Mẫu- Đạo Mẹ dân gian

Ngàn xửa xưa đã có ở đất này

Mẫu hiện nhiều hình ảnh nghệ thuật

Mẹ Đất, Mẹ Xứ Sở, Mẹ Lúa

Mẹ Núi, Mẹ Rừng, Mẹ Chim

Bao nhiêu bà Mẹ nhiều cấp độ

Đạo Tứ phủ qui, Mẫu lớn nhất

Mẹ trên Trời- Mẫu cửu Thiên Huyền Nữ

Mẹ núi rừng- Mẫu Thượng Ngàn

Mẹ sông biển- Mẫu Thoải

Mẫu Liễu Hạnh- Mẹ Trần gian

Mẫu Liễu Hạnh là Con Người thật

Người trần nâng thành Nữ Thần

Biểu tượng sức sống Tự Do- Nhân Nghĩa

Mẫu Liễu Hạnh, người đàn bà đẹp

Đức hạnh, tài hoa sinh Vụ Bản- Nam Định

Được tôn Mẫu nghi Thiên hạ

Thời kỳ  đất nước nảy sinh

Những con người siêu hạng thế kỷ XV

Mạc  Đăng Dung, Phùng Khắc Khoan

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ…

Giai thoại Chúa Liễu gắn Trạng Bùng

Phùng Khắc Khoan, danh sĩ thời Lê

Chàng gặp nàng, chùa Thành xứ Lạng

Hai người gặp lại, xướng họa Hồ Tây

Người ta đoán Phùng Khắc Khoan đã xây

Ngôi  đền Hồ Tây thương nhớ khối Tình

Với người Tình, siêu hạng rất xinh

Mỗi lúc buồn dạo Hồ Tây

Phùng Khắc Khoan ngâm ngợi nhớ nàng

Kể chuyện gặp Liễu Hạnh cảnh Tây Hồ

“Ngồi trong cung thiếu niên thị nữ

Tựa ngoài hiên tài tử giai nhân

Ấy túc phúc Trời cao đưa lại

Cảnh Tiên  được dự trần gian khách phàm”

Chuyện Tình tài tử giai nhân 

Mẫu Liễu Hạnh, con người thật

Phụ  nữ tài ba lỗi lạc của một thời!

Nghiên cứu dấu tích Folklore

Kể chuyện Mẫu Liễu Hạnh

Ta bắt gặp  ở Bà

Người yêu, thiếu nữ đẹp thông minh

Người vợ, người Mẹ hiền tần tảo

Nhà văn, nhà thơ, nữ tướng

Nàng Tiên, bà Chúa, Thánh Mẫu Việt Nam

Mẫu Liễu Hạnh khẳng định người phụ nữ

Ẩn chứa nhiều khả năng lớn

Nàng tồn tại chốn trần gian

Bất chấp quyền uy, thói lề kìm hãm

Mỗi lần bị tấn công

Một lần nàng chiến thắng

Sự bất tử của nàng

Là sự  bất tử của sức sống mãnh liệt

Lúc nhân từ, khi tai quái, phút xông pha, lầm lỗi

Hoạn nạn nào, nàng vẫn tin yêu cuộc sống

Vẫn khát khao, tha thiết yêu thương

Gắn  đời thường, tự giải phóng bản ngã

Người đàn bà như thế, được dân tôn

Mẫu Nghi Thiên hạ (Đức Mẹ muôn dân)

Nay tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh

Hòa tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa

Thành một  Đạo nội sinh thờ Mẫu

Liễu Hạnh- Mẹ Việt Nam

Mẫu Việt Nam được hình dung cụ thể

Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh, gần đời

Trong cảm quan huyền thoại

Và tín mộ chân thành

Người dân trông đợi Mẹ

Người sống đời thực ngổn ngang, chồng chất

Vượt đau thương gian khó từng ngày

Dâng kinh nghiệm cho người noi theo

Mẹ yêu quê hương, làng xóm con người

Trách nhiệm thủy chung với gia đình

Mẹ bao la tâm hồn nghệ sĩ

Kiến thức uyên thâm

Sống hài hòa tâm hồn và thể xác

Tỉnh thức trong đời, vẫn ước mơ

Thực và  mơ, hai bến bờ tâm thức

Mẹ cân bằng vui sống giữa trần ai

Hình tượng Mẹ lộng lẫy- Con Người Tự do

Thiên- Địa- Nhân hợp nhất. 

 

  Ghi chú: Nhà văn Mai Thục chuyển thể văn vần từ truyện cổ tích Công chúa Liễu Hạnh trong tác phẩm “100 truyện cổ tích hay nhất Việt Nam”. Tác giả Trần Mạnh Thường. NXB Văn hoá- Thông tin- 2006.  
 
   Bản chuyển thơ kể chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Mai Thục dùng để hát chầu văn, hát chèo, tuồng, cải lương, hầu bóng nơi cửa đền thờ Mẫu Liễu Hạnh.

 
   
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 10.04.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com