CẦN MỘT BẢN DỊCH TỐT NHẤT CHO
BÀI THƠ CHỮ HÁN “ĐỘC TIỂU THANH KÍ”
CỦA NGUYỄN DU











Trong số những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, có một bài nổi bật trong đó đấng thi hào gửi gắm niềm tâm sự sâu xa nhất của ông: chân giá  trị của con người ông sẽ tồn vong trong cõi nhân sinh này như thế nào?  

Bài thơ như sau:

                   ĐỘC TIỂU THANH KÍ

            Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,

        Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.

        Chỉ  phấn hữu thần liên tử hậu,

        Văn chương vô mệnh luỵ  phần dư.

        Cổ  kim hận sự thiên nan vấn,

        Phong vận kì oan ngã tự  cư.

        Bất tri tam bách dư niên hậu,

        Thiên hạ thuỳ nhân khấp Tố Như? 

Bài thơ mang đậm tình cảm yêu thương đến xót xa của Nguyễn Du đối với nàng Tiểu Thanh thời xưa, một người phải mang số phận làm lẽ mọn nhưng có thực tài về văn chương. Sau khi nàng chết, tập “kí” tuyệt diệu của nàng đã bị người vợ cả ghét ghen mang đốt, may mà còn sót lại ít tờ. Có người phát hiện việc ấy, đọc thấy quá hay bèn chép lại để lưu giữ. Các thi nhân đời sau khi đọc phần còn sót lại ấy đều rơi lệ vì thương cảm. Khi đi sứ sang Trung Hoa, Nguyễn Du ghé thăm phong cảnh Tây Hồ (tỉnh Hàng Châu), nơi hơn 300 năm trước nàng Tiểu Thanh mới 18 tuổi bị người vợ cả đuổi ra ở một mình tại đó, rồi nàng vì quá đau buồn mà chết (nay vẫn còn mộ của nàng), ông đã đau xót đứng bên song đọc những tờ sách của nàng để khóc viếng nàng. Thế rồi sau này, trong quãng đời làm quan đầy u uất, lòng vẫn chưa nguôi xót thương nàng, ông đã vận số phận của nàng vào số phận éo le của chính mình và viết bài thơ này với nỗi buồn nặng trĩu.

Vì  giá trị rất cao về nội dung nhân văn và  nghệ thuật mà bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú “Độc Tiểu Thanh kí” của Nguyễn Du đã được chọn đưa vào sách giáo khoa chương trình giáo dục phổ thông tại Việt Nam.

Hiện nay trong những sách đã xuất bản, tôi được biết có ba bản dịch bài thơ ấy. Tôi xin mạn phép  được giới thiệu với bạn đọc cả ba bản dịch và có đôi lời phân tích đánh giá theo thiển  ý của tôi. Rất mong được các vị cao minh và  quý bạn đọc thưởng thức, bình phẩm và góp ý.

1. Bản dịch của Vũ Tam Tập (đã in trong sách giáo khoa):

        Hồ  Tây cảnh đẹp hoá gò  hoang,

        Thổn thức bên song mảnh giấy tàn.

        Son phấn có thần chôn vẫn hận,

        Văn chương không mệnh đốt còn vương.

        Nỗi hờn kim cổ trời khôn hỏi,

        Cái  án phong lưu khách tự mang.

        Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa,

        Người đời ai khóc Tố Như  chăng? 

Theo suy nghĩ của tôi, khi đem một kiệt tác văn chương của thi hào Nguyễn Du vào sách giáo khoa để giảng dạy cho bao nhiêu thế hệ học sinh, chúng ta cần phải đặt yêu cầu cao nhất đối với chất lượng bản dịch tiếng Việt, thậm chí phải “cầu toàn”.

Nghiên cứu kĩ bản dịch của Vũ Tam Tập tôi nhận thấy: nhìn chung bản dịch đã chuyển tải được khá  tốt cái “thần” của nguyên tác, mô phỏng được âm hưởng giọng thơ đặc thù phi lộ những tâm sự sâu xa của Nguyễn Du. Nhưng tôi cũng phát hiện ra những chỗ bất cập và những sai sót đáng tiếc sau đây:

–  Trước hết là một nhận xét nhỏ về “vần”. Sự gieo vần giữa câu 2 và câu 4 bị lệch hơi nhiều: (“tàn” gieo vần với “vương”). Với một bài thơ bình thường khác, gieo vần không thật chuẩn có thể châm chước, nhưng với một kiệt tác thơ thì đòi hỏi tất phải nghiêm khắc hơn. Trong nguyên văn, thi hào Nguyễn Du đã gieo vần tuyệt đối chuẩn: trên dưới chỉ có độc một vần “ư” (khư, thư, dư, cư, Như). 

– Câu 1: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư” nghĩa là “Những vườn hoa ở Tây Hồ đều đã thành gò hoang”. Dịch giả Vũ Tam Tập (VTT) dùng hai chữ Hồ Tây để dịch nghĩa danh từ riêng Tây Hồ (ở tỉnh Hàng Châu, Trung Quốc) là sai nguyên tắc (cũng như không thể dùng hai chữ “Trong sông” để dịch danh từ riêng “Hà Nội” được). Vì vậy khi dịch nhất thiết phải giữ nguyên các danh từ riêng trong nguyên văn chữ Hán. Vả lại, nếu dịch thành Hồ Tây sẽ khiến người đọc dễ lầm với hồ Tây ở thủ đô Hà Nội.

Một tiểu tiết khác: “hoa uyển” (vườn hoa) dịch thành “cảnh đẹp” vừa không sát vừa bỏ phí mất từ “hoa”. 

– Câu 2: “Độc điếu song tiền nhất chỉ thư” nghĩa là “Bên song, (tôi) đọc một tờ sách (của Tiểu Thanh) để thương viếng nàng”. VTT dịch “Thổn thức bên song mảnh giấy tàn” sót một ý rất quan trọng: “điếu” (thương xót viếng người đã chết). Câu dịch khiến người đọc chỉ hiểu rằng: Nguyễn Du đang xúc động đọc bên song một tờ sách cũ, chứ không biết về cái mục đích chính của ông là đọc cốt để viếng hồn nàng Tiểu Thanh.

– Câu 3: “Chỉ phấn hữu thần liên tử hậu” nghĩa là “Son phấn (di vật của người phụ nữ) có “thần”, nên chúng vẫn thương xót người đã chết”. VTT dịch 3 từ “liên tử hậu” thành “chôn vẫn hận” hơi vụng và khó hiểu. “Hận” là “hờn giận”, không mang nghĩa “liên” (thương, thương tiếc, thương xót) trong nguyên văn của Nguyễn Du, nên dịch như vậy là sai lệch ý nghĩa.

– Câu 4: “Văn chương vô mệnh luỵ phần dư” nghĩa là “Văn chương không có số mệnh như ở con người, mà cũng mắc cái vạ bị đốt chỉ còn sót lại mấy tờ”. VTT dịch “phần dư” (đốt gần hết) thành “đốt còn vương” ý mờ nhạt và tình cảm quá nhẹ, trong khi câu thơ mang nặng ý oán trách. 

– Câu 6: “Phong vận kì oan ngã tự cư” nghĩa là “Cái oan khiên kì lạ của những người phong vận (cao nhã văn nhân) thì ta lại tự đặt mình vào đó”. Câu này có mấy chỗ VTT dịch chưa đạt.

a) “kì oan” (nỗi oan nghiệt kì lạ, do số  phận tạo nên, như thuyết “tài mệnh tương đố”)  mà dịch thành “cái án” (bản kết án hay bản kết tội) là không sát nghĩa, vì thi nhân chỉ bị oan khuất chứ đâu có tội gì?

b) Ba chữ “ngã tự cư” (ta tự đến ở) dịch thành “khách tự mang” (có người tự  mang lấy) là thất sách. Trong câu thơ này Nguyễn Du dùng hai từ có sức nặng đáng kể, đó là đại từ ngôi thứ nhất “ngã” (ta) kèm với từ “tự” (tự mình) để phi lộ  cái tôi thi nhân cao quý của mình và thái độ chủ động, dũng cảm chấp nhận luật chơi: sẵn sàng dấn thân vào những chốn “khổ địa” chỉ toàn là đau thương, oan nghiệt, bất hạnh, nước mắt – một cái nghiệp ông phải hứng chịu để trả giá cho sự trác việt của mình mà ông gọi bằng từ “phong vận”. Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong lời than thở của Nguyễn Du có ngầm chứa cái “ngạo cốt” của một thi nhân thượng đẳng. Chúng ta cũng nên lưu ý rằng Cái tôi từ cổ chí kim rất cần hiện diện trong thơ ca trữ tình để khắc hoạ sâu đậm cái bản ngã của văn thi nhân – yếu tố quan trọng thuộc chủ thể để làm nên máu thịt của văn chương nghệ thuật.

Tiếc rằng trong bản dịch, VTT lại bỏ mất đại từ  ngôi thứ nhất “ta” để thay bằng danh từ  “khách” (người ấy), rõ ràng đã làm yếu  đi, mờ đi cái suy tư thâm thuý và cái cốt cách thi nhân vững mạnh của Nguyễn Du.

2. Bản dịch của Kiều Văn (in trong sách “Thơ trữ  tình Hán văn và Pháp văn - tuyển dịch”, NXB Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2007).

Trên cơ sở thừa nhận những câu Vũ Tam Tập  đã dịch thành công, nhưng chưa thoả mãn với một số câu khác ông dịch chưa đạt, tôi đã nhuận sắc lại bài thơ trên với mục đích: công hiến cho ngành giao dục Việt Nam một bản dịch hoàn thiện hơn, không còn những sai sót đáng tiếc, để các thế hệ học sinh được hưởng thụ một thi phẩm xứng đáng là “bản dịch thơ Nguyễn Du”. Tôi tin rằng dịch giả Vũ Tam Tập sẽ đồng cảm với việc làm đầy thiện ý của tôi.  

              Tây Hồ  vườn đẹp hoá gò hoang,

              Giấy nát bên song đọc viếng nàng.

              Son phấn có  thần, thương khó dứt,

              Văn chương không mệnh, đốt hầu tan…

              Nỗi hờn  kim cổ, trời khôn hỏi,

              Oan nghiệt phong lưu ta chuốc mang!

              Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

              Người đời ai khóc Tố Như chăng? 

3. Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn (in trong sách “192 bài thơ  chữ Hán của Nguyễn Du”, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 1995) 

                    Đọc truyện kí Tiểu Thanh 

              Hồ  Tây vườn thắm hoá gò  trơ

              Thương viếng bên song sách mấy tờ

              Son phấn có  thần đau truyện khuất

              Văn chương không mệnh nửa thành tro

              Xưa nay việc hận trời khôn hỏi

              Cũng hội kì  oan có cả ta

              Không biết ba trăm năm tiếp nữa

              Thiên hạ  ai người khóc Tố Như? 

 Bản dịch này, tôi xin không đi sâu phân tích. Dịch giả  là một người giỏi chữ Hán và có những đóng góp nhất định trong dịch thuật thơ chữ  Hán. Nhưng tôi lấy làm tiếc rằng riêng bản dịch này, ông đã dịch không đạt.

Một là bản dịch thiếu hẳn phong cách thơ cổ điển, nhất là phong cách thơ cổ điển thứ hạng cao của thi hào Nguyễn Du. Bản dịch có phần gần với thơ nôm dân dã.

Hai là từ ngữ sử dụng rất gần với từ  ngữ bạch thoại, không có chút gì tương đồng với từ ngữ văn chương hàn lâm cổ điển tao nhã và hàm súc của Nguyễn Du.

Ba là sự “thiếu hồn” khá rõ. Hẳn là tâm hồn dịch giả chưa rung cảm thật sự thấm thía với cái “hồn thiêng” chứa chất trong bài thơ nên ông không thể nắm bắt để chuyển tải cái hồn, cái tìnhcảm xúc da diết mà Nguyễn Du gửi gắm trong bài thơ đến người đọc.  

Cuối cùng, nhân đây tôi xin lạm bàn một chút về công việc dịch thơ. Để dịch thành công một bài thơ, dù có đầy đủ năng lực về trí tuệ và nghệ thuật cũng vẫn là chưa đủ, mà còn cần phải có cái trạng huống tinh thần huyền diệu trong đó xảy ra sự giao cảm mãnh liệt giữa tâm hồn của dịch giả với cái hồn của bài thơ nữa. Thiếu sự giao cảm mầu nhiệm đó, cảm hứng văn chương không thể cất cánh, tài nghệ văn chương không thể thăng hoa, và bản dịch dù công phu và đẽo gọt khéo léo đến đâu vẫn không tránh khỏi bị khô cứng và nhạt nhẽo vì thiếu hồn.

Tôi xin lấy một dẫn chứng: dịch giả Hoàng Thuý Toàn có lẽ không phải là một nhà thơ, nhưng khi dịch thơ Pushkin, chắc hẳn đã xảy ra sự giao cảm ấy nên những bản dịch của ông luôn “đẫm hồn” khiến các dịch giả đích thị là nhà thơ cũng phải khâm phục. Xin bạn đọc hãy chứng nghiệm điều đó qua một khổ thơ ông dịch:

         Một chút tên tôi  đối với nàng

         Sẽ  chìm như tiếng sóng buồn lan

         Âm thầm mòn mỏi bên bờ vắng

         Như  tiếng đêm thâu lạc giữa ngàn…

Có  phải chúng ta cảm thấy mình bỗng dưng bị rơi vào một vũng sầu thương vô cùng vô tận của tâm hồn thi hào Pushkin?


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 29.05.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com