Vượt Lên Cầu Vồng



MAI THỤC


Nhà văn Sơn Tùng đã quá nổi tiếng với Búp sen xanh , giờ đây tôi có ca thêm cũng chẳng ích gì. Nhưng cuộc gặp gỡ với ông tại Câu lạc bộ Thăng Long một ngày hè nóng nực năm 2006, làm tôi kinh ngạc. Ông là thương binh nặng- người mà thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm phục: ” Nhà văn chỉ có ba ngón tay mà vẫn bám vào cuộc đời để làm việc bằng óc, dẫu bộ óc ấy còn găm ba mảnh đạn” , nay tuổi tám mươi, vẫn thông thái, cất tiếng nói riêng biệt của lòng mình giữa mọi người, không gợn sóng ưu tư.

Trong gian phòng chật những mái đầu bạc trắng, không rượu, cũng không hoa, không có máy điều hòa nhiệt độ, bầu không khí nồng nực gần bốn mươi độ C, tiếng nhà văn Sơn Tùng sang sảng vang lên suốt bồn giờ đồng hồ liên tục. Ông nói không cần giấy, tiếng nói từ xa xôi sống dậy, kể chuyện xưa, cuộn những ý tưởng, tự động phát ra từ bộ óc của ông và mái đầu bồng bênh tóc trắng. Tôi chỉ ngồi nghe đã thấm mệt. Mà ông nói không cần uống nước.

Ông bảo: “Hơn hai chục năm tôi mới được trở lại nói chuyện với các cụ ở đây”.

Tôi không hiểu vì sao tác giả Búp sen xanh lại bị “cấm vận” như vậy? Có lẽ vì thế mà hôm nay Sơn Tùng đã nói say sưa như chưa từng được nói? Hay một linh hồn nào đã nhập vào ông mà nói ra những điều uẩn khúc?

1. Những câu hỏi thôi thúc tôi tìm đến khu tập thể in bóng thời Hà Nội bao cấp, trong ngõ nhỏ Văn Chương, khám phá bí ẩn về nhà văn Sơn Tùng. Tôi muốn hiểu nỗi đau trong ông. Tôi muốn hiểu ông đã vượt lên thương tật thế nào để sống lại. Tôi muốn hiểu bữa cơm, bát cháo, chỗ ông nằm ấm lạnh ra sao? Tôi muốn hiểu ông thương nhớ ai mà mái tóc ông bạc trắng, bông bênh hồn nghệ sĩ… để học thêm một bài học làm người trong thế kỷ XX lửa cháy. Tôi đợi ông từ đầu Hạ đến tàn Thu mới gặp. Bởi cái nóng oi nồng nung nao đã làm vết thương tái phát, ông luôn bị nhức đầu, cao huyết áp, bao nhiêu nỗi đau trong ông bất chợt chồm dậy…

Qua những hàng ăn, hàng hoa quả, mùi bếp dầu, bếp than tổ ong lẫn với hương thơm, tiếng xe cộ, tiếng nói cười nhộn nhạo… tôi bước lên tầng hai nhà A1- phòng 22. Cửa luôn mở.

Chiếu văn Sơn Tùng gọn trong nền nhà tám mét vuông đón đợi. Nhà văn Sơn Tùng ngồi theo tư thế bán kiết già, uyển chuyển xoay vòng tròn chiếu, tay nâng niu rót chén trà thơm hương Nhài, ướp nụ cười hiền hòa, ân cần mời từng người bạn. Chiếu văn đậm hương trà, ba mươi năm qua vang lên tiếng nói con người khắp mọi nẻo chân trời tụ về đây… Họ kể cho ông nghe đủ chuyện buồn vui, chuyện giời, chuyện bể, cả chuyện dân lành oán thán, tụng đình.

Riêng tôi lặng nghe Sơn Tùng kể chuyện đời mình. Giọng ông khỏe khoắn, tràn âm vực thấp cao, an nhiên, tự tại, như chưa từng bị hiểm nguy, chưa từng bị đau đớn về tinh thần hay thể xác.

Tôi là thương binh được xếp hạng nặng nhất vĩnh viễn, ở chiến trận về, đi lại không được, nhưng mong muốn tụ hội tình người, tìm tri âm, tri kỷ, giao tiếp, trao gửi ngọt bùi, đắng cay... nên trải chiếu văn mời gọi. Bạn bè, anh em, họ mạc, con cháu xa gần, khách quốc tế… đã đến với tôi, tâm sự, chia sẻ thông tin, bồi đắp tình người. Mỗi người khi gặp tình huống trở ngại trong đời sống, vượt qua được, là người thông minh. Tôi không biết có thuộc loại người thông minh ấy không? Nhưng tôi đã bị số phận đẩy ngã, lại tự mình đứng dậy, bám vịn vào tình yêu thương mà bước đi từng bước…

Năm 1965 đến đầu 1967, chiến tranh chống Mỹ lan rộng ra miền Bắc. Tôi là tổ trưởng tổ phóng viên báo Tiền Phong thường trú tại khu bốn, đội bom đi lại giữa Thanh Hóa- Vinh- Hà Tĩnh phát hiện những tấm gương. Năm 1967, tôi vừa nhận giấy báo tử em trai hy sinh ở Khe Sanh, thì cơ quan gọi lên nói: “Chúng tôi điều ông làm báo giỏi, là đảng viên, biết công tác tòa soạn vào lập tờ Thanh niên ở chiến trường”.

Tôi dẫn đầu đoàn nhà báo: Tâm Tâm, Lưu Quang Huyền, Mạnh Chuẩn, Khải Hoàn, Phạm Hậu, họa sĩ Ái Nhi vào tận Nam bộ. Đầu năm 1967 vượt rừng Trường Sơn, vượt bom gầm, đạn réo, sốt rét, đói khát, thú rừng, mưa nguồn, chớp bể…

Năm 1968 chúng tôi vào đến đồng bằng Nam bộ, giáp sông Vàm Cỏ Đông, lập tờ tin Thanh Niên, thuộc Hội Liên hiệp Thanh Niên Giải Phóng. Cơ quan ở trong rừng, thuốc độc da cam rải rung cây, chúng tôi phải chuyển chỗ liên tục.

Tôi bị thương tháng 4-1971, ở tuổi bốn mươi ba. Sau cuộc càn” móc câu, mỏ vẹt” lớn nhất, địch mở trận càn mới đánh vào căn cứ của ta. Tôi nhớ lúc chuẩn bị ra số báo đặc biệt kỷ niệm thành lập đoàn Thanh niên cách mạng miền Nam. Máy bay trực thăng gầm rú, sục sạo trên đầu, bắn tứ tung, dưới hầm họa sĩ Ái Nhi làm makét, Sơn Tùng ngồi viết xã luận. Là người phụ trách, tôi ngồi hầm không yên, phải bò lên trinh thám xem bộ binh của chúng có vào không. Vừa nhoi lên thì trực thăng bắn trúng hầm, mình gục xuống… tỉnh lại, tràn lan man cảm giác đau đớn toàn thân… lơ mơ nghe tiếng người lao xao như từ cõi xa xăm vọng về… rồi có tiếng gọi thân thương, ấm áp… tôi mở mắt nhìn thấy Sáu Phong băng bó vết thương cho tôi (nay là Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết). Tiếng gọi yêu thương ấm tình người, tình đồng đội của Sáu Phong truyền sức sống cho tôi. Sáu Phong là sinh viên Toán giỏi nổi tiếng Sài Gòn. Anh xuống đường tham gia phong trào sinh viên Sài Gòn- Huế, sau lên R. Tôi yêu mến chàng thư sinh da trắng, hào hoa, ăn nói nhỏ nhẹ nho nhã, phụ trách Văn phòng cơ quan tôi. Sáu Phong chu đáo, tận tình, hết lòng chăm lo cho những người thiệt thòi, bữa cơm, ai về chậm, ai đau ốm được anh dành phần thịt nạc…

2. Ba mươi tư năm có lẻ, ngày thương binh liệt sĩ 27-7- 2006, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đã đến Chiếu văn thăm tôi. Sáu Phong không bao giờ quên tôi. Thỉnh thoảng anh từ Sài Gòn ra Hà Nội họp vẫn ghé thăm tôi. Nhưng lần này, vừa được dân trao trọng trách Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc quốc gia, mà sao trong thăm thẳm nỗi lòng, ông còn nhớ tới tôi mà mến thương, mà thăm hỏi tôi tận cái ngõ sâu ồn ào Hà Nội… Hộp thuốc bổ não Sáu Phong Nguyễn Minh Triết tặng tôi, tôi dành uống phút yếu lòng. Tôi uống thuốc hay là tôi thấm lại tiếng gọi của tình thương. Tiếng Sài Gòn âm điệu rỡ ràng mềm mại mà du dương của má, của Quế Anh, của Sáu Phong, của người dân Sài Gòn không tên mà tôi gặp trên đường chinh chiến… đã cứu tôi từ cõi chết trở về.

Tôi được khiêng cáng về bệnh viện miền Nam, bác sĩ Bích Nga chăm chữa cho tôi, tình cảm như người nhà. Tôi bị mười bốn mảnh đạn găm khắp người, liệt toàn thân, bảy mảnh trên đầu, trong đó hai mảnh còn găm sát cạnh não không thể nào gắp ra được, vết thương sọ não, vết thương từ chẩm đầu,cái chết cận kề, may mà được cấp cứu kịp thời. Ơn cứu mạng của đồng bào Nam bộ tôi không bao giờ quên. Tôi được đưa ra Bắc, đồng đội khiêng cáng dọc Trường Sơn, từ tháng 11-1971 đến tháng 4-1972 mới về tới Hà Nội.

Bệnh viện 108 đầy những binh nặng. Tôi liệt nằm bất động, tay phải bị co gấp ngang ngực, tay trái còn ba ngón, cái đau quằn quại, bỏng rát hành hạ tôi từng giây. Họ muốn bác sĩ cắt hạch giao cảm để cứu tôi khỏi những cơn đau.

Tạ ơn Trời Đất, họ đã không làm như vậy.

Nếu tôi không còn biết cảm, biết đau nữa thì tôi làm sao mà viết được. Dần dà, thân thể tôi được vá víu thành sẹo. Nhưng tôi bị mất trí nhớ. Giờ đây nghĩ lại chuyện này mà kinh! Nếu tôi mất trí nhớ, nếu tôi chỉ còn là cái xác không hồn vật vờ giữa thế gian, thì tôi còn sống làm chi? Họ đưa sách quốc ngữ, tôi không đọc được. Nhìn trang giấy không thấy chữ, giấy trắng, đầu mình cũng trắng. Tôi bị lên cơn co giật thần kinh, đùng một cái, ngã vật xuống. Mỗi lần ngã xuống, được nâng đứng lên, tôi hệ thống lại dần, cảm nhận dần dần sự sống…

Một đêm, tôi mơ có tiếng ai hát ca dao. Tiếng hát hệt lời ru của mẹ thuở nào, thì thầm dịu ngọt tận đáy sâu hồn mình :” Ngày đi trúc chửa mọc măng/ Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre/ Ngày đi lúa chửa chia vè/ Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng/ Ngày đi em chửa có chồng/ Ngày về em đã con bồng con mang…”

Cảm thức về thời gian sống lại. Nỗi nhớ trở về. Tôi nhớ mẹ, đêm đêm thầm gọi lời ru mẹ về. Linh hồn mẹ từ hư vô cảm thấu. Mẹ vỗ về tôi như ngày xưa bé bỏng: “Con ơi! Không ai thương con bằng cơm cháo. Ăn đi. Ăn cho có cái hơi hồ. Đấy là ngọc hồ nuôi dưỡng thân ta con ạ”.

Tiếng mẹ đâu đây năn nỉ, dỗ dành, tôi gắng húp từng thìa nước cháo do người thân bón chăm, thấy người tỉnh dần, hơi ấm như từ hỗn mang truyền cho tôi sức sống. Tôi thèm được tự tay cầm bát cơm ăn, nhưng tay không cầm nổi. Tôi đau vật vã, bỗng lời mẹ an ủi xa xôi vọng về: “Con đừng nghĩ đến đau, nó sẽ hết đau”. Khi tôi ngã vì co giật, mẹ nhủ thầm thì: “Con ơi! Đứng dậy, ngã thì tự đứng dậy, có sao đâu”.

Linh hồn mẹ đã cứu tôi. Mẹ tôi mất 1964, khi tôi mới ba mươi sáu tuổi. Nhưng tôi tin linh hồn mẹ còn mãi. Mỗi khi nỗi đau ập đến tôi thường gọi mẹ.

Họ đưa tôi đi Trung Quốc chữa bệnh vì là cán bộ cao cấp. Được nằm trên đống thuốc và sự chăm sóc tận tình, song tôi cảm nhận có cái gì không ổn. Một hôm tôi nhận ra họ tiêm thuốc gì đó mà tay phải tôi đang co, bỗng duỗi thẳng ra, nhưng trí nhớ lại lờ mờ, chuẩn bị biến mất. Lòng tôi bồi hồi, cảm thương thời gian sẽ mất, không gian sẽ mất, tình yêu và nỗi đau cũng sẽ mất…

Tôi tự hỏi mình sống làm gì nếu thân thể lành lặn mà tâm hồn què quặt? Tôi sống làm gì với cái xác không hồn lơ ngơ đi giữa cuộc đời? Tôi sống làm gì với phần xác thịt chỉ biết ăn thật nhiều, uống thật nhiều, đòi hỏi vật chất và lạc thú thân xác thật nhiều?

Tôi yêu nghề cầm bút. Tôi từng trù tính chỉ làm công chức đến năm mươi tuổi rồi về hưu để được tự do viết, nay đứt gánh giữa đường sao? Tôi thầm thét lên: “Ta thà chịu để thân tàn tật, chứ không thể để mất trí nhớ, hủy hoại tâm hồn. Phải chạy ngay khỏi đây thôi. Không thể giao phó sự sống còn của mình cho người khác, dù họ là thầy thuốc.”

Bao đêm dài trằn trọc, tôi quyết định xin về nước khi mới điều trị được ba tháng mà bệnh của tôi cần phải nằm ở đây ba năm. Các bác sĩ Trung Quốc ngạc nhiên. Họ làm sao hiểu được ý nghĩ và linh cảm của tôi. Họ làm sao cứu nổi linh hồn tôi.

3. Bác sĩ Hà Nội thương cảm, tiếp tục cho tôi đi Đông Đức chữa. Tôi từ chối. Tôi nghĩ các vết thương hằn sâu trong tôi, hai mảnh đạn nằm trong bộ não của tôi, hệ thần kinh bị tổn thương của tôi, nếu cứ chữa kiểu nằm dài trong các bệnh viện, dù là viện thiên đường của Đông Đức hay Bắc Kinh cũng không ổn. Mình phải tự cứu mình thôi.

Tôi xin ra viện, nhờ anh bạn làm một cái chòi sáu mét vuông sau nhà anh ở 105 phố Nguyễn Trường Tộ- Hà Nội. Nhà của tôi ở Hà Nội trước khi đi chiến trường, nay về đã bị người ta chiếm mất. Tôi ngồi lỳ trong chòi đọc sách và tập thiền, tự xoa bóp chân tay.

Cô y tá Mai, người bạn xưa tôi từng quen, đã chăm sóc tôi và thành người vợ. Cả gia đình Mai đến chăm tôi ở đó. Anh vợ, mẹ vợ, xách ăng- gô cháo còn thơm mùi hành lên chòi, tôi không bao giờ quên. Nhạc sĩ Văn Cao ở chòi mười một giờ đêm mới về.

Tôi nhớ lại ngày xưa ở làng Hoa Lũy, xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, Nghệ An, mẹ dắt tôi đến trường, thầy Phan Khắc Khoan đã dạy chúng tôi những bài tập võ cổ truyền, tôi đọc sách dưỡng sinh của cụ Nguyễn Văn Hưởng, các sách dưỡng sinh dân tộc và Trung Quốc, cụ Nguyễn Khắc Viện cũng dạy tôi tập thở và võ quyền…

Tôi tự hiểu sức mình, chỗ nào đau, chỗ nào xơ cứng tôi biết, tự tổng hợp các phương pháp và tự rút ra cách tập của riêng mình. Tôi tập thở, nhận năng lượng của đất trời, điều khí lên đầu, xuống chân, tay, phủ tạng…Tôi lấy bàn tay lành vỗ cho tay yếu, vỗ những vết đau khắp toàn thân. Dần dần hơi ấm làm thông những mao mạch li ti, các tế bào được nuôi dưỡng và sống lại. Tôi luôn bị ám ảnh về sự mất trí nên khổ luyện rèn trí não. Tôi luyện đọc sách. Mới đầu đọc lại ca dao, thơ, truyện Kiều, Lục Vân Tiên… sau đọc dần các loại sách nghiên cứu của các học giả Đông Tây kim cổ, đọc Kinh Dịch, Khổng Tử, Lão Tử, triết học phương Đông…

Bố tôi là nhà Nho, nên tôi từ bé đã mê sách. Đi chiến trường tôi mang theo bộ sách của thầy Đào Duy Anh, cơ quan chạy giặc, tôi chôn sách dưới gốc cây xăng lẻ. Bây giờ sách đã mục thành đất, nhưng chữ của thầy thì sáng trong đầu tôi. Cả đời tôi đi ăn mày chữ. Bộ não bị thương trắng xóa của tôi giờ đây đầy ắp chữ. Tôi có cách đọc sách rất nhanh, nhớ lâu, nên dễ giao tiếp với mọi người. Tôi vọng tưởng về thời gian đã mất, không quên một cái gì. Cảnh Hà Nội từ 1954 đến nay tôi còn nhớ. Hoa dạ hợp, cà cuống Hồ Tây bay lên cửa sổ khi trời đông giá. Sâm cầm bay đi từng đàn, tiếng ve râm ran trên đường Quan Thánh. Hàng cây giao nhau, đường Cổ Ngư rơi tiếng yêu thầm…

Mọi người lắng nghe tôi nói, nhưng là sách nói, tình người nói đấy. Tôi nói chuyện hàng trăm cuộc, không bao giờ phải nhìn giấy là do trí nhớ được khổ luyện, chứ tôi có thần thánh gì đâu.

4. Một anh thương binh biết mình tàn nhưng không muốn trở thành kẻ bị xã hội cho là phế, thì phải tự mình cứu mình. Luyện trí nhưng còn phải luyện tâm nữa. Tôi nằm trên giường bệnh buồn đau, khổ cực, cô đơn, nhớ mẹ… Lời mẹ lại về : “Con à, chớ giận. Dỗi thì được, nhưng không được giận. Giận thì sinh oán, sinh thù. Khi người ta gây oán cho mình, mình nhận làm nạn nhân, đừng đánh trả lại”.

Mỗi khi đau khổ quá, tôi phải ngồi thiền, tự xua đi, tự nhủ thầm:” Bất đắc dĩ làm nạn nhân, không bao giờ là kẻ sát nhân. Lấy ân trả oán. Đó là đạo lý làm người. Đời không làm được ân thì đừng gây oán. Không làm phúc cho ai thì đừng gây họa…”

Nhờ cách luyện tâm như thế, nên suốt mấy chục năm qua tôi ở căn phòng mười sáu mét vuông này, do một người đi miền Nam thông cảm bán rẻ cho, hằng ngày nghe đủ mọi âm thanh hỗn độn, chát chúa, mà tôi không bị chói tai, nhức óc vì những thứ đó.

Tôi đã sống lại từ cái chết. Tôi yêu quí từng thời khắc tôi được làm người, tôi không để cho cái ác, cái xấu, cái vớ vẩn ngoài đời, đánh gục ngã. Tôi đi tìm cuộc sống của riêng tôi. Tự tính tử vi, Kinh Dịch, tự nghiệm đời mình. Tôi sống với cái đẹp mà tôi từng đam mê, đó là cầm bút. Năm 1973, tôi ngồi trên chòi, hai tay co rúm không cầm được bút. Tôi đọc sách. Khi sức lực khá dần, tôi quyết định gieo chữ. Ký ức sống dậy thanh bình như tia nắng ban mai. Tôi viết “Nhớ nguồn” kể về những con người đẹp tôi gặp ở chiến truờng. Tôi phải lấy dây buộc bút vào giữa ngón tay cái mà viết, khi đau quá thì đọc cho anh em ghi. Gần chục năm khổ luyện, năm 1981 tôi duỗi được tay phải, tự tin, tôi đi gặp bà Đặng Quỳnh Anh để viết Con người, con đường (1976). Học giả Đặng Thai Mai (Viện trưởng Viện Văn học) phải ái ngại thốt lên: “Tôi không ngại về khả năng viết văn của Sơn Tùng. Nhưng điều làm tôi ái ngại là sức khỏe của anh. Sau nhiều năm lặn lội ở chiến trường trên toàn quốc qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, giờ đây được “về nghỉ” với bệnh lịch một thương binh hạng sáu với hai cánh tay tàn phế, với những vết thương ở hai vai, ở đầu và còn nhiều mảnh đạn không lấy ra được. Thế nhưng anh vẫn làm việc nhiều, vẫn xông pha vào tận những điểm nóng bỏng của cuộc đấu tranh để góp nhặt tài liệu sống trước khi viết. Thật sự tôi không thể không cảm thấy ít nhiều lo âu cho sức khỏe của một người chỉ có thể viết bằng cách buộc vào giữa ngón tay cái.”

Đến khi tôi đưa bản thảo về Đặng Quế Anh nhờ Đặng Thai Mai góp ý kiến, ông ngỡ ngàng viết trong lời tựa sách: “Riêng đối với tôi, khi một tác phẩm lôi cuốn tôi, làm cho tôi đôi lúc muốn rơi nước mắt và luôn luôn vui mừng trước sức sống của nghệ thuật thì tôi không yêu cầu gì thêm nữa. Ai lại đi yêu cầu người khác phải nói với lưỡi mình, phải viết bằng tay bút, trí óc của mình”.

Từ đó đến nay tôi đã viết hơn hai chục tác phẩm giữa những cơn đau thể xác và nỗi đau tinh thần. Nhưng cây bút chữa lành những vết đau. Tác phẩm của tôi sẽ nói hộ tôi rằng tôi đau như thế nào? Tôi thương như thế nào? Tôi yêu như thế nào? Tôi đã vượt lên cái chết và nỗi đau của thế kỷ XX, của dân tộc, giống nòi Việt Nam và của cả nhân loại như thế nào?

5. Nhà văn Sơn Tùng ngừng câu chuyện và rời Chiếu văn đi vào phòng văn của ông. Tôi theo mái tóc bồng bềnh mây trắng vào phòng văn Sơn Tùng. Một chòi xép nhô ra cửa sổ xanh cây hoa cảnh nhìn xuống ngõ chợ, ngước lên trời đón gió. Một tấm phản gỗ mát lạnh bốn mùa, xung quanh vây đầy sách. Thế giới sống của nhà văn Sơn Tùng là đây. Thanh tịnh. Trong lành. Giữa ồn ào náo động. Không rượu, không thuốc lá. Chỉ có sách và hồn người bay ra từ chữ, từ trong ký ức của ông, chở theo ánh sáng và bình an.

Tôi có cảm giác hình như số nhà văn Sơn Tùng luôn được ngồi viết ở trên chòi. Cái chòi không tỏ sự giàu nhưng nó sang bởi nó không phải dính với bụi trần. Nó lơ lửng trên không gian, nhẹ như đang bay, dễ dàng tiếp xúc với đất trời và cả cõi linh thiêng thần Phật. Và lúc này tôi đã hiểu vì sao khi Búp sen xanh ra mắt bạn đọc, thủ tướng Phạm Văn Đồng mời Sơn Tùng lên tặng nhà tình nghĩa, ông từ chối: “Ăn mày cửa quan không sang hơn ăn mày ở chợ”.

Sơn Tùng còn từ chối cả nhà tình nghĩa mà sau khi ông nổi tiếng người ta mới có ý định trao: “Nhiều mẹ liệt sĩ, nhiều thương binh nặng còn khổ hơn tôi. Hãy tặng nhà cho họ”.

Của cải của nhà văn Sơn Tùng là sách, là chữ nghĩa ở trong đầu, là bình an và tình thương yêu. Đưa cho tôi cuốn Lõm tiểu thuyết Sơn Tùng viết về chiến tranh giữa Sài Gòn hoa lệ, hình như ông muốn nói: “Đọc đi, Sơn Tùng đấy”. Và ông buông một tiếng “Lõm”.

Tôi và cô bạn Minh Thu tạm biệt Sơn Tùng, hẹn buổi sau sẽ tới trò chuyện với nhà văn về Thiền. Chúng tôi dạo bộ từ ngõ Văn Chương về hồ Thiền Quang, cảm giác về sự sống mãnh liệt dâng trào, tôi bảo Minh Thu:

- Bác Sơn Tùng là một con người hiếm hoi biết và dám tự mình vùng vẫy ra khỏi vòng tay của người khác để cứu mình- cả về thể xác lẫn tinh thần. Bác là một cá nhân tự do. Bác đã vượt lên quá nhiều giả dối và tội lỗi ở khắp mọi nơi, vượt lên những cảm giác thù hận và những nỗi sợ hãi, buồn đau trong trái tim, vượt lên cả thế giới vật chất, để trở nên con người Tự Do. Cuộc đời Sơn Tùng mang một thông điệp rằng- tự do và bình yên không đến từ của cải và những mối quan hệ hay bầu không khí của xã hội bên ngoài chúng ta. Tự do- bình an từ trong chính bản thân mình.

Tôi đọc Lõm (NXB Thanh Niên- in lần 2- 2001) biết Sơn Tùng yêu thương và chia sẻ nỗi đau chiến tranh với những con người Sài Gòn mà ông gặp trong cuộc chiến. Dù họ ở phía bên này hay phía bên kia. Họ là những người dân đã ngã xuống đường phố để bảo vệ, chở che cho ông hoạt động bí mật. Thùy Phương, Cao Lan Điệp, hai cô gái điếm đón anh lính giải phóng vào phòng ngủ, giữ an toàn cho anh trong “Tiếng đàn dương cầm như ngọn lửa cháy bùng lên, như dòng thác đổ xuống”. Thùy Phương, Lan Điệp đã bị Mỹ tra tấn, giết hại bởi tiếng đàn trong trẻo của tình yêu thương dành cho người lính cụ Hồ.

Cô Út Hương hăm bốn tuổi, thờ một lúc bốn người chồng Bắc, Trung, Nam nơi hầm tối, thầm cầu nguyện “các anh mang bình yên cho xóm ấp để em khỏi phải đi bước nữa hoài”.

Bà cụ già bán nước trong ấp bưng mâm cơm đặt giữa bàn thờ: hai con trai mặc quần áo vệ quốc, người thứ ba mặc đồ lính ngụy, người con gái mặc áo bà ba, khăn rằn quàng cổ. Bà nói: “Đã hàng chục năm nay, tui hổng còn được ăn cơm với người sống, mà đến bữa tui cùng ăn cơm với người chết”.

Đêm ba mươi Tết, bé Thủy mơ được đón ba về ăn Tết. Người thiếu phụ xin anh lính giải phóng: “Xin anh vui lòng nhận làm ba của con gái tôi trong dịp Tết này, cho nó có một niềm vui ngày Tết trọn vẹn. Ba nó đi lính ông Diệm, không còn nữa. Nhưng nó còn bé bỏng, tôi không nỡ cho nó sớm biết điều mất mát đó”. Cái Tết đó, ba con người đơn côi tựa vào nhau, sưởi ấm tình gia đình. Bé Thủy ngủ ấm trong vòng tay người lính cụ Hồ reo lên:” Ba đã về ăn Tết với con”. Thủy không biết rằng nó đã vĩnh viễn mất người cha yêu thương của đời mình. Họ chia tay trong giấc mơ ngừng tiếng súng: “Cây rừng say tiếng đàn im phăng phắc. Người Bích vươn về phía trước, toàn thân rung lên, mái tóc lâu ngày chưa uốn lại, đổ xuống từng mảng như những đám mây lúc trời nổi cơn giông, hai cánh tay nâng đàn ác- sê quẩy giữa không khí, múa tít như người chèo thuyền vượt bão biển. Gương mặt Bích như một quầng sáng biến hóa muôn màu và như có nghìn mắt nghìn tay. Có lúc tôi nghĩ đó là Hồ Tử Điệp trong đêm đàn nhớ Nguyễn Tất Thắng, nhớ mối tình đầu và đàn tiễn biệt tôi trước lúc rời Sài Gòn… Tiếng máy bay trinh sát phản lực rít qua mái rừng. Chim thú hoảng loạn, cây rừng xao động. Bích vùng ra khỏi cơn mê mê tỉnh tỉnh. Nàng đứng phắt dậy, vẫn tựa lưng vào gốc cây lão tùng, giọng mơ màng:- Ước chi quê hương ngừng tiếng súng, hết tiếng khóc…”

Lõm khép lại với hình ảnh Quế Anh, nữ sinh văn khoa Sài Gòn đã hy sinh tuổi xuân nhận làm đám cưới giả, sống cuộc đời vợ chồng giả với người lính trinh sát Việt cộng, cùng má và anh làm tình báo cho ta trong lòng Sài Gòn. Họ phải nén mình trước mọi cảm xúc yêu thương gần gụi, từng ngày một, từng đêm một, từng tích tắc tơ nhện của tình yêu… Ngày chiến thắng, Quế Anh ngã xuống, đôi môi còn mấp máy hát về giấc mơ tình yêu- bình yên:

” Giấc mơ bình yên/ Bình yên/ Bình yên/ Em đi cùng anh tràn đầy hạnh phúc.”…

Đọc Lõm tôi hiểu ngòi bút Sơn Tùng cảm thương, tan hòa cùng những linh hồn chết, những sinh linh nòi giống quằn quại, lên án chiến tranh. Tiếng gọi người yêu của anh lính trẻ phút hấp hối trong đáy sâu cống ngầm Sài Gòn như muốn đội đất mà bay lên:

“Em ở nhà đợi anh hay đã đi lấy Mỹ? Trời đất quỉ thần ơi! Chiến tranh đem lại cho tuổi trẻ những sự bất hạnh, tuổi già điều khắc khoải, mọi trẻ thơ run rẩy, mọi người bị xô tới gần loài thú. Em của anh đâu rồi? Anh sẽ cởi bỏ bộ đồ lốt thú, bỏ tính thú mà trở về người, ở với người, nhưng em có còn là người không? Cái xã hội này có để anh làm người không? Em có còn nhận được ra anh nữa không? Thân thể anh còn tanh mùi máu, anh chưa được sống trẻ bên em thì tuổi già xấn đến. Anh làm thế nào mà ở bên em được một khi cuộc sống xã hội này xô ngã anh, cấu xé anh, đẩy anh và mọi người vào cái cối xay thịt của chiến tranh” .( sdd trang 156- sđd)

Đọc Lõm tôi xót xa thương mến Sơn Tùng. Lõm như tiểu thuyết tự truyện của ông. Tình yêu với Quế Anh là có thật. Sơn Tùng hoạt động bí mật giữa Sài Gồn hoa lệ đầy bóng lính Mỹ. Quế Anh đã che chở cho ông. Viết Lõm Sơn Tùng nhớ Sài Gòn như nhớ người thương, người yêu, ngượi mẹ: “Tôi đã để máu lại Sài Gòn, mang theo Sài Gòn trên đường về… Giữa cao xanh mênh mông… mình đang trôi xa Sài Gòn mà Sài Gòn vẫn đậu giữa lòng mình. Mà từng mảng, từng mảng kỷ niệm đời lính trinh sát của mình khuất trong những lõm sâu hun hút đang hiện lại với tôi. Và má… má ngồi đó với hai dòng nước mắt đang bồng bềnh trôi trong tôi.” (trang 21- sđd)

6. Cũng may mà trời phú cho Sơn Tùng khả năng rèn luyện tâm trí để thăng hoa. Nỗi nhớ thăng hoa. Nỗi đau thăng hoa. Máu và nước mắt thăng hoa. Tình yêu thương thăng hoa… Tất cả là sự sống thăng hoa thành chữ, nhờ cây bút chữa lành nỗi đau.

Tạ ơn Tinh hoa văn hóa phương Đông, văn hóa Việt Nam- Hà Nội đã truyền cho con người Việt phương pháp tu tâm, luyện trí để tự chữa lành nỗi đau tâm thể. Nhà văn Sơn Tùng trò chuyện với tôi về Thiền:

- Mấy chục năm qua tôi đã thiền để tự chống lại bệnh tật, vượt qua tàn phế chừng nào hay chừng ấy. Buổi tối tôi ngủ sớm, khoảng hai giờ sáng ngồi dậy thiền, ngồi trong tư thế kiết già, bán kiết già, có khi ngồi độc trụ. Tôi nhắm mắt, điều hòa hơi thở và chìm dần trong không gian, thấy trong đầu mình cả một vùng vũ trụ, mênh mông thoáng rộng, sáng dần màu vàng đỏ, tỏa vòng tròn nở ra trên trán. Đấy là linh hồn mình. Một chấm sáng nhỏ tinh khiết, vĩnh hằng đang giao hòa cùng đại vũ trụ, nhận năng lượng, tình yêu thương, sức mạnh, sự tinh khiết, cái đẹp, cái thiện… của tâm linh tối cao, linh hồn tối cao. Trong trạng thái ấy, cơn đau qua đi, nỗi buồn qua đi, mọi tham muốn, sân si cũng tan biến, chỉ còn linh hồn mình kết nối cùng vũ trụ. Tinh khiết. Vĩnh hằng. Tôi tin có một thế giới tâm linh. Mình ngồi thiền, nghĩ đến Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật hiện về, hào quang tỏa quanh, nghĩ đến mẹ cha, mẹ cha mình về, như ngày xưa mẹ bảo: “Con ơi! Có thần trên hai vai, chớ có làm điều ác với ai, chớ có lấy cắp của ai cái gì.”

Tôi thiền để tự chữa vết thương tái phát bằng cách điều khí đến chỗ đau. Có lần vết thương chảy máu xuống cổ áo mà tôi không biết đau. Máu lại khô. Tôi hiểu được tại sao các đạo nhân tự thiêu mà không đau đớn, vì họ đã thiền tới cao siêu, kiềm chế được cái đau thể xác. Tôi kiên nhẫn điều khí, xoa vỗ, mười một năm, cánh tay phải co lên ngực, nay duỗi được, vung lên hạ xuống bình thường, bàn tay mềm, quay cầm được. Tôi điều khí lên vùng chẩm, vùng não còn găm hai mảnh đạn, kiềm chế đau và kiềm chế những cơn kích động thần kinh, đập phá, cơn ngã bất thần. Trước đây, mỗi khi nghe tiếng sét, tiếng người ầm ĩ, tiếng bát đũa, xoong chảo xô đập là tôi ngã, và lên cơn kích động thần kinh. Nhờ thiền, từ năm 1988 đến nay, tôi không hề bị các thứ tiếng inh tai, nhức óc ấy quật ngã…

Nhà văn Sơn Tùng đã đi qua một hành trình văn hóa để sống bình yên trong một đại dương đau khổ. Ông đã vượt lên trên đại dương đau khổ để đi đến biển cả yên bình, nhờ thiền. Mục đích tối cao của thiền định là giải thoát sinh tử luân hồi. Ta thực hành thiền dù chưa giải thoát thì cũng huấn luyện được tâm thức, làm cho nó thích nghi và hữu dụng trong đời sống thường nhật. Tâm là chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc, mà cũng là chìa khóa để mở cánh cửa đau khổ. Một bên là thế giới vật chất rắc rối nhiều khổ đau, bạo lực, giả dối. Còn bên kia với thế giới tinh thần tinh khiết và sức mạnh tâm linh.

Tôi kính trọng nhà văn Sơn Tùng đã “Vượt lên cầu vồng” . Đó là tên của bài hát mà Dadi Janki, một trong những vị đồng chủ tịch của Đại học Tâm linh thế giới Brahma Kumaris tại Ấn Độ đã mang tới Hà Nội tặng chúng tôi mùa hè năm 2006. Một buổi tối trong khách sạn Nikon gần hồ Thiền Quang. Chúng tôi cùng Frederic Labarthe (người học trò xuất sắc của Dadi- người mang trí tuệ và tình yêu thương, sự bình an của Brahama Kumaris đến Hà Nội) và hàng trăm sinh viên, chào đón Dadi, người lãnh đạo tinh thần nổi tiếng thế giới. Tuổi tám mươi, Dadi đã đi vòng quanh thế giới, giảng dạy và chia sẻ sự uyên bác của mình về khoa học tâm linh để có được năng lực và sự bình an. Bà đã hoạt động không mệt mỏi vì sự bình an cho nhân loại. Bà là người phụ nữ hiểu biết các chân lý tinh thần và bản chất con người trong cả văn hóa Đông- Tây, là một trong những “Người nắm giữ sự thông thái” trên thế giới. Đến Hà Nội bà cùng chia sẻ với chúng tôi lời chào bình yên.

Tiếng bà vang ấm hiền dịu như tiếng mẹ: “Tôi rất thích bài hát Vượt lên cầu vồng . Có gì ở phía bên trên cầu vồng? Trên đời này chúng ta đều thích cầu vồng, mọi người đều thấy cầu vồng quyến rũ và đều bị lôi cuốn tầm mắt về phía nó. Chiếc cầu vồng hội tụ mọi màu sắc, trông thật diễm lệ. Nhưng hãy vượt lên trên cầu vồng một khoảnh khắc: quên đi mọi thứ quyến rũ, hấp dẫn, thậm chí là rất đẹp và Vượt lên cầu vồng. Khi vượt lên khỏi những giới hạn đó, bạn sẽ có được niềm hạnh phúc lớn lao”.

Và Dadi dắt chúng tôi vào thiền định cùng tiếng nhạc rót nhẹ tơ trời của bài hát Vượt lên cầu vồng . Trong tĩnh lặng thẳm sâu, hàng trăm linh hồn hòa vào nhau, kết nối với năng lượng Tinh thần tối cao, cội nguồn của tình yêu thương và sự hoàn hảo, tiếp sức mạnh cho ta, làm cho ta cảm nhận được về những phẩm chất của chính ta. Thế giới vật chất lùi dần, lùi dần, ta tạo ra những ý nghĩ bình an, giải phóng ta khỏi những đau buồn và chịu đựng, dẫn dắt ta trên con đường tới tự do cá nhân, hạnh phúc trong cảm giác Thánh thần đã yêu ta. Tình yêu của Thánh thần là vô tận, vô cùng. Ta đạt tới bình yên. Khi có sự trải nghiệm về bình yên thật sự, tâm hồn bạn sẽ tràn ngập sự ngọt ngào, khiêm tốn, yêu thương và niềm vui lớn lao.

7. Tôi dám chắc rằng Thiền đã tạo một trải nghiệm kỳ diệu cho Sơn Tùng khi ông buộc cây bút vào ngón tay để viết Lõm - những trang sách đầy nhạc và thơ thăng hoa nỗi đau trần thế.

Bạn là ai? Bạn có muốn thiền không? Hãy đến Chiếu văn Sơn Tùng trong ngõ nhỏ Văn Chương- Hà Nội, gặp gỡ nhà văn, bạn sẽ ngẫm sâu hơn về văn hóa tinh thần và thực hành Thiền để đạt được trạng thái văn hóa tinh thần, sống trọn một kiếp hữu hạn bình yên. Ngày nay, Thiền đã được nhiều người trên thế giới (bất luận tôn giáo nào), cảm nhận được lợi ích do Thiền mang lại trong từng thời khắc sống. Tôi mừng vì các bạn sinh viên Hạnh, Hằng, Mai, Giang… sau khi nghe giảng về Thiền Trúc Lâm Yên Tử của tôi đã trả bài bằng một tài liệu nói về Lợi ích của sự hành Thiền mà các bạn tìm được trên mạng:

“ Nếu quí vị là người bận rộn, thiền có thể giúp quí vị tránh khỏi sự căng thẳng và cảm nhận được sự thoải mái. Nếu quí vị là người lo âu, thiền có thể giúp quí vị an lạc và làm cho nội tâm thanh tịnh. Nếu quí vị có vấn đề nan giải, thiền có thể giúp quí vị phát huy sự can đảm và sức mạnh để đối phó cũng như khắc phục chúng… Nếu quí vị là người trẻ tuổi đang ở giữa ngã tư cuộc đời, và không biết đi con đường nào, thiền có thể định hướng đúng. Nếu quí vị là người lớn tuổi sống cuộc đời buồn tủi, thiền có thể mang lại cho quí vị một nhận thức thâm sâu về cuộc đời, dần dần sự nhận thức này sẽ làm vơi đi niềm đau khổ và tăng trưởng niềm vui trong cuộc sống… Nếu quí vị đau khổ vì những điều mất thăng bằng nào đó như là hụt hẫng tinh thần và tâm thức nhiều lo âu, thiền có thể xây dựng và trang bị lại lực lượng thân tâm vững chắc, đặc biệt là để phục hồi sức khỏe và những vấn đề căng thẳng của tinh thần. Nếu quí vị là người có tâm linh yếu ớt, thiền có thể củng cố tâm linh để làm gia tăng sự can đảm và khắc phục những yếu hèn trong tâm của quí vị. Nếu quí vị là người thông minh, thiền sẽ mang lại cho quí vị trí tuệ cao cả. Khi ấy quí vị sẽ nhận chân các giá trị một cách dễ dàng, không còn cảm nhận chúng như trước đây nữa”.

Thiền là cách ta học và thực hành văn hóa tinh thần, để sống làm người lương thiện, bình an, yêu thương. Học văn hóa là học cách sống làm người. Cách sống đó bạn sẽ dễ dàng tìm thấy ở chính cuộc sống của những con người biết vượt lên đại dương đau khổ của thế giới vật chất này hay là người Vượt lên cầu vồng như nhà văn Sơn Tùng.


Bài đã đăng trên tạp chí Biển và Bờ


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 29.03.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com