PHỔ TRẠNG
CÁC
NHÀ VĂN MIỀN NAM ĐƯƠNG ĐẠI


DÃ LAN
NGUYỄN ĐỨC DỤ





LỜI DẪN

"Phổ trạng các nhà văn miền Nam đương đại"
bản thảo -di-cảo được Trần Nhật Thu chuyển đổi từ "Phổ trạng các nhà văn miền Nam"- khi anh dự định in, và trước đó đã in " Một lối chép gia phả thật đơn giản " của Dã Lan.
Trần Nhật Thu , một đầu nậu lớn, đã in tác phẩm mới viết , cùng tái bản vài cuốn Toan Ánh, Nguyễn Thiệu Lâu, Dã Lan- ... Nhà thơ đầu nậu này được giới nhà văn Saigon cũ, và tp. HCM mới - đội cho anh cái mũ " giám đốc cấp phép của các giám đốc" . Cuốn sách nào " có vấn đề" , ngắm bán chạy là anh cho in, giấy phép khống luôn sẵn trong cặp, chỉ cần điền tên tác phẩm vào , đưa đi in cấp tốc. Nhớ lại một cuốn thơ Lê Minh Quốc, suýt nữa trở thành tai họa, chỉ vì một bài thơ , nơi trang 9, hoặc bài số 9- có một đôi câu khao khát tự do gì đó -tôi quên rồi - Nhật Thu cấp phép khống- Quang Huy, đương kim giám đốc nxb Văn Hóa phải ra tay gỡ rối, giải trình dư luận" độc" trước Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương. May là vào thời kỳ Tổng bí thư Đỗ Mười, chỗ dựa rất vững của Quang Huy, mọi việc đước dàn xếp ổn thỏa. " Bản thảo khó, có Nhật Thu lo " là vậy!
Cuốn thứ haiTrần Nhật Thu dự định in ấn, đó là cuốn tự -sự -kể "Vàng son huyết lệ" của Minh Phụng (giao bản quyền cho Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) , đã đước Nxb Phụ Nữ ( Hà Nội) cấp phép xuất bản, mới phát hành vào cuối tháng 12/ 2009 ( xem bài của Trần Vân Hạc-Xuân Ba đăng trên Newvietart.com ) -nếu biết được điều này, tác giả Minh Phụng và Dã Lan( thụ ủy bản quyền) cũng mát lòng, hả dạ!. Người biên tập đầu tiên Nxb Lao động là Nguyễn Dậu ( Trương Mẫn Song 1939- ? ) đã qua đời- mà theo Trần Nhật Thu (1945-2008) cho biết, sau khi cuốn này không được Dã Lan- Nguyễn Đức Dụ chấp nhận việc sửa chữa- "tình bạn giữa Thu và Dậu đã cáo chung" . Kể ra "Vàng son huyết lệ" đến tay bạn đọc mới đây, nào mấy ai đã biết "khúc đoạn trường " đã làm đứt ruột : tác giả, thụ ủy đại diện, người biên tập, kẻ đấu nậu lớn... nay tất cả đều là " người thiên cổ"!
Tiếp theo, bàn đến một bản thảo khác viết dở dang "Phổ trạng các nhà văn miền Nam đương đại" của Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ , một bản thảo giá trị , tư liệu văn học cao , tiểu sử tác giả ghi chép tỉ mỉ, đáng đước in thành sách - hiện được trưởng nam Nguyễn Đức Lân ở Hoa Kỳ cất giữ, lưu kho.
Thật ra, phổ trạng các nhà văn miền Nam được Dã Lan khởi thảo từ thập niên 70 ở Saigon. Chàng quản thủ thư viện Đại học Kiến trúc, đạp chiếc xe đạp đến gặp từng người để " xét hỏi, điều tra, tỉ mỉ ghi chép " từng chi tiết nhỏ ,soi sáng bối cảnh xã hội tác phẩm mỗi tác giả. Chỉ một chi tiết này về sử gia Trần Trọng Kim thôi, chàng đến gặp ái nữ nhiều lần; nay hỏi điều này, mai điều kia chưa rõ, lại xin được xem bản thảo sử gia viết cuốn bút ký chính trị ở Phnom Penh .(hình như MỘT CƠN GIÓ BỤI thì phải. Cuốn này do Thanh Thương Hoàng in, phát hành vào thập niên 60 ở Saigon) Bà quả phụ sử gia ỏ chung với con gái gặp Dã Lan nhiều lần đến xin gặp con gái, bà tỏ ra khó chịu, khi khách hỏi về lý lịch sử gia Kim. Tuy vậy, ái nữ lại rất vui lòng gặp gỡ, bổ sung chi tiết thiếu sót trong tiểu sử người cha, và sau còn tặng Dã Lan bản thảo viết tay cuốn bút ký ấy! Giả sử nước ta có được truyền thống mua bản thảo danh nhân như ở tây phương, hẳn bản thảo Trần Trọng Kim sẽ được chào bán , quy ra Mỹ kim, tính từ bạc triệu trở lên.
Riêng về " Phổ trạng Đỗ Mạnh Tường / Việt Trì-Phú Thọ (trích từ di cảo " Phổ trạng các nhà văn miền Nam đương đại") được nhà gia phả học đánh máy, đóng tập từ năm 1995 tặng - tôi đã giao cho trưởng nam Đỗ Mạnh Tường Khê ( 1966- ) hiện sống với gia đình riêng ở Houston-coi như "sổ gia phả họ Đỗ" vậy. Xin nêu ra chi tiết nhỏ: cần mẫn về cách chép gia phả Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ thực hiện. Biết tôi còn một bà cô ruột Đỗ Thị Thảo( 1917-2009 -Virgina ) , khi ấy ( 1974) nhà ở hẻm đường Lê Văn Duyệt, Saigon 3, chàng buộc đưa tới gặp nhiều lần- rồi soạn giả khám phá ra tôi có một cậu em, con cô cậu, là nhà báo nổi tiếng, chủ nhiệm Đi & Sống, tổ chức du lịch Hồng kông, Nhật Bản ( bịp) - con trai của một bà cô khác : Đỗ Thị Kha (chị ruột bà Đỗ Thị Thảo) . Anh nhà báo lì lợm nổi tiếng ở đất Saigon này ; nói đến tên, ai cũng biết; kể cả trí thức, đến giới bình dân, giới thượng lưu đến bọn ma cô đầu đường xó chợ, đá cá lăn dưa . Đó là Lê Minh-Hoàng Thái Sơn. Anh hơn tôi dăm, bẩy tưổi ( vai em tộc họ) biết nhau thì bắt tay , lại chưa hề được coi nhau là bạn văn . Cũng nhờ chàng "đội Thu" ( tên thường gọi trong gia tộc Dã Lan -Nguyễn Đức Dụ- bởi Dã Lan, với tên thật Nguyễn Đức Thu sinh năm 1919- lại dùng tờ khai sinh đứa em kế qua đời -Nguyễn Đức Dụ sinh năm 1925 -? ) , mà phổ trạng tôi đầy đủ hơn , so với chính gia phả họ Đỗ - giả thử do chính tôi có viết lại đi nữa.
Có lời cảm ơn muộn " ông đội Thu" , ông bạn ngồi sau xe gắn máy, hai tay ôm chặt càng xe; sau chuyến rong phố, lại móc ví trả tiền xăng vào thời bao cấp ( hệt nghệ sĩ Hoàng Thư 1921-2000) "..nếu anh không nhận, lần sau tôi sẽ không ngồi phía sau cho anh chở nữa!".

Dưới đây là "Phổ trạng Đỗ Mạnh Tường (tên thật Thế Phong) : do Dã Lan-- Nguyễn Đức Dụ viết, tôi cho trích đăng ở phần "Phụ lục cuốn bút ký 5000 ki lô mét Xuyên Việt" (235 trang) (Nxb Thanh Niên sẽ xuất bản).

ĐƯỜNG BÁ BỔN

PHỔ TRẠNG ĐỖ MẠNH TƯỜNG
(Việt Trì- Phú Thọ)



Thế Phong là bút hiệu, tên thật Đỗ Mạnh Tường. Ngoài bút hiệu này, còn mấy bút hiệu nữa: Đường Bá Bổn, Đinh Bạch Dân- hai bút hiệu sau của nhà văn Thế Phong ít dùng - coi như bút hiệu THẾPHONG là bút hiệu chính.
Sanh ngày 7/6 Nhâm Thâm 1932 * ( * trong giấy khai sinh lại thấy ghi là sanh năm 1936.(Chú thích: Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) tại nhà thương Yên Bái ( phố Yên Thái) , chính quán ở Việt Trì, Phú Thọ. Ông nội tên Đỗ Văn Phác, chân nho học, bà nội là Phạm Thị Thắm, sanh được hai người con trai; là cha của Tường và người em họ là Đỗ Văn Hạnh, với ba gái là Thị Kha, Thị Thảo, một gái chết yểu. Ông bà nội Tường ít khi đi đâu, ở luôn quê nhà chăm lo giỗ tết, vì cụ Phác là trưởng tộc, nơi đây có từ đường" Đỗ-văn".
Cha tên Đỗ Văn Đức ( 1896-1947) , chân giáo học, mẹ tên Phùng Thị Mùi, không nhớ năm sanh, chỉ biết bà mất vào năm 1952 ở Bữu, quê ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây. Ông giáo Đức là con đầu dòng cụ Phác, đồng thời cũng là trưởng ngành họ" Đỗ-văn". Xuất thân nhà giáo (Instituteur auxiliaire principal hors classe), tốt nghiệp Trường Bưởi Hà Nội; vì ông tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học, nên bị Pháp đày lên thượng du dạy ở các trường châu Văn Bàn ( dưới chân núi Hoàng Liên Sơn- (nay lấy lại tên cũ : Fan Si Pan - TP thêm) làng Bữu, Đại Lịch... ở đâu ông cũng được mọi người quý mến vì nể, vì ông dạy học trò rất tận tâm hết lòng hết sức. Năm 1947, ông bị bắt đưa đi mất tích.

Đỗ Mạnh Tường là con trai duy nhất trong gia đình, bà giáo Đức sanh được năm người con, bốn trai một gái, song các anh chị em của Tường đều mất sớm, nên Tường rất được mẹ nuông chiều. Trái lại, bố Tường rất nghiêm khắc, ít hỏi han đến con cái. Tường lúc nhỏ ngỗ ngược, phá phách nghịch ngợm nhất làng Bữu, cứ về nông thôn (đúng ra là nông trại - TP chú thích) là đuổi gà, đuổi vịt, bị gai cào rách chân tay mình mẩy, bà giáo lại gọi về đe dọa còn nghịch ngợm nữa mẹ sẽ chết! Nhưng Tường vẫn không chừa, lắm lúc bà phải khóc làm tường hối hận lên giường nằm ôm lấy mẹ.
Khác hẳn, ông giáo rất dữ đòn, thấy Tường rắn mắt đánh rất đau, bà giáo lại bênh vực ngăn cản vì bà thương Tường là con một. Tường rất yêu mẹ song rất oán bố. Có lần Tường đi mua thuốc phiện cho bố, bị nước cuốn trôi mất ngựa suýt chết đuối, lúc bơi tới bờ, ông chỉ hỏi thuốc ,tuyệt nhiên không hỏi han gì đến cơn nguy hiểm vừa qua ;khiến bà giáo ôm vội lấy con khóc. Lúc còn bé, bà giáo thường kể cho con nghe:
".. Con là con cầu tự ở đền Quán Thánh Yên Bái, có tật .(bàn tay phải có 6 ngón- TP chú thích) Con là đứa thứ ba sống sót trong năm mụn con của mẹ. Lúc hoài thai con, mẹ phải nằm dài hàng ba tuần lễ ở nhà thương Yên Bái, sanh con ra chưa bao giờ nước lũ lớn đến như vậy ngập cả thành phố". cũng vì vậy thuở bé Tường rất được nuông chiều.
Tứ năm 1932 đến 1950, Tường sống với bố mẹ ở làng Bữu từ nhỏ tới lớn, học ngay ở trường làng miền Tây Bắc, qua các trường ở châu Văn Bàn, Thượng Bằng La, Đại Lịch, Tường học ngay ở trường bố làm hiệu trưởng. Thượng Bằng La - tên chữ của làng Bữu - ( tên ghi trong sổ bộ của triều đình) - gần thị trấn Nghĩa Lộ, thuộc huyện Trấn Yên ( huyện Văn Chấn mới đúng- TP chú thích) , mải đi dạy học, xa nay đây mai đó,thỉnh thoảng ông mới đưa con cái về quê cha đất tổ vào dịp giỗ tết hoặc thăm viếng cha mẹ già yếu.
Năm 1942, đậu xong bằng sơ học ở Nghĩa Lộ (Certificat d' étude primaire élémentaire), đậu thủ khoa, bố mẹ gửi ra học ở trường Yên Bái (École Garcons de Yen Bay) , song đang thời kỳ Mỹ ném bom Nhật ở Yên Bái ,nên Thế Phong phải bỏ học về sống với bố mẹ ở Bữu và Đại Lịch. Thế Phong lớn lên trong bối cảnh thanh bình giữa núi rừng Nghĩa Lộ suốt tuổi ấu thơ, được mẹ hiền chăm sóc cho tới lúc vừa đậu xong bằng sơ học, thì đất nước bắt đầu loạn lạc... Làng Bữu, chính là quê hương thứ hai của nhà văn "Thế Phong- Đỗ Mạnh Tướng," nơi Thế Phong phải chịu nhiều gian lao, cực khổ suốt quãng đới niên thiếu, vì cả hai nơi này, Bữu và Nghĩa Lộ- làng Bữu cũng gần Nghĩa Lộ - đã xảy ra nhiều trận giao tranh ác liệt giữa Việt Minh và Pháp làm nhiều gia đình tan nát cửa nhà...
Nghĩa Lộ là một thị trấn của Yên Bái nằm sâu trong dãy Hoàng Liên Sơn. Thời kháng chiến bốn nhăm, qua bao giai đoạn công đồn chiếm đất giữa Pháp và Lực lượng Kháng chiến, Nghĩa Lộ được coi như một địa danh lịch sử, là căn cứ hiểm yếu của Việt Minh dùng để chống cả Pháp và Nhật năm 1945, nó cũng tương tự chiến khu Bắc Sơn thời tiền cách mạng. Năm 1947, một toán quân của tướng Alexandrie tràn về Nghĩa Lộ qua lối Phù Yên và Thượng Bằng La buộc Việt Minh phải triệt thoái.
Gia đình bà giáo Đức mất cả người và của, vì ông giáo vẫn bị Việt Minh nghi ngờ theo dõi, không muốn để ông ớ lại Nghĩa Lộ, sợ ông bắt tay với Pháp, nên khi rút lui Việt Minh đưa luôn ông đi rồi mất tích. Quá đau đớn vì chồng bị bắt, bà giáo nhất định không rút lui... bà dẫn con tản cư sâu mãi vào trong rừng, rồi ít lâu sau bà cương quyết đưa con trở lại Nghĩa Lộ ( đúng ra: làng Bữu - TP chú thích) , trở về căn nhà thân yêu xưa, với đồn điền và của cải cất giấu. Nhờ con biết nói tiếng Pháp, bà giáo lấy lại được căn nhà Pháp chiếm đóng. Viên thiếu tá chỉ huy trưởng thấy Thế Phong thông minh, lấy vào đồn làm thông ngôn * ( * trong đám sĩ quan Pháp có viên trung úy Henri Guilleminot giúp đỡ Thế Phong nhiều nhất. Lúc ông ta về Pháp nghỉ có nói với bà giáo Đức cho Thế Phong qua Pháp học, song bà từ chối vì chỉ có Thế Phong là con một. Sau này, lúc ở Pháp qua( đã thăng đại úy) vẫn thường xuyên liên lạc, gửi thư và tiền cho Thế Phong hai ba năm liền, còn biên thư khuyên ông ráng học, cho tới lúc vô Nam. (Chú thích: Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) . Đó là những năm Thế Phong chịu nhiều gian lao, khổ cực, được mẹ chăm sóc dạy dỗ, thêm người chị nuôi ( tên Bích) cũng hết lòng bao bọc thương yêu.
Làm thông ngôn cho quân đội Pháp một thời gian, Thế Phong bị Pháp cho nghỉ việc dài hạn, vì một lá thư ở ngoài bưng gởi về nói ông giáo vẫn còn sống. Thế Phong buồn bực đâm ra bài bạc, lấy tiền mua hàng của mẹ, vay nợ, ăn cắp tiền bỏ ống của đứa em họ, đánh đập tàn nhẫn em gái mỗi lần nó không đi vay được tiền...
Sau hối hận Thế Phong không đánh bạc nữa, bắt đầu lao đầu vào công việc đất rẫy làm ruộng. Năm 1950, bà giáo gởi Thế Phong về Hà Nội học, ở với bà cô ruột là bà Thảo /1917 ( chồng tên Dương Duy Tỵ/ 1917) nuôi cho ăn học. Lúc học ban trung học ở Hà Nội, Thế Phong cũng lắm phen lao đao lận đận. Ngày 16 tháng 11/ 1952, quân đội Pháp thất trận toàn diện ở Nghĩa Lộ. Và Nghĩa Lộ lần thư hai lại rơi vào tay Việt Minh. Từ đó Thế Phong mất liên lạc với mẹ ở làng Bữu. Buồn vì gia đình tan tác và nhớ thương mẹ, Thế Phong bắt đầu viết văn. Năm 1942, lúc đi học ở Đại Lịch( huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái - TP chú thích) , hàng ngày Thế Phong được đọc báo chí của bố mua ( Tứ Dân Văn Uyển, Học Báo...) nên nảy ra ý viết văn từ dạo đó. Truyện ngắn đầu tiên đăng trên báo " Tia Sáng" của Ngô Vân, Thế Phong ký bút hiệu Tương Huyền ( Tường) vào năm 1952 ở Hà Nội.
Thời gian chiến tranh Việt Pháp, khoảng 1947- 1952 bà giáo Đức ở làng Bữu, bà mất vào năm Nhâm Thìn (1952) , lúc đó Thế Phong đã về Hà Nội học từ năm 1950.

Tháng 5/1954 Thế Phong vô Nam. Cuốn" Tình Sơn Nữ " là tác phẩm đầu tiên xuất bản ở Sài Gòn. Nhà văn có nhiều bút hiệu, nhưng chỉ bút hiệu Thế Phong được dùng chon tới ngày nay. Lúc mới vô Nam, Thế Phong cũng trải qua những ngày sống cơ cực túng thiếu, mất liên lạc với mẹ, bơ vơ giữa đất Sài Gòn, nhà văn phải bươn chải tự kiếm sống, phải nhịn đópi nhịn khát nhiều tháng ròng, đến độ không chịu nổi, đã có lúc liều lĩnh vay mượn, lấy trộm tiền bạc và máy chữ của bạn bè. * ( * coi thêm : " Thế Phong, Nhà văn, Tác phẩm, Cuộc đời" ( Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970) ( Chú thích: Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) . Ngoài bản tính liều lĩnh, bạt mạng trong cuộc sống. Thế Phong còn có một điều khá đặc biệt là ngay từ lúc nhỏ, 11, 12 tuổi ôngđã biết yêu rất sớm. Đước biết, ngoài năm người con chính thức hiện nay, ông còn ba, bốn người con riêng . (*) (* Thế Phong có tới ba, bốn người con riêng: một đứa con gái với cô Quán ở Bữu, vợ chưa cưới của một lính" partisan", một con với cô Đặng Ngọc Oanh ở Hà Nội ( sanh con ở trong Nam ) là nữ sinh giỏi Pháp văn, mối tình kéo dài gần mười năm; một đứa với chị Năm Hưởng, người ở kế bên nơi Thế Phong trọ. Cả ba người con ấy tới nay vẫn bặt tin, trong ba người con có hai là gái; ông còn một đưa nữa với cô Bảy là cháu ruột ông dượng Tỵ, chưa kể những người ông chỉ yêu thoáng qua ( Chú thích: Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) .
Từ năm 1954,phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền) , Dân Chủ (Vũ Ngọc Các), Giang Sơn ( Hoàng Cơ Bình), Tia Sáng (*) (Ngô Vân) (* đúng ra chỉ là cộng tác viên với các báo "Giang Sơn" và "Tia Sáng "mà thôi. (Chú thích- Thế Phong) . Cộng tác với các báo Đời Mới , Nguồn Sống Mới, Văn báo " Le Monde Diplomatique" (Paris, 1970), Tenggara (Mã Lai- bây giờ là Malaysia -TP chú thích) ... Đồng hóa vào Không quân Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam) tháng 8/1967 tới tháng 5/1975, trung sĩ biên tập viên.

Nhà văn Thế Phong bản tính rất ngổ ngáo song cũng rất bộc trực thẳng thắn, những nét hư tật xấu của mình ông kể hết, không chút ngượng ngùng giấu diếm. Mỗi lần nhắc tới ông, văn nghệ sĩ miền Nam rất e ngại, họ đặt hỗn danh cho ông là " nhà văn cao bồi, du côn", vì trong đời viết văn ông chưa từng nể nang một người nào(*) (* về điểm này, Thế Phong và Chu Tử ( Chu Văn Bình) giống hệt nhau, cả hai có lối hành văn khá độc đáo; giọng văn châm biếm sâu cay nhưng vẫn nghiêm chỉnh, đúng mực" ( Chú thích: Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ) kể cả thân sinh ông.
Tuy nhiên, có một điều ít ai biết, là trong thâm tâm nhà văn "Thế Phong- Đỗ Mạnh Tường" suốt đời chỉ khắc sâu bóng một người duy nhất, đó là bà giáo Đức ,mẹ ông, người ông thương yêu nhất đời. Ông ân hận lúc mẹ mất không được ở gần để vuốt mắt cho người mẹ đáng thương phải mất chồng xa con, bao năm sống hiu quạnh hiu hắt nơi làng Bữu. Ông còn nhớ lúc ở nhà với mẹ ở Bữu, thấy người ta đưa ma khóc, ông ngây thơ hỏi mẹ: " Tại sao người ta lại phải khóc ?" thì mẹ ông bảo: " Mày bất hiếu lắm con ạ!".

Năm 1966, Thế Phong lập gia đình ở Đà Lạt, lấy bà Nguyễn Thị Khê, sanh ngày 17/7/1937 ở Lạng Sơn, là con gái thứ ông bà Nguyễn Quốc Bảo (1910-1978) và bà Bủi Thị Phương Giản (1910-1990) quê ở Hà Đông, khi xưa là bạn đồng liêu, hai nhà quen nhau từ lúc ông giáo Đức dạy học ở Nghĩa Lộ. Cùng theo đạo Tin Lành(Báp Tít) . Bà Khê có tất cả tám anh chị em, nguyên là nữ sinh Trung học Chuyên khoa Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Sau khi đậu Tú tài II (1962) về Sài Gòn theo học Đại học Dược khoa được hai năm thì bà nghỉ học.

Thế Phong có ba trai, hai gái. gia đình hiện ở Tân Định, Sài Gòn I.
1) Đỗ Mạnh Tường Khê (22/11/ 1966), đậu Phổ thông Trung học năm 1984.
2) Đỗ Nhị Tường Khê (09/ OI/ 1968), tốt nghiệp Y khoa 1994.
3) Đỗ Thục Tường Khê (17/09/1969) , nữ sinh Trưng Vương. Đã đi làm.
4) Đỗ Như Tường Khê (13/3/1971) , đậu Phổ thông Trung học. Đã đi làm.
5) Đỗ Thông Tường Khê (04/10/1972) đậu Bổ túc văn hóa. Sinh viên năm thứ I trường Đại học Thủy sản.
Nhà văn Thế Phong có tới trên năm chục tác phẩm: thơ, văn, tiểu thuyết. Có một số thơ và truyện được dịch ra ngoại ngữ. Thế Phong là nhà văn rất đa dạng, viết khá nhiều thể loại, đặc biệt lả thể văn tự sự và phê bình văn học.


Sài Gòn, tháng 5-1995.
---

(*) DÃ LAN-NGUYỄN ĐỨC DỤ: 1919-2001 Sài Gòn - biên soạn gia phả, phổ trạng các nhà văn Việt Nam đương đại. Tác phẩm: " Gia phả khảo luận thực hành", " Một lối chép gia phả thật đơn giản"," Dõi tìm tông tích người xưa" vv.. Ông là người biên soạn gia phả tiên phong, được đánh giá cao ở trong nước, và cả ở quốc ngoại. Dưới đây là ý kiến rất xác đáng nhận định về công trình nghiên cứu của một bậc lão làng về gia phả học và phổ trạng trong giới văn học miền Nam"... Nguyên quản thủ thư viện Trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn, từng được "Giải văn học nghệ thuật" (miền Nam) về bô môn gia phả học. .. Cụ đang tiếp tục bắt tay vào cuốn "Phổ trạng các nhà văn miền Nam đương đại". Cụ đã làm rạng danh cho ngành gia phả học nước ta, như lời đánh giá của giáo sư Richard C. Beals trong phái đoàn Viện Đại học Brigham Young (Hoa Kỳ) trong tổ chức gia phả học quốc tế:" ... Tôi đã được xem nhiều tài liệu gia phả học của nhiều xứ trên thế giới, nhưng có thể nói đây là những tài liệu biên khảo lỗi lạc nhất..." (trích từ " Ở Sài Gòn bỗng gặp bông bí vàng", Trần Nhật Thu, Nxb văn nghệ, tp HCM 1998).

_______________________________________

(*) trích di cảo :" PHỔ TRẠNG CÁC NHÀ VĂN MIỀN NAM ĐƯƠNG ĐẠI " của Dã Lan-Nguyễn Đức Dụ.

DÃ LAN
NGUYỄN ĐỨC DỤ






© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 06.03.2010 theo nguyên bản của tác giả .
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại