Nam Định Với Lễ Hội Tháng Tám Giỗ Cha




Đó là lễ hội kỉ niệm ngày mất của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn mà người đời thường gọi ông với cái tên vừa cao xa vừa gần gũi là “Đức Thánh Trần”. Ông là con trai thứ hai của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu,mẹ ông là Đoan Túc,ở hương Tức Mạc,phủ Thiên Trường(nay thuộc xã Lộc Vượng Nam Định

Thế kỷ 13, nhân loại chứng kiến cơn lốc kinh hoàng có sức tàn phá lớn“rợ Mụng Cổ”. Từ những bộ tộc du mục ở đông Á,Quốc gia phong kiến độc tài Mông Cổ được thành lập(1206),dưới sự chỉ huy của thành Cát Tư Hãn,con cháu các đạo quân Mông Cổ tung hoành khắp nơi từ Đông Á tới Trung Âu,từ Tung Hoa mênh mông tới trung Nam Á. Đi đến đâu chúng cũng san bằng mọi thành trì,cướp sạch mọi của cải và giết hết những ai cả gan chống lại chúng.Quân Mông Cổ tung roi ngựa có thể bắt sông ngừng chảy,gió ngừng thổi,trà đạp lên quyền sống, quyền tự do của hầu hết các dân tộc trên khắp các lục địa Á, Âu.

Thế nhưng đạo quân hung nô ấy đã bị thất bại trước sức mạnh của Đại Việt không chỉ một lần mà tới ba lần,chặn đứng hẳn âm mưu của chúng không những chỉ muốn thôn tính nước ta mà còn cả các nước khác trong vùng.

Công lớn ấy của quân dân Đai Việt phải nói đến Trần Hưng Đạo.Từ nhỏ ông đã có năng khiếu về văn chương võ lược. Nhờ học được thầy giỏi nên ông có học vấn uyên thâm. Hịch tướng sĩ là tác phẩm lớn nhất của ông thể hiện tinh thần yêu nước và khí phách anh hùng của văn học thời Trần. Ngoài ra ông còn hai tác phẩm quân sự lỗi lạc là:

- Bình gia diệu lý yếu lược.

- Vạn kiếp tông bí truyền thư.

Hỏi về kế sách đánh giặc thì Trần Quốc Tuấn trả lời “Vua tôi đồng tâm, anh em hoà mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt… Nó cậy trường trận ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường tình của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cần thắng chóng thì phải chọn dùng tướng giỏi xem xét quyền biến như đánh cờ vậy, tuỳ thời tạo thế, có được đội quân lòng như cha con mới dùng được. Vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc đó là thượng sách giữ nước vậy”.

Có thể nói tư tưởng lớn đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta. Trong hội thảo khoa học thời Trần và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà 9/1995 giáo sư tiến sĩ Nguyễn Duy Quí đã viết: “Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam có lẽ Trần Quốc Tuấn là một trong số ít người có nghiên cứu kế thừa, tổng kết kinh nghiệm và sự trải nghiệm của bản thân viết thành sách nhằm phục vụ riêng cho sự nghiệp bảo vệ bờ cõi Đại Việt”.

Với công lớn của ông trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, với đức độ và tấm lòng trong sáng, luôn đặt lợi ích của quốc gia, của dân tộc lên trên hết. Năm Kỷ Sửu (1289) nhà vua xuống chiếu tiến phong Hưng Đạo Vương làm Đại Vương. Tên tuổi của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã gắn liền với những chiến công hiển hách ở Đông bộ đầu, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp và Bạch Đằng giang. Ông là vị tướng nhân, tướng nghĩa, tướng dũng, tướng tín, là ngôi sao sáng chói giữa trời nam và mãi mãi còn đó cùng non sông đất nước. Ông mất ngày 20/8 Canh Tý tức 5/9/1300 tại phủ Đệ Vạn Kiếp được triều đình phong tặng danh hiệu “Thái sư thượng phụ thượng quốc công nhân vũ Hưng Đạo Đại Vương”.

Lịch sử Việt Nam hơn 700 năm qua luôn luôn tôn vinh ông là vị anh hùng dân tộc. Không dừng ở đó nhân dân còn suy tôn ông là bậc thánh nhân “Sinh vi tướng tử vi thần”. Khi làm tướng ông được nguồn sức mạnh tinh thần và nỗ lực của nhân dân vô cùng cao quí đã chầu qui vào mình bao nhiêu để từ đó làm lên sóng gió Bạch Đằng thì khi làm thần nhân dân bốn phương cả nước lại tìm đến ông mỗi khi họ có công to việc lớn, buồn vui trong đời, nhất là những lúc ốm đau, hoạn nạn đều mong người ra tay cứu giúp.

Năm 1984 Hội Hoàng gia nước Anh đã tổ chức phiên họp gần 478 nhà khoa học quân sư các nước để lựa chọn tướng soái lừng danh thế giới xếp vào danh mục từ điển. Trần Hưng Đạo được 100% số phiếu bầu là một trong 10 tướng giỏi nhất thế giới. Người đánh thắng kẻ thù mạnh nhất thế giới, thời trung cổ chỉ có mình ông.

Đền thờ Đức Thánh Trần được lập khắp nơi trong cả nước. Không chỉ riêng ở Kiếp Bạc, Trần Thượng và quê hương Bảo Lộc mà ngay đền Ngọc Sơn, đất thiêng giữa thủ đô Hà Nội cũng là đền thờ Hưng Đạo Đại Vương. Quê hương Nam Định cũng có đến 156 đền. Ngoài đền Cố Trạch, Bảo Lộc đền Nam Trực ở Trực Khang, Trực Ninh được đánh giá là một di tích lớn trong vùng phía nam tỉnh. Đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá. Đây là ngôi đền được nhân dân xây dựng từ thời hậu Lê. Hiện câu đối ở tiền đường còn nói lên điều đó:

Nhị bách niên trần thất dĩ lai duệ chí anh linh danh thượng tướng
Thiên vạn cổ Việt Nam nhi hậu thông minh chính trực vị tôn thần.


(hai trăm năm nhà Trần đến nay trí dũng anh hùng ngôi thượng tướng
Ngàn năm vạn thuở Việt Nam tiếp tới thông minh ngay thẳng vị tôn thần)

Nhà tế và long các được xây dưng từ thời Nguyễn :

“Điện các sinh lương hoàng Bảo Đại thập lục niên đổng lương tráng lệ
Lâu đài ngật lẩpTần Thánh Triều thiên vạn tảI miếu vũ nguy nga”

Trên vòm cổng nghi môn có ba chữ “Vạn Vọng Phu”(mọi người trông lên đó mà noi theo). Nhà tế được thiết kế nhiều vòm tròn cung cong bằng bê tong cốt thép kết hợp với hệ thống cột đỡ tạo lên thế uy nghi vững trãi.Tiếp nhà tế với tiền đường là khu sảnh lớn,một cảnh thiên nhiên thu nhỏ được đắp bằng đá,nổi bật là hòn núi thế “Ngũ lão long đình”(năm cha con bàn việc triều đình) mà sử đã ghi lại,3 trong 4 người con của Trần Hưng Đạo cũng là những danh tướng chống Nguyên Mông như Hưng Vũ Vương Nghiên, Hưng Nhương Vương Tảng,Hưng Trí Vương Hiện. Mặt tiền cung chính,từ bậc tam cấp,cột ,xê nô, cho đến lưỡng long chầu nguyệt ở phần chắn máI đều được làm bằng đá.Tử long các trở vào ,có đến ba chục câu đối và hàng chục đại tự,hoành phi.Có câu chữ được nhấn vữa trên mặt cột, có tám câu được trạm nổi trên cột đá,có nhiều câu được sơn son thếp vàng hoặc khảm ngọc trai trên nền gỗ. Bốn chữ “Cao danh thiên cổ”trên bức hoành phi chính được viết to với nét chữ 10cm làm cho mọi người nhớ đến công lao vị anh hùng có tài võ công văn trị đã từng chấn kình ngư sóng dữ ở Bạch Đằng giang ,cho đến khi xã tắc yên vui mới dừng chân thạch mã.

Pho tượng Trần Hưng Đạo bằng đồng,nặng hơn 300kgđược sơn son thếp vàng, nét mặt hiền hậu tươI vui,đặt trong cỗ ngai khung kính,bên trên có rồng chầu mặt nguyệt sơn son thếp vàng ở trong cung cấm. Đằng trước là nhang án gỗ có niên đại từ thời Lê, cao1,65m rộng 0,6m, dài 1,8m chính giữa tram nổi rồng ,chân thanh mảnh trạm long giáng.Trên nhang án để bát nhang đồng loại cổ hình chữ nhạt cao 0,5m, phía trước đúc nổi lưỡng long chầu nhật,phía dưới vòng quang đúc tứ linh.

Đặc biệt hai toà trung đường và tiền đường làm hoàn toàn bằng gỗ lim. Hoành, xà, kẻ bẩy, câu đầu được trạm trổ tinh xảo. Những con rồng nổi bong lên uốn lượn dập dờn trước con Phượng đang xoè cánh như chực bay lên kết hợp với hoa văn trên cột đá xà lim mô tả những hình tượng độc đáo của bản sắc văn hoá dân tộc Việt xưa. Hai bên nhang án cùng với hai con ngựa gỗ cao 1,9m có kích thước cân đối trông vừa khoẻ mạnh nhẹ nhàng, yên được trạm trổ công phu sơn son thếp vàng đặt trên mình ngựa trắng. Bben cạnh là hai hàng chiêng trông gươm đao mã tấu,bát biểu ,chấp kích nghiêm trang như những hàng quân đang sẵn sàng đợi lệnh. Hai bên tả hữu là bậc thềm để các loại kiệu bát cống, long đình,đầu sư tử và những đồ lễ cụ để hàng năm cứ đến ngày 18,19,20,tháng tám âm phục vụ cho việc làng vào hội. Đặc biệt ở đây khi làng mở hội thì chỉ có người về chứ không có người đI,dù bất công to,việc lớn gì cần thiết cũng không bỏ ngày tháng tám giỗ cha.

Cùng với đền Cố Trạch Thiên Trường, một quần thể di tích Trần,chùa Tháp, đền Bảo Lộc,lăng Trần Hưng Đạo, đền thờ Trần Quang Khải, tháI sư Trần Thủ Độ tạo thành vòng tròn khép kín cho khách thập phương cả nước về lễ thánh ngay từ những ngày đầu tháng tám.

Nếu như nhân dân Kiếp Bạc rước kiêụ Đức thánh Trần ra bờ sông Thương (còn gọi là sông Lục Đầu,thời Trần có tên là Bình Than),để ngài duyệt đua thuyền , xem thuỷ quân tập trận và diễn lại tích xưa trên sông bạch Đằng,thì ở đây nổi bật nhất trong lễ hội là rước thánh quanh làng. Với nghi thức ngày rước gồm có:Cờ, dùi đồng, phủ việt, bát biểu, biểu lệnh, kiệu bát cống, long đình. Những nam thanh nữ tú,được dân làng giao vác đồ nghi trượng,khiêng kiệu đều ăn mặc gọn gàng nghiêm túc.Nam thường mặc quần trắng, áo dài đen,đầu chít khăn thủ rìu, ngang lưng thắt khăn đỏ. Nữ mặc áo dài thắt lưng xanh (cô kia thắt dảI lưng xanh, có về Nam Định với anh thì về).Các già trong hội Phật tử mặc áo dài, cầm ô màu, trông như những đàn bướm khổng lồ, muôn màu muôn sắc, cao thấp dập dờn. Các đội tế nam quan , nữ quan trong làng ,ngoài xã mặc đồ tế đI cùng các đội bát âm ,sư tử,mứ rồng ,đánh trống thi nhau đua tài biểu diễn trên đám rước dài hàng cây số đI từ đầu đến cuối làng ,dọc theo Duyên giang và ngược lại.

Nhân dân già trẻ trai gáI, đứng chật hai bên bờ sông tay cầm cờ hoa vẫy chào Thánh. Đặc biệt nhà nào ở hai bên đường cũng bày và trang hoàng rất đẹp bàn lễ bái vọng thánh. Đội múa rồng, sư tử và ông chủ đám rước kể cả kiệu Thánh đều phải dừng lại trước mỗi bàn lễ vọng để chứng kiến tấm lòng của người người, nhà nhà nghĩ về thánh Cha đã hiện lên trên câu đối giữa đền làng mình:

Bình tặc thiên thu lưu chính khí
Duyên giang vạn cổ mộc hồng ân
Dẹp giăc ngàn thu tiếng thơm còn mãi
Sông Duyên muôn thuở tám gội ơn sâu

Ngoài ra , lễ hội còn có các trò chơi dân gian như: tổ tôm điếm, cờ người,đu quay….Trong những đêm mở hội, còn được các gánh hát ở nhiều nơI về biểu diễn góp vui rất tưng bừng cho đến tận đêm khuya làm cho ngày hội sôi nổi ở quê hương chưa xong đã mong đến năm sau lại hội./.

. Đăng ngày 22.07.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .