TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN VĂN HOA


Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).












Ô Quan Chưỏng - HàNội


GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM


. PHẦN THỨ 4 .



Có thể chia ra ba thời kỳ :
- thời kỳ dùng chữ Hán Nôm cuối thế kỷ 19 và
- thời kỳ dùng chữ quốc ngữ Thời kỳ đầu thế kỷ 20
- thời kỳ dùng qúôc ngữ và ngoại ngữ mở cửa cuối thế kỷ 20 và chạm đầu thế kỷ 21.
Truyện cổ tích đồng tiên Vạn lịch của Lan Khai thật xúc động : Ngày xưa có một anh lái buôn giàu sụ , tên là Vạn lịch . Nghề đời trong tay đã sẵn đồng tiền, người ta hay nghĩ đên sự đổi thay còn có ghi lại những đoạn đối thoại giữa vợ Vạn lịch với người đánh giậm ( Tiên Dung thì gặp Chử đồng Tử anh đánh cá ) như sau :
Này ,bác hãy mặc tạm cái áo này kẻo rét quá chịu sao nổi! ồ ,có cái gì bác nói ơn huệ ngưòi ta cứu giúp nhau đồng lần mà thôi. à , đồ voi giày , tao chỉ ngồi cách có mấy gang tay mà mày dám công nhiên nói chuyện với trai thì ghê gớm thật !
Lan Khai viết tiếp
Này bác ,việc xẩy ra bác đừng buồn .Tôi đã hiểu ý chồng tôi muốn thay lòng đổi dạ từ lâu. Cái việc tôi cho bác áo chỉ là một cớ để hắn làm toại ý riêng mà thôi .ta có nghĩ ngợi buồn rầu cũng vô ích .Nhưng , bây giờ ,cớ sự đã đến thế này ,thôi thì ta lấy nhau vậy . Biết đâu chẳng phải ý Trời sắp đặt. Và Lan Khai kết thúc bằng bài thơ :
Đồng tiền Vạn lịch thích bốn chữ vàng
Công em ăn ở với chàng đã lâu
Đã không tình trước nghĩa sau
Bạc đen hẳn có trên đầu xét soi
Giòng sông , nước lặng lờ trôi
Mà thiên trường hận muôn đời còn ghi.
Những lời thoại và bài thơ kia đúc kết đựơc triết lý sâu xa kẻ một lái buôn trải qua nhiều bi hài kịch.(Tao Đàn trang 248 -249 số 3 - 1939 ).
Thời kỳ Thương nhân Hà nội còn dùng văn tự Hán Nôm để giao dịch.Trong tay tôi có cuốn Từ Hàn cử ngu dịch quốc ngữ Tàng thư ở Tổng kho Phát Diệm năm1907 .Cuốn sách này do Cụ Vũ Văn Kính tặng tôi . Cụ là tác giả trên 50 đầu sách Nôm Hán , ví dụ như cuốn Dạy học chữ Nôm , Đại tự điển Nôm ...sách này chỉlàmmẫu chokẻ íthọc,nên những mẫu soạn ra là những mẫu nhời nhẽ chất thực , bình thường cho dễ hiểu . Tôi nghiên cứu thấy có ích cho việc nghiên cứu việc buôn bán của tiền nhân. Dưới đây là một mẫu đơn Bán đoạn điền thổ cho người ngoài :
Vợ chồng Nguyễn( Mỗ ) vì túng tiêu ( hoặc chưa kịp liệu tiền tiêu .Vậy có tưđiền ( hoặc tư thổ cha ông để lại hoặc mới tậu ( mấy ) mẫu sào ở xã nhà ( hoặc ở xã nào xứ đồng nào đông tây nam bắc cận ai , 4 mặt y như trong khế , nay đem bán đứt cho vợ chồng Nguyễn ------- (mỗ ) là người bản xã ( hoặc xã mỗ ) giá bạc mấy đồng ( hoặc tiền mấy quan ) theo ngày làm văn khế gioa lĩnh đủ cả . ruộng ( hoặc thổ ) bán ấy thật là của Nguyễn ( mỗ ) ( tên chủ bán ) bằng man trá cứ truy nguyên ,chẳng can thiện đến chủ mua . Từ khi làm văn khế đoạn xin tài chủ ( kẻ đã xuất tiền mua ) nhanạ ;àm nộp thuế để truyền lại cho con cháu làmcủa mình mãi .Cứ phép nước làm văn khế để chiếu dụng .
Mẫu văn khế tiếp theo : Lê ( mỗ ,bởi vì thuế cấp đến không lấy gì nộp được ,có (mấy ) mẫu sào tư điền ( hoặc tư thổ ) ông cha để lại ( hoặc mình tậu ở xã nào , xứ đồng nào ,4 mặt cận đâu , giới mốc y như trong khế .Nay đem cố cho Nguyễn 9 mỗ ) ở xã nào , giá tiền ( bạc ) bao nhiêu , Lê ( mỗ ) nhận lấy tiền ( bạc ) ấy nộp thuế , xin tài chủ nhận lấy điền ( thổ ) ấy cày cấy mỗi năm chiết huỷ đi bao nhiều tiền ( bạc hẹn (mấy) năm huỷ hết tiền ,ruộng lá cho chủ điền ( hoặc hẹn mấy năm từ năm nào đến năm nào , đem số tiền ấy xin thục ) không được cố chấp , nhược bằng quá hẹn , xin tài chủ cứ chiếu khế mà làm nộp thuế , không dám sinh tình cách nào . Ruộng cố ấy thật là của Lê ( mỗ ) không dam man trá , cứ phép nước làm văn khế để chiếu dụng .( Phải nhớ : Công điền chỉ được cố ba năm , hết ba năm phải hoàn dân quân cấp .0
Đây là văn tự bán nhà ( Mỗ ) vì túng tiền có ( mấy )nhà ( hoặc cha ông để lại cho mấy nhà hoặc một toà nhà mấy cái ,mấy gian làm bằng gỗ lim ( hoặc gỗ xoan , gỗ tạp ,luồng ) và tre nứa ,lợp bổi dạ , cỏ gianh , ngói hoặc có đá tảng nữa ( hoặc 4 bề cửa vách ,hoặc liệt bản cả ,nhà ở hướng ( nào , đông tây nam bắc ) nay đém bán cho( mỗ ) xã ( mỗ) giá tiền ( bạc bao nhiêu ) theo ngày làm văn khế gioa nhận đủ , nhà ấy giao cho tài chủ 9 chỉ kẻ mua , có xuống đem về dùng việc gì mặc ý , có man trá xin đền , cứ phép nước làm văn tự chiếu dụng.
Đây là văn tự bán trâu bò : ( Mỗ) vì túng tiêu ( chưa kịp liệu , tiền tiêu sinh cơ lập nghiệp nộp sưu thuế có ( mấy ) con trâu (bò ) đực ( cái) mình đen tuyền ( hoặc nhuộn ,nhuộm hoặc vàng ) mấy tuổi 9 già yếu , gẫy xương , không làm được nữa ) . nay đem bán cho ( mỗ ) ở đâu , giá tiền ( bạc ) bao nhiêu ( mỗ ) nhận lấy tiền ấy đem về tiêu dùng ( nộp thuế 0 trâu ( bò ) ấy giao cho chủ mua giắt về cày bừa 9 làm thịt ) làm của mình mãi , trâu ( bò ) bán ấy là của ( mỗ) không man trá gì , cứ phép nước làm văn khế để chiếu dụng .
Văn tự bán ngựa :(Mỗ )làm nghề buôn bán trâu ngựa . Vậy tôi có mua được ngựa tốt ( mấy ) tuổi mình toán ức đen ( tía , hồng ,lem ) mình có mấy khoáy , nay bán cho ( mỗ ) bao nhiêu ) bạc ( tiền) ( mỗ ) nhận lấy bạc ( tiền) ấy đem về tiêu dùng , ngựa giao cho chủ mua ,bằng có gian dối cách nào xin đền . Cứ phép nước làm văn khế để chiếu dụng.
Văn tự bán thuyền ván : ( Mỗ ) vì túng tiêu làm ăn .Có tậu được một chiếc thuyền ván ,về dài 9 mấy thước hoành then . có cả bài thuế , đồ làm thuyền các cái .Nay làm giấy bán cho( mỗ ) ở ( đâu 0 giá ( bao nhiêu ) bạc 9 tiền ) ( mỗ ) nhận bậc sịnh nghiệp , thuyền thì giao cho tài chủ nhận chở dùng , bằng gian trá xin đền , Cứ phép nước làm khế để chiếu dụng.
Tờ bán con : Phan ( mỗ ) có một đứa con giai ( hoặc gái ) tên là ( Mỗ ) nhà nghèo lắm không lấy gì nuôi được .Nay đem bán cho ( mỗ ) là người xã ( mỗ 0 làm con nuôi Phan 9 mỗ ) nhận bạc ( bao nhiêu ) đem về ăn tiêu làm văn khế rồi mà đi , xin tài chủ nhận lấy mà nuôi nấng dậy dỗ như con mình vậy . Bằng ngay sau sám sinh lòng quyến dụ thế nào ,xin cam cữu . Cứ phép nước làm văn khế chiếu dụng .
Tờ bán nhiêu : ( Mỗ vì việc làm tờ thuận .Vậy bây giờ đang độ sưu thuế khẩn ,trong làng phải lúc mất mùa mấy năm liền thật là túng ngặt cùng đinh bỏ đi nơi khác kiếm ăn . ,bố thí có thu thì không . Bây giờ số bạc còn thiếu ( bao nhiêu ) không vay đâu thế vào được , nên cứ như tục trong làng : ai bỏ của giúp dân lúc túng, hễ được ( bao nhiêu ) tiền thì cho ngôi thứ bằng hạng lý trưởng cựu vân vân .Nay nhà được ( mỗ ) là người dân ứng ra ( bao nhiêu ) tiền bạc hàng xã nhận để nộp thuế cho xong đang lúc cần kíp . vì vậy thuận làm tờ , từ nay về sau ra chốn đình trung hội hợp ( không phải họp NVH ) ngồn ngồi thì được dự vào dưới hạng chức sắc , chớ sai nhời làng đã kết ước .Nay làm tờ thuận .
Về vấn đề trên còn có hai mẫu khác :( Mỗ ) vì việc làm tờ thuận .Vậy cứ như tục làng hễ khi dân có việc phải tiêu mà trong làng ai có lòng tốt , bỏ của ra giúp dân trong lúc cần kíp , thì làng cho làm nhiêu nam lót đời ( lót = suốt đời ? NVH ) ( hoặc ) cho làm tri xã ,năm nay đói khát dân túng ngặt . Có người ( mỗ ) trong dân bỏ ra cho vay ( bao nhiêu tiền ,lúa ) làng nhận lấy cấpchodân đỡ lúc cần kíp , bây giờ không biết bổ vào đâu mà lã ? được .Vì vậy làm tờ thuận cho tên ấy làm nhiêu nam ,đừng kể bạc sưu , hương ẩm cùng chịu vuối ( với NVH ) dân ,còn các việc tạp phần hộ thì tha lót đời . Vì vậy bằng lòng làm tờ gioa cho tên ấy làm bằng cứ .Nay lam,ftờ thuận .
Mẫu khác : ( mỗ ) làm tờ thuận .Vậy khi trước làng có sửa toà đình vũ ( hoặc nhà thờ ) có người trong dân là ( mỗ ) cholàng vay ( bao nhiêu) tiền làng đã làm giấy nhận cho đủ tiêu nay phải năm mất mùa không bổ mà là được .Vì vậy làm tờ bằng lòng bán tri xã cho tên ấy đừng kể bạc sưu phải chịu đã vậy , còn các việc về hộ hạng và ngôi hương ẩm thì cứ theo như lý trưởng cựu .Không được nói gì trái lời làng đã ước . Nay làm tờ thuận .
Mẫu " hợp đồng "trên cũng là một dạng mua bán còn lưu lại .Nó giúpcho chúng tanghiên cứu "lời ăn tiếng nói "trong dân gian Việt nam hồ đầu thế kỷ 20 ( 1907 ) . đây là những vật có giá trị lớn : ruộng ,đất , nhà , trâu , bò , thuyền .Hoặc giả bán con , hoặc giả mua chức nhiêu trong làng . Nội dung thường có :
- Đối tượng hợp đồng : Bên bán , bên mua kèm theo địa chỉ
-Hàng hoá mua bán (ruộng ,đất , nhà , trâu , bò , thuyền .Hoặc giả bán con , hoặc giả mua chức nhiêu trong làng .
-Giá cả
-Trách nhiệm và quyền lợi của bên mua và bên bán
- Chế tài bên mua bên bán ( hàng mình bán là sở hữu của người bán ,Nếu sai thì theo phép nước mà xử ).
- Hiệu lực của hợp đồng : khi giao tiền ( bạc ) cho bên bán và nhận hàng hoá bán ( ruộng ,đất , nhà , trâu , bò , thuyền .Hoặc giả bán con , hoặc giả mua chức nhiêu trong làng).
Nghiên cứu lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội rất quan trọng ,nó là một bộ phận trong lời ăn tiếng nói của người Hà nội . Tác giả rất đồng tình với i mã được những ca dao, tục ngữ thành ngữ liên quan đến nghề lái buôn ở Việt nam.
Theo Tô Hoài về lời ăn tiếng của lái buôn Hà Nội : Theo Tô Hoài thì tiếng Hà nội ang áng với khu vực những "ba sáu phố phường " đời trước . ,tiếng Hà nội là tiếng Kẻ Chợ .người địa phương nào trong nước đến Hà nội , đầu tiên nói tiếng giọng quê mình , nhưng đến đời con cái thì trong nhà nói hoàn toàn nói tiếng Hà nội .Theo Tô Hoài thì vùng ngoại ô nam thành phố , từ Thanh trì đến Pháp Vân ,lớp người trung niên , và cả nam nữ thanh niên nữa , nói ngọng chữ n thành la và chữ l thành n.Phường phố Kẻ Chợ từ xa xưa tới nay vẫn nói giống nhau . Tiếng Hà nội được chung đúc lại do tinh hoa của tiếng nói giọng nói của người cả nước tới , có sức hút mạnh mẽ đến nỗi tiếng địa phương nào về Hà nội rồ cũng xam nước , xam giọng , cuối cùng pha thành tiếng Hà nội. Cũng theo theo Tô Hoài thì người Hà nội không biết "làm dáng " trong cách nói . Không nên lẫn lộn khi thấy trong xã hội cũ , mấy cô tiểu thư con cái các nhà quyền quý thích nói õng ẹo , nũng nịu , mấy bà nhà giầu tổ sư khinh người nói giọng đài các , chỏng lỏn , cong cớn , chuyên vừa nói vừa chống tay , vác mặt lên , hoặc quen dài giọng quát tháo thằng nhỏ con sen .Người Hà nội không phân biệt được những ân tố Tr , ch , s , x Ngôn nhữ là vật chứng sống làm tấm gươngcắt nghĩa được tioàn n bộ quá trình lịch sử xã hội qua các đời , từ khi loài người có tiếng nói.Có tiếng đi chết rồi lại sống lại , như tiếng phe .Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai ,quãng trước sau 1940 ở Hà nội đã thấy có.
Nhưng ngày ấy người ta nói " áp phe " ,một áp phe , làm áp phe ( affaire tiếng Pháp nghiã là vụ việc thường chỉ buôn bán ). Nay nói gọn đi phe,mụ phe ( lại biến dạng thành con phò ,mụ phò ) và đôi khi thêm "phảy " - bởi chữ phảy - hiểu là dấu phảy chỉ tắt dấu bạc .Giọng của người bình thường , đông đúc , hầu như tuyệt đối , những người ngụ trong nội thành vùng 36 phố phường cũ . Tiếng nói người nơi đô hội này không pha vùng nào , rành rõ , chững chạc , khoan thai , sáng sủa. Tiếng ấy và giọng ấy chính là giọng chính của tiếng Hà nội bây giờ .TheoTô Hoài rhì hiện nay tiếng Hà nội cũng là điệu "nói õng ẹo , ẻo lả ".Tô Hoài cho rằng tiếng Hà nội cần được "thuần khiết, chính xác , thanh lịch " để sánh đối với đời sống văn hoá và tư tưởng của thời đại .Chửi nói tục đâu phải là sản phẩm của thành phố ,nó là những câu cửa miệng của bọn đầu đường , xó chợ , xã hội cũ. Bây giờ lối ăn nói lưu manh ấy trước tiên vẫn nảy sinh từ những người chạy chợ buôn lậu , những người rực của đàn đúm phè phỡn rồi lan đến cả trẻ con không biết , ngỡ đó là hay .
Theo cuốn Nhớ và Ghi của Nguyễn Công Hoan ( NCH ) do Nhà xuất bản tác phẩm mới Hà nội 1973 thì lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội cũng có nhiều vấn đề rất đáng quan tâm .Theo NCH thì thời Pháp thuộc học sinh chỉ cần học lịch sử nước Pháp ,không cần học lịch sử Việt nam ( Tr.9 ). Hồi Tây mới sang , nếu muốn dịch những tiếng mới , ta không dùng chữ Hán : Nhà giaAy thép, đánh giây the4ps, ( điện tín ) , giấy thép gió ( vô tuyến ) , bỏ giấy ( giấy tố cáo ), ngwoif chạy giấy , cô đỡ, thầy cãi hoặc thầy kiện, mõ toà , thương lây ( bệnh viện cách ly ) ( TR.110 );Xe ô tô lục đầu ngwoif ta gọi là xe khí , xe cồn , xe tô-vin , trong nam gọi là xe hơi ,hoặc tự động xa. ( tr.112 ).
Tôi đồng ý với Tô Hoài là tiếng Hà nội nằm ở 36 Phố cổ , nhưng theo thiển ý của tôi có lẽ phải kể đến Phố Tràng tiền ( Bùi Thiết Từ Điển Hà nội Nhà xuất bản văn hoá - Thông tin Hà nội 12-1993 trang 452) . Phồ Tràng Tiền được xây vào năm 1886 ( 2 năm sau thì Hà nội thành nhượng địa của Pháp ) . Tràng tiên xưa là đất thôn Tây long , Trung liệt ( Tổng Tả Túc ) , thôn Cựu Lâu ( Tổng Hữu Túc) và Bảo Toàn Cục đều thuộc Thọ Xương cũ . Trước năm 1945 có các tên gọi : đoạn đầu đến Nhà hát lớn gọi là Phố nước Pháp , đoạn còn lại cho đến phố Hàng Khay là phố Pon Be . Sau đó đổi phố nước Pháp thành phố Đồn Thuỷ , phố Pon Be chia làm phố Tràng tiền và phố Hàng khay. Những năm Pháp chiến lại Hà nội gộp phố Đồn THuỷ và Tràng tiền cũ làm phố Pháp Quốc. Năm 1954 gọi là Phố Tràng tiền . Theo Bùi Thiết giải thích sở dĩ có tên gọi vì phố đi qua Tràng Đúc Tiền của nhà Nguyễn . Tại phố này đã có "Bách hoá Tổng hợp Hà nội" có từ đầu thế kỷ 20 , nơi giao nhau của Tràng tiền -hàng Khay - Hàng Bài - Đinh Tiên Hoàng được xây dựng từ thời Pháp thuộc ( nhà văn Vũ Trọng Phung , Ký con một yếu nhân của phong trào Nguyễn Thái Học đã từng làm việc ở đây) và Bách hoá Tổng Hợp Tràng tiền hoạt động không ngưng nghỉ ( trừ mấy năm đập đi để cỏ mọc hoang vào những năm 90 của thế kỷ tràn ngập ảo tưởng thu hút vốn đầu tư của liên doanh với nước ngoài), nhưng bước sang thế kỷ 21 không cần vốn nước ngoài và chỉ bằng 100 % vốn trong nước đã xây lại nhưng vẫn lấy lại kiến trúc mặt tiền thời Pháp thuộc cũ , ở đó cũng là một trong những nơi hun đúc nên tiếng nói của thương nhân Hà nội qua rất nhiều thời kỳ lích sử.
Như vậy ngoài 36 Phố cổ theo tôi lời ăn tiếng nói của Hà nội không nên bỏ qua lời ăn tiếng nói của thwong nhân ở các chợ( Hà nội có trên 100 chợ cố định , 100 chợ "cóc", chợ tạm , chợ Đêm . Trong đó phải kể đến chợ Đồng xuân và các chợ khác tác động mạnh đến lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội. Ngoài 36 Phố cổ ( theo Tô Hoài ) , Bách hoá Tổng hợp Tràng Tiền , hàng trăm chợ theo tôi cần tính đến lời ăn tiếng nói của trên 50 siêu thị bố trí khắp các phố phường Hà nội đang hàng ngày chi phối lời ăn tiếng nói của thươg nhân với một tầng lớp dân cư không nhỏ của Hà nội. Lời ăn tiếng nói loại này vừa giữ được tiếng nói truyền thống của 36 phố phường , vẫn như Bách hoá Tổng hợp và chắt lọc tiếng nói tinh hoa ở các chợ .
Ngày nay Hà nội đã có 417 đường phố trong nội thành với tổng chiều dài 251.690 mét có diện tích 2.627.730 m2 hè phố. Riêng phố Hàng Bông đã có 89 cửa hàng kinh doanh .Phường Láng Hạ có 3 vạn dân với diện tích chỉ một km2 mà có đến 20 văn phòng đại diện nước ngoài . Chợ Láng hạ A và Láng Hạ B có 500 hộ thương nhân kéo theo 70 lao động phục vụ ở bãi giữ xe và trong chợ . ( theo cuốn Những bông hoa đẹp tập 9 Nhà xuất bản Hà nội 2002 ). Rõ ràng lời ăn tiếng nói của thương nhân đã khác năm 1888 .
Theo Tao đàn 1939 trang 407 có bài Tiếng Nam phải giữ tinh thần riêng của tioếng Nam ( tẻ. 406-407-408-409-410 ; hơn cả hẳn là câu này lấy ở Truyện Lục Vân Tiên : Vợ Tiên là Trực chị dâu ; Nếu không xem cả truyện đố ai hiểu được Tác giả ( Nguyễn đình Chiểu ) muốn nói vợ Tiên là chị dâu của Trực ; Những lối nói bắt chước chữ nho như vậy đến này ( 1939- NVH ) đã mất hẳn . Theo Tác giả này thì Ngót mấy trăm năm , bao nhiêu tre con , đầu cọ trọc , đã ngu ngơ dưới oai quyền những ông đồ cầm roi những câu : Thửa công đức ấy ai bằng ( Nguyễn Du ) . Cả thiên tài của Nguyễn Du không vớt được một chữ thửa . Thiên tài cũng phải cúi đầu trước những phép tắc tự nhiên của ngôn ngữ. Tiếng ta tuy bao nhiêu thế kỷ chịu ảnh hưởng chữ Nho mà vẫn giữ được tinh thần riêng của nó. ( tr. 407 ); Tác giả này còpn nhận xét : Có lẽ ông Xuân Diệu nghĩ trong tiếng Nam từ trước đến nay không có ẩn dụ , nên ông mới phaỉ đi mượn các chế ẩn dụ ở tiếng Tây . Nếu như vậy thì ông lầm . Nhưng theo tác giả này : Tôi vẫn biết tiếng Nam có thêr bắt chước theo tiếng Tây . Vì có nhiều lối nói không riêng gì tiếng Tây . Có khi bắt chước cũng có duyên . ông Xuân Diệu có khi đã đi quá hạn. Nhưng tôi vội nói thê4m rằng những sự lầm lỗi ấy không đến nỗi làm mất giá trị tậo THơ THơ của Xuân Diệu . ( Tr.410 ).Qua đây chúng ta thấy ảnh hưởng thơ Xuân Diệu ( 1939 ) đã đi vào đời sông dân thành thị , trong đó thương nhân Hà nội . Tức là cách nói có cách ky chữc Nho và vận dụng tiếng Tây vào giao tiếp hàng ngày .
Theo Nguyễn Triệu Luật năm 1939 ) thì Mỗi dân tộc có một cách vận chuyển , phô diển tư tưởng riêng Cách vận chuyển phô diễn ấy là tinh tuý riêng của một ngôn ngữ , một dân tộc . mất quốc hồn đó. Lan KHai cho rằng : Một ông giáo dạy Pháp văn càng thạo bao nhiêu thì sức phá hoại của ông càng tai hại bấy nhiêu, và mỗi một câuu ông giảng , là một nhát buá bổ vào hồn nước( Tr.390 ). ông vạch : Một ông giáo dạy môn quốc văn là lại không tập - toẹ đôi ba tiếng Pháp , thì dù ông ấy giỏi quóc văn đến đâu nữa , học trò cũng coi thường . Qua đó thấy ảnh hướng văn hoá Pháp đến thị dân và trí thức Việt nam thời dddos ( 1939 ) là không nhỏ . THương nhân chắc chắn cũng bị vòng cương toả này .
Phạm Quỳnh trong bài Việc chấn hưng tiếng Việt ( tr.249 ) năm 1922 trong cuốn Việt văn độc bản ( lớp đệ nhị ) . In lần thứ nhất 1961 Bộ Quốc gia Gaío dục xuất bản của đàm xuân Thiều - Trần Trọng San Giáo sư trung học Chu Văn an ; PQ cho rằng Theo một cái ý kiến cũng thịnh hành , thời tiếng An nam chẳng qua là một cái thổ âm , và dần dần phải tỉêu dọt đi , để cho tiếng Pháp thế vào , chữ Pháp sau này sẽ là cái văn tự công trong nước , cũng như chữ nho ngày xưa . Nhiều người tốt bụng quá tưởng rằng đến ngày nào hết thảy con trẻ An Nam biết nói tiếng Tây cả thời ngày ấynước Nam sẽ bước được một bước lớn trên con đường tiến boọ. Chúng tôi thiết tưởng rằng cái ý kiến aays dẫu quảng đại thật, nhưng thật là sai lầm , hoặc là thật thà quá và không thích hợp với sự thực . Một thứ tiếng nói của mười tám triệu con người ( 1922- NVH ), trong báo nhiêu thế kỷ đã chống giữ được với tyiếng Tàu, tuy có minj chữ Tàu nhiều , vì một phần là do ở chữ Tàu mà ra , cũng như tiếng Pháp là do chữ La tinh mà ra, những vấn giữ được cái thể cách riêng ; lại tuy rằng không sản đwowcj một cái văn chương phong phú , vì kẻ thượng lưu học thức quá ham mê cái cổ học của Tàu mà không hề rèn tập đến tiếng quốc âm cuả mình, song như tôi đã chứng các ngài xem đó, cũng có cái đặc sắc , cái phong phú , cái vẻ đẹp riêng , một thứ tiếng như thế quyết không phải là một thổ âm bất thành hình. Một thứ tiếng như thế đáng sinh tồn lắm , đáng có một cái địa vị lớn hơn , một cái địa vị xứng đáng trong sự học ban bố cho cái dân đã sinh sản ra nó, sự học ấy hiện nay hình như không biết đến cái tiếng ấy là gì cả. NGười ta thường nói một dân sống về tiếng nói , nếu quả như thế thời dân Việt nam chúng tôi quyết muốn sống đây , vậy quyết muốn bảo tồn lấy tiếng quốc âm của chúng tôi và tuỳ sức luyện tập cho nó phong phú thêm ra . Chúng tôi muốn tiếng Pháp lan rộng ra mà không phương hại đến tiếng quốc âm của chúng tôi.( Tr.250 ).NHững ông tú , ông cử , ông nghè , hay là ông kỹ sư gì nữa khi về đến nước - nói ra thì xấu hổ mà thật thế - đến tiếng nước mình cũng không nói được nữa , về nước nhà mà hình như khách xa lạ vậy , như thế thì phỏng có ích lơụi gì cho nước không ? PQ cvòn rỉa rói đanh đá : Chẳng qua là giống yểng khéo dạy mà thôi ; giống yểng ấy , chúng tôi không muốn làm gì , các vàng chúng tôi cũng không muốn ( tr.257 ).
Cũng theo PQ trong diễn văn : " Sự tiến hoá về đường tinh thần của người An Naam từ khi nước Pháp đặt bảo hộđọc tại TRường thuộc địa Paris ngày 31-5-1922 . ( 248 ), theo PQ thì người Pháp đã sang kịp thoì để giúp sức thêm cho nước ta thoát khỏi sự dung hoà vào nước Tàu . ( tr.248 ). hoá vầo nước Tàu ( Tr.248). Điề này chứng tỏ khi ấy tiếng Tây đang lấn át tiếng ta và thương nhân Hà nội khó thoát khỏi trào lwu này , Có lẽ chỉ trừ những người bán thuốc Bắc buộc phải duy trì tiếng Tầu để kiếm cơm .
Cũng bàn về ngôn ngữ PQ còn viết về Các biên tập tục ngữ ( TR.263 cuốn Việt văn độc bản in lần thữ nhất 1961 : Tục ngữ hay ngạn ngữ là những câu nói thường , hoặc vì cái thể nó gọn ghẽ dễ nhớ , hoặc vì cái ý nó phổ thông dễ hiểu , mà ngwoif trong một nwocs ai ai cũng nói đến , truyền ở cửa miệng người ta , nhất là ở những nơi lý hạng, chốn dân gian . Vì ở miệng ngwoif bình thường ít học mà ra ( Theo tôi PQ nhầm , nhiều khi là những nhà nho mai danh ẩn tích - NVH ) thực thà sỗ sàng , không có bóng bẩy , chải chuốt nên gọi là tục ( ?NVH ? ), chứ không phải tất nhiên là thô bỉ tục tằn . Phương ngôn là những câu tục ngữ riêng của từng địa phwong , phương này thông dụng mà phwong kia ít dùng hoặc không biết . Lại cao hơn một tầng nữa là những câu cách ngôn : câu tục ngữ phương ngôn nào có ý nghĩa cao xa thời có thể gọi là cách ngôn được , song cách ngôn lại là một thể riêng có triết lý văn chương rồi , không phải là những câu tự nhiên truyền khẩu đi như phương ngôn cùng tục ngữ . Nói tóm lại thời tục ngữ là những câu truyền khẩu tự nhiên , hoặc chỉ những sựlý công nhiên đầu người dân nước nào cũng cho làm , hạc chỉ những phonmg tục riêng của một dân một nước. Như câu : ăn quả nhớ kẻ trồng cây , là một câu tục ngữ có nghĩa chung , còn như câu : Cao nấm thì ấm mồ , là một câu tục ngữ có nghĩa riêng của dân tộc An Nam . Cho nên ngwoif ta thường chia tục ngữ ra làm hai loại : một là những tục ngữ có nghĩa chung , hai là những rtục ngữ có nghĩa riêng . Song cách phân loại ấy cũng hàm hồ lắm , không đủ phân loại ấy cũng hàm hồ lắm , không đủ phân biệt được các hạng tục ngữ . Lại có người thời cứ suy nghĩa từng câu mà chia ra loại mục , thành ra chủng loại phiền phức , cũng khó lòng mà nhớ hết đwocj. Tôi ( tức PQ-NVH ) thiết tưởng tục ngữ nhiều như rừng , vì cách ngôn ngữ của người ta akhông biết đâu là bờ bến và nhất là tiếng An Nam ta, không có gì là KHÔNG NÓI BẰNG PHONG NGÔN TỤC NGỮ ĐƯỢC. THÀNH RA BAO NHIÊU CÁCH NÓI LÀ BẤY NHIÊU CÂU TỤC NGỮ , MÀ MỖI NGƯỜI LẠI NÓI RA MỘT CÁCH , LẠI DÙNG RA MỘT NGHĨA , NHƯ THẾ THỜI PHÂN LOẠI LÀM SAO CHO KHẮP ĐƯỢC ? Vẫn biết rằng cố miễn cưỡng thời thế nào cũng xếp được , những phân loại cốt để dễ tìm tòi , nếu chia ra loại mục phiền phức quá thời còn có ích lợi chi . Theo ý riêng tôi ( PQ )m thời muốn biên tập các tục ngữ phương ngôn không thể lấy ý nghĩa làm phân loại cho hết được , tất phải dùng đến cách giản dị là làm như quyển tự điển xếp theo vần tây , nhưng không phải là xếp thepo vần chữ đầu , phải theo vần chữ chính trong câu , câu nào có hai ba nghĩa quan trọng như nhau thời xếp ra hai ba vần thuộc về những chữ đó . Tỷ như câu : Cõng rắn cắn gà nhà , nghĩa là đem người ngoài về hại nhà mình , nhưng cứ lấy ý nghĩa mà phân loại , thời đặt về loại " phản bội " hay là loại " khờ dại " , hay là loại " hiểm độc" ? Thiết tưởng đặt vào loại nào cũng không được ổn lắm , bất nhược xếp vào vần rắn và vần gà là tiện hơn cả . Tác giả nhận thấy có 3 cách kết cấu thồng dung :
1- Cách " Thanh âm hưởng ứng ví dụ như : Tay làm làm nhai
2- Cách đối tự đối ý ví dụ như : Giơ cao , đánh sẽ ;
3- Cách Hội ý suy loại ví dụ như: Nước đổ lá khoai .
Trên đây là baì diễn thuyết về tục ngữ ca dao tại hội Tri Trí Hà nội ngày 21-4-1921 .
NHưng có lẽ PQ có điều lầm : " Vì ở miệng người bình thwongf ít học mà ra " có lẽ nhận định này là sai lầm . Nên sửa lại "không chỉ vì ở miệng người bình thường ít học mà ra " người như PQ ám chỉ , mà theo tôi có nhiều nhà nho mai danh ẩn tích mượn miệng thế gian để chuyển tải tâm sự của mình, chính nhờ vậy tục ngữ mới hàm súc và có sức sống lâu bền như vậy.
Như vậy lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội chịu bao nhiêu sự tác động của thời cuộc như sự phân tichá của các tác giả trên .
Như mọi người đều biết tiếng nói tại Siêu thi rõ ràng là lịch sự , thậm chí hành vi mua bán diễn ra ở Siêu Thị như " Kịch câm ". Khách hàng đẩy xe đến các quầy tự chọn hàng hoá mình cần mua rồi đến quấy tính tiền , người bán hàng bấm máy tính , khách hàng cầm hoá đơn để biết tiền mình cần trả , rút tiền trả , lấy lại tiền thừa ( nếu có ) , cho hàng vào túi sách ra khỏi siêu thị . Người bán hàng lại xếp lại hàng cho ngay ngắn , bổ sung hàng từ kho ra. Như vậy bán hàng không cần : " Lời ăn tiếng nói gì ở đây ". Về lời ăn tiếng nói ở trên 50 ( năm mươi) Siêu thị ở Hà nội còn khác với các nơi khác là nhiều khi thương nhân phải bán hàng cho người nước ngoài , nhất thiết phải giao dịch bằng ngoại ngữ ( Anh ,Pháp , Hoa, Nhật ... ). Đây là nét mới mới trong quá trinh hội nhập của Việt nam với thị trường thế giưoí ngày tại Thủ đô. Lời ăn tiếng nói ở đây không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà nó còn thể hiện quan hệ ngoại giao nhân dân với người nước ngoài . Qua đó thể hiện được những phẩm chất cao quý nhất của thương nhân thủ đô .
Cũng phải kể đến phương thức bán hàng qua điện thoại và rất hiện đại qua Internet . Thậm chí "người ở- con sen con hầu- oshin" gọi điện thoại yêu cầu thương nhân bán bình Gas mang đến tận nhà . Tế nhị hơn gia chủ - người tiêu dùng còn nhờ cả gia sư dạy tin học cho con mình làm mẫu trên Internet để mua hàng hoá ở các siêu thị Hà nội . Xe của Siêu thị chở hàng dến tận nhà ( các nhà riêng nhân viên sứ quán nước ngoài , người nước ngoài công tác tại Việt nam , Việt Kiều , nhà giàu Việt nam ...) , như vậy chỉ lái xe và " người ở " gặp nhau và lờ qua tiếng lại chứ không phải chủ nhà và thương nhân giao dịch với nhau . Hành vi của họ là xác nhận số lượng và chất lượng hàng rồi ký vào hoá đơn , còn ông chủ sẽ thanh toán với Siêu thị qua ngân hàng sau .
Qua phân tích trên về lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội : 36 PHố Cổ ,Bách Hoá tổng hợp Tràng tiền ( trên 100 năm tuổi) , hàng trăm chợ có hàng nghìn năm tuổi, các siêu thị có chục năm tuổi hoặc vài năm tuổi đang chi phối lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội .
Lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội không chỉ được bảo lưu ,kế thừa mà còn mở rộng , bởi vì hàng hoá bán tại Hà nội ngày nay đã khác xa năm 1888. Có thấy thấy rất rõ ngày nay nhà cao tầng nhiều , nên hàng hoá về vật liệu xây dựng để xây nhà,trang trí nội thất cũng rất phong phú về màu sắc ,kích thước , nhãn hiệu hàng hoá . Ngay cả thuyết Phong thuỷ có lẽ cũng phải xemlại , trên nóc nhà cao tầng bây giờ đều có quạt thông gió của úc quay tít mù trên nóc nhà cả ngày ( đó là Phong ) và Bình nước bằng kim loại lúc đầy lúc vơi cũng đặt trên cao để sử dụng cho các thiết bị vệ sinh ( đó là Thuỷ ) . Vậy nó có ảnh hưởng gì đến Tâm Linh người Việt hiện đại không? Thuyết phong thuỷ có gì thay đội khi làn sóng đô thị hoá lan tràn các huyện ngoại thành Hà nội . Hoặc như mặt hàng Ăng ten dàn , ăng ten chảo chi chít trên các nóc nhà , nếu có truyền hìnhbán có thể " mua " đựỏctên 10 kênh trong và ngoài nước , còn các khách hàng là nước ngoài lắp ăng ten chảo thì có thể "mua "được hàng chục, hàng trăm kênh truyền hình trên toàn thế giới . Thương nhân bán loại hàng hoá này rõ ràng phải có trình độ cao trong thời đại KInh tế Tri thứcnaỳ . Nó khác xa những năm cuối thế kỷ 19 và cả thế kỷ 20 .
Tính chất thương phẩm của hàng hoá ( giá trị sử dụng của hàng hoá cũng quyết định lời ăn tiếng noí của thương nhân . Bán thuốc phải đọc được đơn của Bác sĩ ,màcòn có thể hướng dẫn người sử dụng thuốc đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Và không chỉ phải biết bán thuốc đúng bệnh mà nhất thiết còn phải biết thuốc nào hết hạn sử dụng . Hoặc như bán máy móc thiết bị thì phải có có dịch vụ hậu mãi , có trách nhiệm bảo hành cho khách .
Từ khi có Đầu tư nước ngoài vào Việt nam và Hà nội nên có nhiều phương thức quảng cáo hàng hoá trên tivi, khuyến mại tại nhà , bán hàng rút thăm có thưởng ( trúng cả ô tô, tivi, tủ lạnh , Rađiô ) ... do vậy tâm lý tiêu dùng và quan hệ mua hàng giữa thương nhân và người tiêu dùng cũng khác trước .
Địa lý về Hà nội thay đổi theo sự quy hoạch của Chính phủ có lúc Hà nội bao gồm cả tỉnh Sơn Tây , ngày nay Sơn Tây đã tách ra khỏi Hà nội . Hiện nay Hà nội vẫn bao gồm các huyện Gia lâm , Đông Anh thuộc Kinh Bắc cũ . Do vậylời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội rõ ràng cũng bị ảnh hưởng trong những lần xáo trộn này . Tất nhiên nó vẫn giữ đựoc"tiếng Hà nội" gốc , những thương nhânngoại thành làngwoif cung cấp Hoa , Quả , Rau tươi vẫn chi phối lời ăn tiếng nói của thwong nhân Hà nội ở những chợ Đêm , chợ cửa ngõ bán buôn những mặt hàng này.
Như vậy nghiên cứu lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội cũng nên ở đây có thể lại nhắc lại ý kiến của Trần Quốc Vượng :
- Hội tụ : Hànội là nơi tiêu thụ hàng hoá vào laọi lớn nhất Việt nam.Nơi sinh sống của những người có mức tiêu dùng cao nhất Việt nam. Do vây cũnglà một thị trường khó tính Thương nhân phải có đẳng cấp cao , hàng hoá thì chất lượng cao giá cả đắt tiền . Nókhông chỉ hội tụ thương nhân trong nước ( 61 tỉnh thành màcònhội thụ thương nhân các nwocs trên thế giới .
- Giao lưu: Hà nội là một thị trường mở ,nơi giao lưu không chỉ của thiwong nhận với thưong nhan ,thương nhân vpứingười tiêu dùng ,người tiêu dùng với ngưòi tiêu dùng .
- Kết tinh : Những gì tinh tuý nhất của văn hoá giao dịch , lời ăn tiêng nói của thương nhân cũng đựoc thể hiện ở Hà nội.Đó là nơi có nhiều Siêu Thị ,Khách sạn 5 sao,Hội chợ Triển lãm , văn phòng chi nhánh của các hãng lớn của Việt nam và nước ngoài,nơi hội tụ các thương hiệu nổi tiếng nhất Việt nam .
- Lan toả : Phong cách phục vụ của thương nhân Hà nội đã lan toả ra cả nước ví dụ như Siêu Thị Hà nội tại Thành phố Hồ Chí Minh và Phở Hà nội có mặt ở hầu hết các thành phố lớn của Việt nam, thậm chí ở nhiều tình của Trung quốc và các nước khác .
Ngành thương nghiệp cũng như các ngành khác chịu quy luật lớn của đời sống Thăng long - Hà nội.
Nhận định này cũng có thể làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội.
Có lẽ nên thống nhất Lái buôn làm dâu trăm họ ,tần tảo không kể ngày đêm,mưa nắng ,rét mướt , đường dài ,đủ các phương tiện máy bay , ô tô,xe thồ ,đường ổ gà ,ổ voi ,tết nhất phải xa nhà ,nguy hiểm lúc đất nước có chiến tranh vẫn bảo đảm lưu thông hàng hoá thông suốt .
Lái buôn góp phần bảo tồn các đặc sản truyền thống ở các phố cổ nổi tiếng ở Hà nội ví dụ như Hàng Than (bánh cốm) , Hàng Gai ( hàng tơ tằm ) , Hàng Khay ( hàng thủ công mỹ nghệ ).
Nhiều lái buôn đã có công với đất nước ví dụ gia đình Trịnh Văn Bô buôn tơ lụa đã ủng hộ cách mạng hàng nghìn cây vàng ,nêu gương sáng cho phong trào tuần lễ vàng và huy động nhân tài vật lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp.
Thưong nhân Hà nôi tài trí Việt nam cũng là người tiên phong thực hiện chủ trường của việc hội nhập quóc tế ví dụ thông qua xuất khẩu hàng hoá sang Thị trường Hoa kỳ sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực .
Bên cạnh những nết tốt , dân gian không bao giờ quên được nhứng thói xâú của lái buôn : Cân thiếu , đo thiếu , đong thiếu khi bán hàng ; Không trả lại tiền thừa ,tiền lẻ cho khách; Giới thiệu hàng tốt nhưng giao hàng xấu; giao hàng không đúng hạn (ví dụ giao banh sau Tết Trung Thu , Giao bánh trưng sau Tết Nguyên đán ...); bán hàng đã hết hạn sử dụng; Đanh đá ,chanh chua thiếu văn hoá khi gắp khách khó tính; Đốt vía khách ban đầu trong ngày không mua hàng ; Gian lận thương mại và trốn thuế; Quỵt tiền hàng khi mua hàng của nông dân ,thủ thủ công và các bạn hàng khác .
Họ có những tính xấu trên , nhưng llái buôn có lẽ là người mê tín dị loan nhất trong những người mê tín dị đoan của Việt nam . Có thể thấy qua các ví dụ sau đây : Kiêng nhất người khách đầu tiền trong ngày mà không mua hàng; Họ đốt vía ngay,thậm chí không ức chế được thì cãi nhau to,thậm chí đánh nhau với khách ;Kiêng nhất chưa đến ngày nộp thuế mà phòng thuế đã đến đòi tiền thuế ; Kiêng nhất khi chuyên chở hàng mà gắp cánhát giao thông ; Kiêng mồng một tết mà khách hàng nợ tiền hàng năm trước đến xông nhà ; chớ đi hàng bẩy chớ về ngày ba; mồng năm,mười bốn ,hăm ba ,đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn; Ngày khai trường kiêng : Thìn ,tuất ,sửu ,mùi tứ hành xung mang lăng hoa đến chúc mừng .
Lời ăn tiếng nói của thwong nhân Hà nội được làm giàu theo tiến trình của lịch sử Hà nội .
Ngày xưa Hà nội chưa xuất khẩu ,nhập khẩu nhiềunHàng hoá như bây giờ
BỘ THƯƠNG MẠI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
------------------ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số TMĐT ---------------------------------

Hà nội, ngày tháng năm 2002
V/v nhập khẩu thiết bị

KÍNH GỬI: CÔNG TY ĐIỆN LỰC I

Trả lời đề nghị của Công ty Điện lực I tại văn bản số 2667 /EVN-ĐL I-P6 ngày 08-08-2002 về việc nhập khẩu vật tư thiết bị trạm biến thể 110 kV Phố Nối A ;
Căn cứ theo các Quyết định của Tổng công ty Điện lực Việt Nam:
-Số 2904 EVN/TĐ ngày 28-11-2001 Phê duyệt báocáo nghiên cứu khả thi dự án trạm biến áp 110 kV Phố nối A ( Chi phí thiếtbị:15.797.689 .000 đồng Việt nam);
- Số 1869 /QĐ-EVN-QLĐT ngày 24-6-2002 Phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp cung cấp vật tư thiết bị cho trạm biến áp 110kV Phố Nối A , đơnvị trúng thầu Công ty ABB Oy Phầnlan ; Giá trúng thầu 572.854,54 USD giá CIF ;
- Số 2180 /QĐ-EVN-QLĐT ngày 17-7-2002 PHê duyệt Hợp đồng cung cấp vật tư thiết bị cho Trạm biếan áp 110 kV Phố nối A ( Hợp đồng số 06/2002 ABB-EVN/PCI- 110 kV PN-A , trị giá 572.854,54 USD ;
Bộ Thương mại có ý kiến như sau:
1- Đồng ý Công ty Điện lực I được nhập khẩu thiết bị vật tư cho dự án trạm biến áp 110 KV phố Nối A thuộc Hợp đồng số 06/2002-ABB-EVN/PCI-110 KV PN A ngày19- 6-2002 ký với Hãng ABB Oy ( Phần lan )
Tổng trị giá Hợp đồng này là 572.854,54 USD giao CIF cảng Hải phòng ;
2- Việc nhập khẩu theo quy định hiện hành .
Văn bản có hiệu lực đến 30-6-2003 ./.
Nơi nhận: KT. BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI
- Như trên Thứ trưởng
- HQ TP.HP/HN
- Lưu VT, ĐT
Mai Văn Dâu

Rõ ràng Lời ăn tiếng nói của thương nhân với Chính quyền phải theo một khuôn phép , không thể như kiểu ngoài chợ " hàng thịt nguýt hàng cá".
Về lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội theo Tim Skeet ( người Anh có vị người Pháp ( Báo Người Hà nội số 44 ra ngày thứ sáu 1-11-2002 đã có nhận xét về Hà nội : Tôi cũng tham gia buoiỏ khai trương của một siêu thị tại Hà nội , nơi có rất nhiều cô gái mặc áo dài tha thướt , những bó hoa lớn và những bàn tiệc , tương phản với vô số các tiệm tạp hoá và các quầy hàng rong nối tiếp nhau trên các đường phố cổ. Đấy là hình ảnh của một đất nước vừa truyền thống , vừa hiện đại , vừa cũ , vừa mới , một đất nước đang chuyển mình , hưởng mở , với cách đi vô cùng lýthú . Những cũng theo Tim Skeet thì : Các phòng tranh tại Việt nam đang mọc lên như nấm . NHưng theo tác giả naỳ THÌ NGAY NHIỀU VIỆN BẢO TÀNG CẦN PHẢI BẢO ĐẢM RẰNG NHÃN TRƯNG BÀY VIẾT BẰNG HOẶC NẾU SỬ DỤNG TIẾNG ANH THÌ PHẢI BẢO ĐẢM SỬ DỤNG TIẾNG ANH HỢP THỨC VÀ CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC . QUA ĐÂY CHÚNG TA CÓ THỂ NHẬN THẤY TRÌNH ĐỘ TIẾNG ANH CỦA THƯƠNG NHÂN HÀ NỘI CHƯA THỰC GIỎI .


Phần thứ hai : Lời ăn tiếng nói của thương nhân qua ca dao tục ngữ thành ngữ

Cả vốn lớn lãi
buôn có bạn bán có phường
cho nhau vàng không bằng trỏ đàng đi buôn
mua nhầm bán không nhầm
của giữa chợ ai thích thì mua
Tháng ba bà già chết rét ( lái buôn quần áo)
rẻ thì mua chơi ,đắt thì nghỉ ngơi đồng tiền
mua áo thì rẻ ,mua giẻ thì đắt
mua vải bán áo
của mua là của được
mua được bán mất
bán chịu mất mối hàng
tiều trao cháo múc
tiển tả mạ nhổ
ăn lãi tuỳ chốn ,bán vốn tuỳ nơi
Dù ai buôn bán trăm nghề
gặp ngày con nước cũng về tay không
khách nhớ nhà hàng,nhà hàng không nhớ khách
bán gạo tháng tám ,mua vải tháng ba
thóc gạo có tinh
tháng năm đóng trước ,tháng mười đóng sau
chớ bán gà ngày gió,chớ bán chó ngày mưa
mua heo chọn nái, mua gái chọn dòng
mua trâu xem vó,lấy vợ xem nòi
mua cua xem càng ,mua cá xem mang
Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện
chợ chưa họp kẻ cắp đã đến
kẻ cắp bà già gặp nhau
Đi buôn nói ngay ,bằng đi cày nói dối
Dò sông dò biển dò nguồn .
Biết sao được bụng lái buôn mà dò
mua trâu xem sừng,xem chó xem chân
đầu năm buôn muối, cuối năm buôn vôi
mùa hè buôn bông,mùa đông buôn quạt
lấy chồng giữa làng, bán hàng dầu ve
cótiền buôn đông, không tiền buôn Thái
cơm có bữa chợ có chiều
chợ có phiên ,tiền có ngữ
tiền trao cháo múc
Ba thưng cũng vào một đấu
nhà gần chợ để nợ cho con
Có tiền mua tiên cũng đựơc
Tiền không chân xa gần đi khắp
Đồng tiền liền khúc ruột
Làm hàng săng ,chế bó chiếu
làm nghề gì ăn nghề ấy
Đối nghèo giữa chợ ai chơi
Giàu sang hang núi nhiều người tới thăm
Giàu bán chó ,khó bán con
Giàu thú quê không bằng kéo lê kẻ chợ
thịt đắt nhưng cắt ra miếng
con ruồi đậu nặng đồng cân
của rẻ là của ôi,của đầy nồi là của không ngon
của rẻ của ôi,tôi rẻ tôi trốn ,vợ rẻ vợ lộn
đắt ra quế ,ế ra củi
bán hàng nói thách
làm khách trả rẻ
quen mặt đắt hàng
đắt lúa tẻ,rẻ lúa nếp
ngọc tốt không nệ bán rao
đắt vàng giả , ế vũng cầy
nhiều tiền thiên niên vạn đại, ít tiền làm lại làm đi
thua năm quan không tiêc, điếm mắc điếm mới rầu
thịt nạc dao phay ,xương xẩu rìu búa
hòn đất ném đi ,hòn chì ném lại
trai đầu trại ,gái hàng cơm
máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê
chợ có hàng rau ,hàng vàng
hàng có lá mặt lá trái
Buôn gặp chầu ,câu gặp chỗ
mất tiền mua thúng thì đựng cho tan
mất tiềnmua gỗ thì bổ lấy dao
mất tiền mua mâm thì đâm cho thủng
mất tiền mua mã ,mượn rõ thày cả đọc kinh
được ngườimua ,thua người bán
tậu trâu được nữa là còn cái thừng
cha làm thày , con bán sách
buôn tàu không giàu bằng hà tiện
tham ván bán thuyền
tiền trao cháo múc
tiền trao ra ,gà bắt lấy
tiền trả ,mạ nhổ
khách ai người ấy bán ,bạn ai người nấy chào
của chợ bỏ chợ
hàng thịt nguýt hàng cá
thứ nhất thì mồ côi cha, thứ nhì gánh vã,thứ ba buôn thuyền
khôn nhà dại chợ
của ngon ai để chợ trưa
có ngon chẳng còn đến giờ
hay của nào,chào của ấy
năm quan mua người,mười quan mua nết
cho vàng không bằng trỏ đàng đi buôn
thứ nhất tu ở tạinhà , thứ nhì tu chợ,thứ ba tu chùa
Mồng năm ,mười bốn , hăm ba , đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn
cờ bạc là bác thằng bần ,cửa nhà bán hết tra chân vào cùm
gaìu thú quê ,không bằng kéo lê kẻ chợ
giàu sơn lâm tìm đến , khó giữa chợ tìm lui
ba tiền bỏ bị là chị lái buôn, cơm trắng cá ngon cũng anh đi ở
Muốn giàu thì buôn bè ,muốn què thì tập vật
trai chở đò ngang ,gái bán hàng trầu miếng
hay đi chợ để nợ cho con
tiền đến đâu mau đến đấy
nhiều tiền thì thắm ít tiền thì phai
có tiền khôn như rái ,không tiền dại như vích
có tiền khôn như rái ,không của thì dại như lư
tiền trong nhà tiền chửa ,tiền ra cửa tiền đẻ
có tiền mua tiên cũng đựoc
miệng se ,có chè tiếp khách , váy rách ,có lụa bán rao
của chợ trả chợ
tiền không chân xa gần đi khắp
tiền của như nước thuỷ triều
Lái buôn lương thực ,thực phẩm phải biết :
được mùa lúa ,úa mùa cau
năm trước đựoc cau, năm sau được lúa
thiếu tháng hai mất cà, thiếu tháng 3 mất đỗ
tháng 9 mưa rươi,tháng10 mưa mạ
tháng 9 ăn rươi tháng 10 ăn ruốc
vịt già ,gà ngon
chim ngói mùa thu, chim cu mùa hè
chim,thu ,nụ ,đé
Lời nói chẳng mất tiền mua
lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
mua cá phải xem mang
Người khôn xem lấy hai hàng tóc mai
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng
Từ anh chống cũ đến chàng là năm
còn như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng , đến trăm con người
Thấy cô yếm thắm răng đen
Nam mô di phật lai quên mất chùa
ai mua tiu cảnh thì mua
Thanh la, não bạt, thày chùa bán cho
hộ pháp là một quan ba
Long thần chĩn rưỡi thích ca ba tiền
còn hai vị thiện hai bên
ai mua bán nốt lấy tiền nộp cheo
lệ làng thiếu thốn bao nhiêu
Đẵn cây tre cộc cắm nêu sân chùa
vì sông nên phải luỵ đò
vì chưng chiều tối luỵ cô bán hàng
Tháng Tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
đi thì phải lột quần chồng sao đang
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan
Cậu cai buông áo em ra
để em đi chợ kẻo mà chợ trưa
chở trưa rau có héo đi
Lấy gì nuôi mẹ , lấy gì nuôi con
Mẹ anh năm lọc bảy lừa
Mua cam thành quýt ,mua dưa phải bầu
mua kim mua phải lưỡi câu
Mua mật phải dầu ,cực lắm anh ơi
Thật thà cũng thể lái trâu
Thuận hoà cũng thể nàng dâu mẹ chồng
Đi buôn không lỗ thì lời
Đi ra cho biết mặt trời mặt trăng
đi chợ thì hay ăn quà
chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
Muốn cho gần chợ ta chơi
Gần sông tắm mát ,gần nơi đi về
Làm trai lấy đựoc vợ hiền
Bằng cầm đồng tiền mua được miếng ngon
Rung rinh nước chẩy qua đèo
Bà gia tấp tểnh mua heo cưới chồng
Còn duyên buôn cậy bán hồng
Hết duyên mua mít cho chồng gặm xơ
Giả đò mua khế bán chanh
giả đò đòi nợ thăm anh kẻo buồn
Năm quan mua lấy miệng cười
mười quan chẳng tiếc,tiếc người răng đen
Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
có con hơn của anh ơi
của như buổi chợ họp rồi lại tan
Đồng tiền không phấn không hồ
Sao mà khéo điểm khéo tô mặt người
Phù thuỷ ,thày bói, láí trâu
nghe ba anh ấy đầu lâu không còn
Một rằng mình
Ước gì anh lấy được nàng
để anh mua gạch Bát Tràng về xây
xây dọc rồi lại xây ngang
xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Bán hàng thì bán ban mai
chợ trưa người vãn còn nài làm chi
Tin nhau buôn bán cùng nhau
Thiệt hơn hơn thiệt trước sau như lời
hay gì lừa đảo kiếm lời
Một nhà ăn uống tội trời riêng mang
theo chi những thói gian tham
pha phôi thựcgiả tìm đường dối nhau
của phi nghĩa có giàu đâu
ở cho ngay thật ,giàu sau mới bền
Em ơi chớ lấy con buôn
Hồi vui nỏ, hồi buồn nó đi
Vải em em bán lấy tiền
Em mua lụa liền may áo cho anh
Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng ở chốn ba quân
trên trời cói vẩy tê tê
một ông bảy vợ chẳng chê vợ nào
một vợ tát nước bờ ao
phải trận mưa rào đứng núp bờ tre
một vợ thì đi buôn bè
cơn sóng cơn gió nó đè xuống sông
một vợ thì đi buon bông
chẳng may cơn táp nó giông lên trời
một vợ thì đi buôn vô
khi vôi phải nước nó sôi ầm ầm
một vợ thì đi buôn mâm
không may mâm thủng lại nằm ăn toi

Phần thứ ba : -Thử giải mã lời ăn tiếng nói của lái buôn Thủ đô Việt nam

mua ơn trả oán
*ý nghĩa là mình làm điều tốt lành thì bị gieo hoạ
Bà già đi chợ cầu đông
xem một que bói ,lấy chồng lợi chăng?
*Hoạt động ở chợ là trung tâm mua bán và còn giải toả vấn đề tâm linh.
Mày đi chợ cầu Nôm
ta đi chợ cầu rền ,
mày bán cửa đền
tao bán cửa vua,
mày đi buôn cậy
tao đi buôn hồng,
mày lên kẻ chợ,
tao về nhà quê
* đồng dao dân quê .
Ba đồng một mớ đàn ông
đem về bỏ lồng cho kiến nó tha,
Nói đến việc những kẻ đàn ông hèn yếu ,bị đánh giá thấp.
Ba trăm một mụ đàn bà
đem về mà giải chiếu hoa cho ngồi
* Tôn vinh vai trò người phụ nữ ,họ vốn bị chế độ phong kiến chèn ép ,coi khinh .
có bạc anh tình phụ tiền
có nhân ngãi mới anh quên em rồi
một tay em cầm quan tiền
một tay em xách rằng bồ nhìn em ném xuống sông
Quan tiền nặng thì quan tiền chìm
Bồ nhìn nhẹ thì bồ nhìn nổi ối ai ơi !
Của nặng hơn người.
* Thế thái nhân tình:coi trọng đồng tiền hơn nhân nghĩa .
ông tiên ông tiên
ông có đồng tiền
ông ra hàng phố
ông mua miếng trầu
ông mua con chép
ông mua mớ rơm
ông mua cái chổi
ông mua con gà
ông mua con cóc
ông mua nén hương
về ông cúng cụ
* sướng như tiên,nhưng nếu có tiền thì mới có thể mua đựoc các thứ kê trên.
Em là con gái Phụng tiên,
bán rau mua bút , mua nghiên cho chồng
nữa mai chồng chiếm bảng rồng ,
bõ công tắm tưới vun trồng cho rau
*người vợ lấy kẻ sỹ ,biết chắt chiu hy sinh và phấp phỏng hy vọng.
đầu đường xó chợ
* thân phận kẻ buôn thúng bán bưng kiếm nhặt từng xu từng hào qua ngày đoạn tháng .
đầu cơ tích trữ
* Hoạt động của kẻ bất lương trên thương trường.Mua rẻ hòng bán đắt;
đếm cá con
bán anh em xa mua láng giềng gần :
*giáo dục cần thuận hoà với làng giềng ,để nững khi hoạn nạn còn có ngưỏi trực tiếp giúp đỡ.
bán bò tậu ễnh ương
* Có lé ám chỉ những người ít tính toán bán rẻ mua dắt, cuói cùng mất hết cả vốn kinh doanh
Câu này còn ám chỉ khi gửi tiết kiệm thì trị giá là con bò, những khi rút tiền tiết kiệm thì trị giá còn rất nhỏ .
bán lúa non:
*Nghĩa là: người nông dân canh tác ,bình thường thì chờ lúa chín thu hoạch về nhà,những do hoàn cành túng quẫn đã phải bán lúa chưa chín ở ngoài đồng cho con buôn.
bán nước hại dân
* đây là lời chửi bán phản nước hại dân ;
bán trôn nuôi miệng :
*chỉ những cô gái làm nghề mại dâm
bán trời không có văn tự
* Những kẻ liều mạng trong buôn bán,không tính đến hậu quả trong kinh doanh.
bán trời không mời thiên lôi
*Chỉ kẻ liều lĩnh không biết sợ pháp luật .
bởi chưng trời tối luỵ cô bán dầu :
* Trong tình huống nào đó phải chịu nhín nhịn cho được việc của mình và phải khéo léo chiều người ta .
buôn ăn mày lãi quan viên
* chỉ nghĩa vốn nhỏ,đơn giảin nhưng lãi to,hiệu quả lớn.
buôn có bạn bán có phường
* Lái buôn là nghề tác động đến người mua ,người bán,không thể đơn phương mà phải quan tâm đến lưọi ích ngưݩ khác ,đâu chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân của mình.
buôn dưa lê
* ngồi lê mách lẻo .
buôn gian bán lận :
*chỉ bọn buôn lậu,chống lại pháp luật
buôn lậu:
*chỉ hành vỉ trốn quản lý của nhà nước trốn thuế ,buôn bán mặt hàng nhà nước cấm.
buôn miền xuôi nuôi miền ngược :
* ám chỉ vất vả ohương trời này để mang lại hạnh phúc cho phương trời khác .
buôn phấn bán hương /buôn son bán phấn :
* ám chỉ cô gái làm nghề mại dâm.
buôn thần bán thánh :ám chỉ bọn lợi dụng mê tín dị đoan đẻ kiêm sống bất lương . .
buôn thúng bán bưng/buôn thúng bán mẹt :
*Phận nghèo vất vả nơi đô thành bon chen
buôn người
* chỉ những người buôn bán nô lê,phụ nữ ,trẻ em.Họ chỉ nghĩ đến đồng tiền mất hết nhân tính .
chưa đến chợ đã hết tiền:
*đây ám chỉ người đàn ông yếu sinh luý ,khi giao hợp với vợ ,vợ chưa được thoả mán sinh lý nhưng chồng đã phóng tinh trùng rồi .Làm cho người vợ rất khó chịu (câu nàycũng như câu :thiu chó hết rơm nửa mùa.
chín xu đổi lấy một hào
* Đây không phải là hành vi buôn bán mà chỉ người keo kiệt ,không bao giờ chịu phần thiệt về mình và bao gì cũng giữ lấy phần hơn về mình.không quan tâm đến lọi ích chính đáng của người khác.
cò kè bớt một thêm hai
giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm:
* Nguyễn Du diễn tả cảnh đau lòng mặc cả mua bán cô Kiều khi gia cảnh sa sút
còn trời còn nước còn non
còn cô bán rượu anh còn say sưa
* Lời nguỵ biện của những con sâu rượu
còn duyên buôn thị bán hồng
hết duyên buôn mít cho chồng gặm sơ :
* Diễn tả hoàn cảnh của cô tiểu thương dù gặp bất hạnh trong buôn bán nhưng vẫn thuỷ chung với chồng mình .
Năm đất với cô hàng hương còn hơn nằm giường với cô hàng mắm :
*Nghề hôi hám cực nhọc,nhưng thử hỏi bữa cơm Việt nam thiếu bắt nước mắm thì sẽ vô vị thế nào. Nghệ thuật ẩm thực Việt Nam sẽ khiếm khuyết biết bao . Thực ra cũng chỉ là sự thông cảm với nghề nghiệp buôn bán của hai nghề khác nhau : Hàng tâm linh và hàng ẩm thực .
gái thương chồng đang đông buổi chợ
trai thương vợ nắng quái chiều hôm
* đây là khái quát tình cảm vợ chồng Việt nam, tình cảm của Vợ bao giừo cũng tràn đầy còn tình cảm người chồng thì mờ nhạt,nhạt nhẽo dần theo năm tháng khi tuổi trẻ ,sức lực,sắc đẹp của cứ tàn phai.
giàu nhà quê không bằng ngồi lề thành phố :
* Chính sự khái quát này từ ngày có thành thị ,nên dân nhà quê cứ đổ về gầm cầu ,sống trên các dòng sông hôi thối ,xóm liều ,thế là sống chung với mại dâm, ma tuý ,trộm cắp. Đó chính là câu nói kích động dòng người nhà quê tiếp tục ra các thành thị.Hậu qủa xã hội không lường, tắc đường , thiếu nhà ở , thiếu trường học , thiếu bệnh viện và phúc lợi công cộng .
Kiều hàng mã :
* nói lên hàng rởm,không bảo đảm chất lượng hàng hoá làm hại người tiêu dùng của bọn gian thương.
hàng thịt nguýt hàng cá:
*cảnh chợ búa ,cạnh tranh nhau
trên thương trường, cảnh tranh khách nhau,
kẻ cắp bà già :
*Tương phùng địch thủ ,câu này thường răn dậy kẻ cắp gặp người dạn dầy kinh nghiệm thì nên tránh xa.
kẻ cắp chợ Đồng xuân :
*Đồng xuân là chợ lớn thủ đô, do vậy đào tạo nhiều kẻ cắp chuyên nghiệp lành nghề,khách hàng rất khó đối phó;
Khánh trắng chợ Đồng Xuân :
* ám chỉ một tên đầu gấu "bảo kê " trấn lột thương nhân ở chợ Đồng xuân- Bắc qua đã bị pháp luật tử hình vào những năm 90 của thế kỷ 20 .
kẻ tám lạng người nửa cân
*Đây không phải việc cân đong đo đếm ở chợ,mà chính là để diễn đạt hai kẻ tương phùng tài trí gặp nhau. cũng có thể áp dung :" Kẻ cắp bà già gặp nhau ".
mồm cá chép mép lái buôn:
*Cá chép thì mồm rộng ,câu này chỉ là bọn lái buôn thường lắmmồm lắm miệng để rao hàng .Hàmý chế bọn lái buôn ,luôn bẻm mép.
mong như mong mẹ về chợ
* Đây là cách ví vón sự mong đợi tmạnh mẽ cồn cào.nhất là những đửa trẻ con nhà nghèo,đói lắm chờ mẹ đi chợ về mới có cái gì đó cho vào miệng để chống lại những cơn đói da idẳng của cảnh nhà nghèo.Nhưng cũng là tình cảm cao đẹp Mẹ- con.
mua danh ba vạn bán danh ba đồng
* Lời răn dậy những kẻ hám lợi bất chấp danh dự . Đồng thời cũng nhắn nhủ danh dự bánthì rẻ ,nhưng gây dựng thì rất hao tâm tổn tướng và mất rất nhiều thời gian công sức. Cái gì liên quan đến danh dự thì hành động cần cẩn trọng ,chớ có hồ đồ.
mua quan bán tước :
* Cảnh chạy chọt đẻ vinh thân phì gia .Dân gian mô tả cảnh bọn thiếu tài đức nhưng cậy có tiền bạc hoặc quan hệ vẫn thăng tiến đê trục lợi .
phi thương bất phú
* ý là không buôn bán thì không giầu lên được.Đây là câu khen ngợi nghề lái buôn.Nếu chỉ đơn thuần chỉ làm ruộng thì cứ nghèo mãi .
Ban lúa non :
*Thực tế có nông dân phải bán lúa non thì lái buôn chèn ép giá, khiến nông dân thua thiệt ,nhưng lợi thế trong thương trường lại thuộc về lái buôn chứ không thuộc về người nông dân nghèo .
qua sông thì phải luỵ đò
Bởi vỉ trời tối luỵ cô bán dầu
* Ngày nay vẫn có nhiều vùng chưa có điện phải thắp dầu hoả vì chưa có diện đóm gì,do vậy cô bán dàu vẫn quan trọng với bao mái nhà vùng sâu vùng xa . Mong sao câu này đi vào cổ tích của Việt nam,để mọi mái nhà đều có đèn điện cho các cháu học hành.Lúc đó là cô bán điện chứ không phải cô bán dầu.
thậm thà thậm thụt như buôn bạc giả
* Nhà nước cấm in,buôn bán bạc giả ,do vậy câu ca này chỉ những bọn làm ăn bất lương ,không dám công khai cứ phải chiu rúc trong bóng tối. Cả câu chỉ bọn gian thương có hành vi bất lương.
thật thà cũng thể lái trâu
* Trung du và miền núi nuôi nhiều trâu ,đồng bằng cần trâu ,do vậy cần có lái trâu đưa trâu từ trung du miền núi về đồng bằng.Anh ta xem khoáy ,và tán tụng nết hay của con trâu và hoá giải mọi tật xấu của con trâu.Do vậy người nông dân mua trâu phải tin vào lời quảng cáo của lái trâu ,Biết vậy cho nên người nông dân dẳt trâu từ chợ về nhà cầy,khi ấy chủ trâu bộc lộ hết tật xấu và anh nông dân đànhan ủi bằng câu tục ngữ này,
thứ nhất cận thị thứ nhì cận giang
* số một là gần chợ,thứ hai là gần sông.
Nếu sống gần chợ thì tiện mua bán,gần sông thì tiện chuyên chở, Đây là lợi thế về địa lý,những vùng này dân cư dễ làm ăn sinh sấng ,hầu hết các đô thị đều hình thành từ những khu vực này.
Thật thà cũng thể lái trâu
thuận hoà cũng thể nàng dâu mẹ chồng
* Thật thà thì ai chẳng quý,thuận hoà trong gia đình ai chả mong đợi.ở câu này ,đạt đựo ccái mong ước vẫn còn một khoảng cách so với bãn chất của sự vật .
trăm ơn không bằng hơn tiền:
* Ơn huệ và buôn bánlà hai phạm trù như lửa với nước,Đạo đức là đạo đức,Lợi nhuận là lợi nhuận. Không nên lẫn lộn hai phạm trù này .Do vậy cảnh buôn bán trên thương trường nên áp dụng câu này .
treo đầu dê bán thịt chó
* Những cửa hàng bán thịt dê những do thiếu chân hàng đã bịp bợm ,lừa đảo người tiêu dùng khi bán hàng. Nghĩa rộng là gian lận thương mại làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn để kiếm lời..
sáng một xu ngu bạc triệu
* trong buôn bán tính toán kém chỉ thấy cái lợi nhỏ mà không thấy cái lợi lớn hơn.
chợ chiều:
* Thông thường chợ Bắc Bộ hay họp vào buổi sáng ,đến chiều thì cảnh mua bán đã tàn, do vậy" chợ chiều"để chỉ cảnh phá sản , dã đám, lèo tèo,thiếu sức hoạt động .Cảnh sắp tan, tàn lụi, dã đám, chạy làng, nhạt nhẽo về tình cảm.
chín xu đổi lấy một hào
* Có lẽ chỉ tính keo bẩn, thói ích kỷ hại nhân,
bỏ con săn sắt bắt con cá rô
* ám chỉ bỏ vốn đi buôn,đi buôn phải có vốn,nếu vốn càng lớn lớn thì mới có lời lớn; chứ không thể buôn bán bằng nước bọt .

_______________________________________________



ĐÃ ĐĂNG :

GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM - PHẦN THỨ I -

GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM - PHẦN THỨ 3 -




Tiến Sĩ NGUYỄN VĂN HOA

TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC