Di ảnh nhà thơ Trần Nguyên Anh

TRẦN NGUYÊN ANH :
TIẾNG KÊU ĐAU THƯƠNG
TRONG NỀN THI CA VIỆT NAM
HẬU BÁN THẾ KỶ XX


( Kết )

Nhân Sinh Quan Của Tác Giả

Nhân sinh quan là vấn đề của nhận thức, đặc biệt nơi các tôn giáo phổ biến, như nhân sinh quan Phật giáo, nhân sinh quan Ki-tô giáo, nhân sinh quan của thuyết Mác-xít v.v… Thuyết Hiện sinh với Jean Paul Sartre đã đưa ra một nhận thức về đời người và về mối tương quan giữa con người với con người.

Trần Nguyên Anh đã làm nhiều công việc để mưu sinh, song chỉ có văn chương, có thi ca là cái “nghề”, hay như trong làng văn thường nói, đây là cái “nghiệp”, ẩn đằng sau nỗi lòng của từng con người, của từng “cây bút”. Tuy vậy, cái nghề cầm bút chẳng giúp ông được bao nhiêu trong chuyện cơm cháo hằng ngày và chỉ có một thời, một giai đoạn trên mười năm ngắn ngủi, từ 1960-1975. Chính cuộc sống rày đây mai đó, đã nhiều phen ông toan gác bút, chỉ vì :

Mấy ai vui nổi mà thơ,
Bạn xưa vắng ngắt cười đùa cũng không.
Càng thêm chán chữ văn chương,
Viết là viết vậy – ai buồn đọc đây ?
Ba trăm năm nữa mai này,
Họa chăng có kẻ khóc vay một bài.
Chớ giờ thơ phú dễ “tai”
Nói năng cái miệng không quai khôn lường.
Ghét ghen tai vách mạch rừng,
Lương tâm khó sống cúi luồn ngả nghiêng.
Mới nên danh, mới nên quyền,
Mới nên chức phận ngồi trên hưởng nhiều.
Ta không buồn tủi ta nghèo,
Chỉ buồn non nước tiêu điều bấy năm.

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 4, từ câu 21-34)

Trần Nguyên Anh mượn thi ca để bộc lộ tâm trạng của mình trước thời cuộc và cũng để nói lên một quan niệm về đời người. Cũng có đôi chỗ trong các thi phẩm của mình, tác giả lại cho rằng làm văn chương chỉ để mà chơi.
Dưới đây là một đoạn nữa tác giả nói đến vấn đề chủ đạo trong thi ca hay đúng hơn là nhân sinh quan của ông :

Ba trăm năm nữa ai người,
Khóc ai một tiếng, ai người ngủ yên.
Thơ ta cảm hứng triền miên,
Ta liên tiếp viết mười đêm chưa ngừng.
Thơ ta tâm sự não nùng,
Xót xa xuất phát tận cùng trái tim.
Thơ ta muốn thấy đời yên,
Lấy điều nhân nghĩa khuôn thiêng làm đầu.
Trọng người đạo đức cao sâu,
Ghét phường xiển nịnh mưu cầu danh hư.

… Suốt đời ta chỉ ước mong,
Sống cho vẹn nghĩa thủy chung thật thà

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 2,từ câu 123-138)

Mười ba năm làm công nhân dưới chế độ mới, hẳn cũng như một số người khác, ông phải va chạm và thấy nhiều điều bất như ý. Qua đó, ông nhớ đến những Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Hàn Tín v.v…

Dù ai khanh tướng công hầu,
Hay là nghèo khó bạc đầu ăn đong.
Buông tay nhắm mắt là xong,
Hơn chăng là một tấm lòng nghĩa nhân !
Sống thì giúp nước giúp dân,
Coi thường hư lợi phù vân hão huyền.
Không xu nịnh, không cửa quyền,
Không tham cái sống thấp hèn vinh thân.
Nguyễn Trãi là vị đại thần,
Giúp vua, giúp nước, cứu dân công trời !
Vậy mà tâm sự của Người,
Cũng đau, chua xót, thói đời quắt quay.
Huân công kể đến ai tày,
Thế mà vẫn bị đọa đày ghét ghen.
Chết vì những kẻ nhỏ nhen,
Nịnh vua, hại nước xiểm rèm người ngay !
Trần Nguyên Hãn ôi ! Thảm thay,
Phạm Văn Xảo ơi ! Đến nay vẫn buồn.
Kìa người Hàn Tín luồn trôn,
Dẫu công hãn mã mở đường Hán Lưu.
Mà rồi cũng bởi ghét yêu,
Rèm pha mà phải đến điều nát thây.
Còn ta như hạt bụi này,
“Hàng thần nếu phải đắng cay cũng thường !”

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 3, từ câu 288-311)

Ở một đoạn thơ khác trong tập Diễn khúc dân tình,Trần Nguyên Anh phối hợp rất tài tình giữa cái lãng mạn với những nhân vật lịch sử trong truyện cũ, như Hạng Vương, Hàn Tín, Khương Duy, Khổng Minh, Tào Tháo, Từ Hải. Cũng ở đây, một Trần Nguyên Anh khác rõ nét, đăm chiêu, buồn phiền và cũng thật lãng mạn, cái lãng mạn của một kẻ phẫn thế mà cũng rất gắn bó với những vấn đề của lịch sử và của con người.

Sầu ai lên mãi chơi vơi,
Vút cao đỉnh nhớ lá rơi đỉnh sầu.
Vầng trăng thu, trắng đêm thâu,
Trải vàng trên sóng dưới cầu trăng trôi.
Sài-Gòn mười lăm năm trời,
Đổi thay mấy lớp cho đời buồn thêm.
Sương sa giọt nhớ giọt mềm,
Gió lay ngọn gió, cho rèm lay theo.
Ai nghe đời đổ reo neo,
Mà cho non nước nghiêng theo bóng ngàn.
Núi kia đứng nửa điêu tàn,
Lòng khe suối cạn tiếp làn sông khô.
Hạng Vương ngồi tiếc Ngu Cơ,
Đập tan chén ngọc bụi mù ngựa bon !
Mã chiến hí dựng đầu non,
Ba quân một dạ quyết tròn kiếm cung.
Sa cơ mạt lộ anh hùng,
Láo lơ tướng sĩ một lòng chết theo !
Hàn Tín nhớ nhục luồn kheo,
Mà quên Khoái Triệt đến điều nát thân.
Khương Duy tài uổng tính lầm,
Xương tàn trong lửa máu bầm tro than.
Mưu thần quân sự khôn ngoan.
Khổng Minh không thể lấy gan vá trời.
Gian hùng Tào Tháo mà thôi,
Mà sao cũng phải lệ rơi đầm đìa.
Từ Hải xé nửa sơn khê,
Nể lời nàng Thúy như bia chết trồng.

Trong : Diễn khúc dân tình
(Chương 4, từ câu 253-280)

Nhận xét

Trong suốt thời gian làm việc tới nay, ở nhiều đoạn hay tiết mục, tôi đã có đôi lời nhận xét về những bài thơ được dùng để viết về Trần Nguyên Anh. Những nhận xét này, ít hay nhiều cũng là chủ quan, nhất là khi hai chúng tôi là chỗ thâm giao. Tuy nhiên chính vì điểm này mà tôi có thể nói tôi hiểu được tâm sự của tác giả, bên ngoài những ngôn ngữ trong tất cả các tập thơ của ông. Nhưng có những vấn đề khi đưa ra chỗ công khai, tôi phải cáo lỗi với tác giả là còn rất nhiều điều phải gác lại.

Ở phần thứ nhất, tôi nói rằng Trần Nguyên Anh không phải là môt nhà thơ thuần túy, nhưng còn là một nhà đạo lý, mang tư tưởng truyền thống, dùng thi ca để phổ biến cái đạo làm người, trong đó cái đạo làm con, hiếu với các đấng sinh thành, nghĩa phu-thê là quan trọng, rồi đến tình bạn hữu, với Tổ quốc, với Nước non. Có lẽ ở điều này mà ông ít được “đón tiếp” nơi những người coi thơ văn là “số 1” của đời họ. Ông không có “tri kỷ” là nhà văn nhà thơ quan niệm thơ văn là “tất cả” như thế. Nhưng ông có hơn một người bạn tâm giao không thuộc làng văn thơ, mà là một người chân thật, có lòng mộ mến đạo lý nhà Phật, vị tha và tín trung với bạn hữu.

Thực ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh, không đơn giản hay chỉ thu hẹp lại trong một vài nguyên tắc cứng ngắc, như khi tác giả viết cho con cái, hoặc khi ông nhớ đến lời mẹ dạy bảo.

Chẳng hạn, với con cái, ông viết :

Ta thường dạy bảo đủ lời,
Trai thì trung hiếu, gái thời đảm đang.
Tính ăn, nết ở dịu dàng,
Thương chồng, nể vợ dịu dàng bảo nhau.
Chớ đừng học thói cơ cầu,

Nghĩa nhân học lấy làm đầu,
Chăm lo để phước ngày sau con nhờ.
Hay gì sống đục thác nhơ,
Tham danh ích kỷ tiếng dơ để đời.

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 3, từ câu 659-680)

Về thân mẫu, ông viết :

Mẹ ta mỗi tuổi mỗi già,
Nỗi lo nuối tiếc xót xa thêm đầy !
Trán nhăn, má hóp thân gầy,
Tim gan khô héo, bàn tay cứng mòn !
Tấm lòng đau khổ sắt son,
Suốt đời tận tụy vì con, vì chồng.
Dù cho hoạn nạn gai chông,
Tản cư chạy giặc mấy đông nhọc nhằn !
Trăm ngàn thiếu thốn khó khăn,
Đói cơm khát nước cắn răng một mình !
Thủy chung vẹn nghĩa vẹn tình,
Giữ lời vàng đá hy sinh quá nhiều !
Sướng không căng, khổ không xiêu,
Quần nâu áo vải, nhiễu điều cũng nên !
Tiếng thơm biển cả mẹ hiền,
Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !
Nên ai chẻ tóc gieo cầu,
Gây muôn tội ác mẹ đâu thù hằn.

Nghe lời mẹ dạy từng câu,
Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !
Dần dần đèn sáng bên gương,
Thấm lời mẹ dạy coi thường lợi danh !
Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,
Câu thơ nên chép để dành người sau.

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 1, từ câu 173-202)

Thật ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh nếu chỉ nhìn một cách hạn hẹp, trong khuôn khổ lễ giáo gia đình, thì chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn, so với những đề tài khác, các chủ đề khác trong toàn bộ thi ca của ông. Những chủ đề này bao trùm lên tất cả, rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, chiến tranh, xã hội, đời sống khốn cùng của người dân hai miền Nam-Bắc trải dài hơn nửa thế kỷ, từ 1945. Rồi đến những cuộc tranh chấp quyền lực giữa các phe phái ở miền Nam, từ 1954 – 1975, đến những hậu quả của hai cuộc chiến tranh tại Việt Nam trong hậu bán thế kỷ XX ; còn tình trạng xã hội ở miền Nam thời kỳ có mặt của người Mỹ và đồng minh, cũng như trên toàn đất nước sau ngày mở cửa và hội nhập, hoàn cảnh đất nước nói chung ra sao, đạo lý băng rã đến đâu và con người quay cuồng trong đó, đổi thay thế nào v.v…đều được tác giả nói đến một cách tỉ mỉ, mà có lúc tôi đã nghĩ rằng nó không thích hợp lắm cho thi ca, nếu hiểu thi ca theo lối cổ điển, gắn liền với lãng mạn, mơ mộng, người thơ chỉ sống với trăng gió hay với mây bay đỉnh núi sương mù, nó được quan niệm là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, còn tất cả những chuyện rắc rối trong cuộc đời, chỉ dành cho đám phàm phu tục tử, đám bình dân suốt ngày lam lũ, chẳng biết gì đến cái thú tiêu khiển thanh cao cầm kỳ thi họa !

Không, Trần Nguyên Anh đã đưa vào thơ tất cả mọi vấn đề, mọi khía cạnh của đời sống con người, những gì liên quan đến con người, ông đều quan tâm. Ngoài ra, những miền đất ông đã đi qua, những cảnh vật thiên nhiên đã làm ông cảm hứng, ngay đến chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn ri của người Nam Bộ, chiếc nón bài thơ xứ Huế, cũng như tà áo dài của con gái và phụ nữ Việt Nam. Ông viết :

Còn trời còn nước còn non,
Áo dài còn mãi – Vẫn còn Việt Nam.

Trần Nguyên Anh còn đề cập đến lãnh vực kinh tế, như nông nghiệp, thương nghiệp ; các công việc đồng áng xưa kia, như tát nước, nhổ mạ, trồng khoai ; ông mô tả tiếng vồ đập đất, tiếng hò đập lúa, lo xàng lo xẩy ; các loài hoa như soan, bưởi, cau, gạo, sim, vông vang, rau cải, bươm bướm, tiếng cóc, tiếng đàn tranh hay tiếng ru của mẹ.
Bởi vậy, trong thơ của Trần Nguyên Anh có một quê hương yên bình, đầm ấm và thương yêu, nhưng cũng có một quê hương trong máu lửa chiến tranh, trong đói khát và bần cùng.
Với những đề tài đó, Trần Nguyên Anh xứng đáng là một nhà thơ tiêu biểu trong hậu bán thế kỷ XX, về những gì liên quan đến con người, đến lịch sử và xã hội. Đọc thơ ông, người ta gặp được một cây bút rất gần gũi, rất thân cận với con người, với vận mệnh hưng phế của đất nước. Người ta khóc với nó, phẫn nộ với nó trong những giai đoạn đen tối, nghiệt ngã khi những con người nắm trong tay vận mạng của cả một dân tộc, đã bán rẻ lương tâm, sống giàu sang trên khổ đau của người khác. Mặc dù có đôi chỗ tác giả đã đơn giản hóa vấn đề, mà cũng có chỗ ông lại chi tiết nó, lại cường điệu nó, khiến làm giảm đi tính cách lịch sử, đồng thời giảm đi tính chất thi ca. Lại còn vì âm vận giữa các đoạn chuyển tiếp nên cũng không tránh được sự trùng lắp về ý, vô tình mắc vào sự gượng ép . Đấy là trường hợp của hai thi phẩm trường thiên tâm huyết của Trần Nguyên Anh : Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình.

Mặt khác, có những việc được tác giả điểm qua điểm lại, hầu như nói hoài mà không hết ý, ông cứ muốn phát triển rộng ra mãi. Phải công tâm mà nói, đó là một khuyết điểm trong nghệ thuật diễn tả. Song nó lại bộc lộ cái chân thân của Trần Nguyên Anh, rằng trong ông là tất cả, cái gì cũng tràn đầy. Ông không nghĩ đến sự rậm lời, ảnh hưởng đến hồn thơ của ông. Bởi như ông đã bày tỏ, ông không chủ ý làm văn chương theo quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”,làm thơ sao cho trải chuốt, ngôn ngữ thơ mông lung, ai hiểu sao thì hiểu, song thơ chỉ là một phương tiện phù hợp với tính cách của ông, để giãi bày tâm tư về bao nhiêu vấn đề liên quan đến đời sống .Nó là “Nghệ thuật vị nhân sinh”, hay là theo lối nói trường phái, Trần Nguyên Anh là nhà thơ của “ Hiện thực chủ nghĩa.”? Thật ra, ông không ngả theo trường phái văn học nào, điều này chỉ là một nhận xét theo các chủ đề trong thơ của ông.

Ngoài tính chất “hiện thực”, Trần Nguyên Anh còn là một cây bút “lãng mạn” Quả thực, đây là một yếu tố để khẳng định tính thi sĩ trong ông.
Chúng tôi chọn hai đoạn thơ trong tập Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, tác giả viết về tâm tư của kẻ xa quê hương và nỗi nhớ nhung của mình.

Đau thương cảm với u sầu,
Với chồng sách, ngọn đèn dầu hắt hiu.
Với sao khuya, với trăng treo,
Với khu nhà lá xóm nghèo xác xơ !
Đau thương cảm với bao giờ,
Người sau đọc đến ngẩn ngơ thương mình.
Bốn Nhăm (1945) Tám Tám (1988) lênh đênh,
Bốn ba năm ấy nặng tình hoài hương !
Khi quán gió, lúc cầu sương,
Dừng chân đứng ngó hàng dương ủ buồn.
Một màu bàng bạc mây truông,
Núi trùng điệp núi, đồi nương tiếp đồi.
Rừng chiều xào xạc lá rơi,
Thu không vượn hú rối bời lòng ai.
Xuân sang nghe tiếng thở dài,
Nát lòng thiếu phụ nhớ hoài chân mây.
Người phương Đông, kẻ phương Tây,
Uống chung giòng nước đầu này đầu kia.
Sầu ta cảm với sơn khê,
Ba mươi ba hạ, chưa về cố hương.
Sầu ta dằng dặc con đường,
Không ngăn cách núi sao buồn gớm ghê !

Trong : Nước non tâm sự
(Chương 4, từ câu 113-134)

Còn ở tập Diễn khúc dân tình, trước khi kết thúc toàn tập, tác giả cũng như muốn dừng lại sau gần hai ngàn câu thơ nói đến chiến tranh, chết chóc, đổ vỡ đau thương ; nói đến những nhân vật lãnh đạo đất nước của một thời như Bảo Đại, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo, Bảy Viễn, Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Dương Văn Minh, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Khánh, Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Quang, Dư Quốc Đống, Ngô Du, Cao Văn Viên; nói đến Hiệp định Paris và nhóm ký giả miền Nam xuống đường đội nón đi “ăn mày” giả hiệu vì một luật lệ về kiểm duyệt báo chí…
Sau khi điểm qua những nhân vật trên và cái thời của họ bằng những câu thơ chua cay và tủi nhục, tác giả như thấm mệt nên ông cần một thoáng xả, đưa hồn về quê cũ.

Ba mươi sáu năm xa nhà,
Tưởng về trong mộng nhìn hoa bóng trời !
Trăng treo nửa mảnh trên đồi,
Sao rơi cuối ngõ càng khơi nỗi buồn.
Gió reo lá rụng bên đường,
Cho cây nhớ lá giọt sương đầm đìa.
Cho người nhớ cảnh ra đi,
Bên sông ly biệt hồn tê tái sầu.
Nhìn lên kìa bóng sao Ngâu,
Ngân hà một giải trên đầu vắt ngang.
Trời thu ảm đạm thu sang,
Gió thu hiu hắt trăng vàng xác xơ.
Mưa thu lành lạnh mịt mờ,
Mây thu xám ngắt sương thu úa xàu.
Sông thu quạnh quẽ bờ lau,
Non thu tím biếc một mầu tóc tang.
Người thu thân xác võ vàng,
Mắt thu ảm đạm tiễn chàng chinh phu !
Đỉnh thu gió hú ù-ù,
Hồn thu khắc khoải, thơ thu rã rời !

Trong : Diễn khúc dân tình
(Chương 4, từ câu 389-408)

Mặc dù chúng tôi xếp hai đoạn thơ trên đây vào loại thi ca lãng mạn trong thơ Trần Nguyên Anh. Tuy vậy, ở đây ta vẫn nhận ra cái tâm cảnh của tác giả, lúc ẩn lúc hiện. Nó vẫn chưa toát lên cái tính chất lãng mạn đích thực, cái lãng mạn vẫn thường được hiểu như một cách biểu hiện tính cách vượt ra ngoài hình thức diễn tả cổ điển, mực thước.Phải chăng cái tinh thần đạo lý và phần lý trí trong ông đã làm nên tính cá biệt này ?
Mặc dù vậy, tác giả vẫn lưu lại trong các tập thơ như Ly hương hoài cảm một vài bài đích thực là lãng mạn :

Người qua trong mộng

Sáng nay ta lại lên chùa,
Nắng vàng rực rỡ như tơ lụa tằm.
Ai nhìn đôi mắt đăm đăm,
Thẹn thuồng chẳng nói ngậm tăm không cười !
Ngoảnh đi, ta chợt bồi hồi,
Ấy người trong mộng đêm rồi ghé thăm.
Hình như cứ đến đêm rằm,
Nàng len lén lại khẽ nằm bên ta.
Ôi ! thiên nhiên đúc một tòa,
Trắng ngần hơn tuyết hương sa lạ lùng.
Bồng bềnh tóc thả ngang lưng,
Gót sen nhẹ hẫng rèm tung mất rồi !
Trông lên thăm thẳm sao trời !

Mùa thu Ất Hợi 95
(Trong : Ly hương hoài cảm tập 1)

Kết luận

Tôi không có ý nói lời tổng kết về thi ca của Trần Nguyên Anh, vì tôi chưa có trong tay những bài thơ ông làm sau khi sang Canada. Những bài này hầu hết đã đăng trên tờ Khởi Hành xuất bản ở Hoa Kỳ.Mặt khác, tôi biết cái giới hạn của tôi trong lúc này, vì sức khỏe và tuổi tác. Đó là một điều làm tôi áy náy với anh linh người bạn thơ đã khuất của tôi.
Tuy nhiên, tôi hy vọng độc giả nào kiên nhẫn theo dõi các bài thơ trong mục thơ tuyển trên trang báo NewVietArt này cũng như các bài thơ trong loạt bài tôi viết đây, cũng đủ dữ liệu để tự mình đánh giá thi ca Trần Nguyên Anh .
Điều sau cùng tôi muốn nói đến ở đây về Trần Nguyên Anh, đó là cá tính của ông, một cá tính mạnh mẽ. Ông rất dễ bộc lộ cá tính này về sự yêu, sự ghét, giữa cái thiện và cái ác, giữa bổn phận và vô trách nhiệm, giữa sự trung thực và giả trá.

Cuối cùng, tôi mượn chính lời của Trần Nguyên Anh trong bài thơ sau đây để khép lại loạt bài này :

Sông hồ tự do

(Tặng những Nhà thơ thật Nhà thơ)

Mùa Đông cái nắng miền Nam,
Vàng như tơ lụa giầu sang của trời.
Ai lên thượng giới rong chơi,
Cho ta lên với cùng vui một lần.
Chán ôi ! chán cõi hồng trần,
Câu thơ viết mãi phong trần càng đau.
Tiếc mình đẻ muộn sinh sau,
Tài thơ Siêu Quát ngàn câu đã thừa !
Tìm đâu tri kỷ nằm mơ,
Giữa đêm đốt đuốc soi bờ đại dương.
Sóng xô lớp lớp tang thương,
Trăng cau mặt đẹp nét buồn Tây Thi !
Phù Sai vì quá say mê,
Thành nghiêng nước mất Đài kia lật nhào !
Ai khôn ? Ai dại ? trước sau,
Trương Lương, Phạm Lãi công hầu cũng chê !
Nhẹ nhàng hai chữ đi về,
Ngàn năm Liệt truyện còn ghi người hiền.
Công thành thân thoái là Tiên,
Thoát vòng danh lợi hão huyền bẩn dơ.
Lên non cưỡi hạc nhởn nhơ,
Đi mây về gió Sông hồ Tự Do !
Vỗ bụng làm trống hết lo !

Mùa Đông Ất Hợi 1995
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)

TRẦN NGUYÊN ANH


Viết lại, xong ngày 19/3/2010 tại Sài-Gòn.
© tác giả giữ bản quyền .
. Đăng tải trên Newvietart.com ngày 21.03.2010 .
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .