Lược Sử Chùa Cổ Lễ




Sự hình thành và phát triển Phật giáo ở huyện Trực Ninh chính là sự hình thành và phát triển các ngôi chùa thờ Phật cùng với đông đảo các tầng lớp tăng ni, phật tử trong huyện.

Từ thế kỷ thứ X, trước khi vua Đinh Tiên Hoàng lên ngôi (970) ở huyện Trực Ninh đã có chùa và các tăng ni trụ trì, đó là chùa Cổ Lễ bây giờ.

Chuyện kể lại rằng: “Trước khi Vua còn hàn vi thường đánh cá ở sông Giao Thuỷ, cất lưới được viên ngọc khuê to, chạm phải đầu thuyền sứt mất góc. Đêm ấy ngủ đỗ ở chùa Giao Thuỷ để ngọc khuê ấy ở giỏ cá, có ánh sáng lạ thường, sãi chùa dậy hỏi nguyên cớ, Vua nói thực và lấy ngọc khuê đưa cho xem. Sãi chùa thở dài nói: Anh sau này phú quí không biết thế nào mà nói được, chỉ tiếc rằng phúc không được lâu thôi” Đại việt sử ký toàn thư nhà xuất bản vhtt 2006 trang199) ” Cúc viên luyện sĩ cũng đã xác định: Giao Thuỷ là tên cũ của ấp ta, ở thượng lưu sông giao, nơi đó có chùa Thần Quang. Khi Vua Đinh Tiên Hoàng chưa lên ngôi thường đánh cá ở sông Giao Thuỷ, ban đêm ngủ ở chùa Giao Thuỷ, tức là chùa này, tên cũ là Nghiêm Quang tức chùa Giao Thuỷ.

Sách Việt điên u linh tập soạn năm 1329 của văn sĩ thời Trần của Lý tế Xuyên,dịch giả Lê Hữu Mộc phần phụ lục trang 103 chép rõ sự tích Từ Đạo Hạnh đại thánh “Đạo Hạnh cùng Minh Không Giác Hải qua Tây thiên khi đến xứ Ximan đường xá hiểm trở đi lại khó khăn đang muốn trở về thì gặp ông lão nhận chở giúp vì đường núi hiểm trở không đi được chân không rồi ông lão đọc bài kệ:

“Đạo lý đương nhiên giúp các anh
Khen ai khéo học chí thành danh
Mênh mông muôn ngả qua nào khó
Chỉ một hoàng giang thấy thánh sinh”

Đọc xong bài kệ ngửa mặt trông chừng giây lát đã đến bờ Tây Thiên,có nhiều thần thông linh pháp.ba người cùng được Thế Tôn dạy dỗ,đạô quả đã tròn Minh Không Giác Hải về chùa Giao thuỷ. Minh Không tu ở chùa này cũng là thời kỳ người chữa bệnh hoá hổ cho vua Lý Thần Tông (Việt điện U Linh Lý Tế Xuyên) viết “Triều đình sai sứ đến chùa Giao Thuỷ yết sư Minh Không rằng:

- Nay Thiên Tử bị kỳ tật,Triều đình sai sứ rước sư qua để chữa bệnh cho Thiên tử Khâm việt đai sử thông giám cương mục chính biên trang 161 cũng ghi “Năm1136 nhà vua có tật thầy thuốc chữa không công hiệu Minh Không chữa khỏi được ban hiệu Quốc sư lại miễn tô dịch cho vài trăm hộ nghĩa là Minh không được lấy tô thuế ở vài trăm hộ ấy để mà ăn lộc và được có người phục vụ công việc ở chùa mình tu. Lời chua cũng ghi rằng: Minh không người huyện Gia Vễn tỉnh Ninh Bình làm sư chùa Giao Thuỷ tức chùa Keo (keo có nghĩa là giao thuỷ). Giao Thuỷ là tên cũ của chùa Nghiêm Quang sau đổi là Thần Quang.Những tư liệu lịch sử ghi chép trong các sách : Lĩnh nam chích quái,Thiền uyển tập anh,Đại nam nhất thống chí, Nam ông mộng lục… cho biết :Chùa do Quốc sư Minh Không xây dựng từ thế kỷ XII thời Lý.Bài minh khắc trên chuông đồng đúc năm1799 niên hiệu Cảnh Thịnh 7còn lưu giữ tại chùa có câu(dịch): ”Chân cảnh trời nam,Thánh Tổ đản giáng,dựng chùa Thần Quang.”

Ngày nay nhân dân trong vùng Cổ Lễ vẫn đang truyền tụng nhiều hành tung siêu phàm và kỳ tích phi thường của đại sư Minh Không.Tại các vùng thôn xóm quanh Cổ Lễ vẫn còn dấu chân trên đá của ngài (có lưu thờ phiến đá tại chùa Cổ Lễ)thời còn hàn vi:Cổ Lễ (nơi đặt đó bắt cá),Tương Nam (nơi có chiếc lều nghỉ chân) và Liên tỉnh, thôn Nội là nơi người thường qua lại:

Liên tỉnh trước chùa trông ra đá tiên gót ngọc rõ là thần thông (bài kệ chùa Cổ Lễ)
Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử và thời gian,ngôi chùa ba tầng bảy mái làm bằng gỗ lim nguyên ở hữu ngạn sông hồng đã vĩnh viễn lùi vào quá khứ qua trận đại hồng thuỷ năm Tân hợi (1611). Nhân dân Cổ Lễ đã dựng lên ba chùa (mỗi làng một chùa ) ở cácvị trí như uỷ ban nhân dân huyện,bệnh viện huyện,và cồn Mưỡu bây giờ,vẫn lấy tên Thần Quang Tự thờ Phật và Quốc sư Minh Không . Năm1630 dân ấp Keo cũ gồm hai làng Hành Cung và Dũng Nhuệ phải dời đi hai nơi.Dân làng Dũng Nhuệ dời sang tả ngạn sông hồng(thuộc đất Thái Bình ngày nay )lập lên làng Dũng Nhuệ và xây chùa Keo (năm1630) ,còn dân làng Hành Cung chuyển cư về đông nam hưũ ngạn sông Hồng lập ấp xây chùa (` chùa KeoHànhThiện). Làng Hành Cung sau đổi là làng Hành Thiện đời Minh Mệnh (1820-1840)
Năm 1799 đúc chuông chùa Cổ Lễ (thần Quang Tự chung)

Phiên âm:

Thiên Trường phủ, Nam Chân huyện, Cổ Lễ xã, Hồng chung Minh Trịnh Tự. Chung khí đắc minh thượng kỹ kỳ chất kim đắc hoả dĩ thành khí kỳ thanh tựa lao hổng bát âm chi tối qui dã. Phi duy cổ nhạc sở trọng, phàm dĩ tỉnh quần mê qui chính. Giác kỳ ứng như hưởng thích giác diệc bất khả vô An Nam tứ khí, kỳ nhất viết chung lương hữu dĩ dã. Cổ Lễ Thần Quang tự, thánh tổ cựu xưa kiến thi sùng kỳ giáo luỹ hộ thiên ứng, viên trù Hồng chung dĩ thông thiền thính dân vật lại dĩ an thọ kỳ truyền dĩ niên số hí. Kình xạ bế chúng giáo thất tuyên vu từ kỷ như phàm kinh mục nhất thiếtữu tình. Khí phi cầu lưu tâm chi, phục cổ chính km đích nhất hội bản xã thập ngũ giáp hưng công thập tứ viên biến thập phương công đức sùng tu phúc quả thập toàn bất sí cổ hồng chung nhất dạng quan giả tứ thập dai viết: thiện cơ sở cẩm, kỳ tích khả minh vu kim thạch, kì phúc khả đẳng vu hà sa, kì truyền ứng dĩ thiên nhương bất hủ, tương lai báo ứng, cố khả lượng, tức nhân thư dĩ vi minh:

Nam thiên chân cảnh
Thánh Tổ đảm giáng
Thần quang kiến tụ
Kim chung tức trù
Mã quá dương hoàn
Phi cựu nhi tân
Kim ngọc hữu thanh
Cốc giáp thập ngũ
Nhất phiến bà tâm
Thiên địa trường tồn
Thế vọng cốc dương
Ngọc, Vũ, Võ, Ninh
Trạm trạm nhất chân
Báo ứng cô thần
Giác tỉnh mê dân
Kình trần lao bế
Vũ kim y thuỷ
Thuỳ tắc đắc thi
Hưng công thập tứ
Hử đa thuần phác
Sơn khâu bất hủ
Thuỳ thiên vạn cổ
Cảnh thịnh thất niên tuế thứ kỷ mùi mạnh hạ cát nhật

Dịch nghĩa:

Chuông chùa Thần Quang
Bài minh và tựa ở chuông lớn chùa Thần Quang xã Cổ Lễ, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường. Chuông được ghi tên lại là vật được tôn sùng vậy. Chất kim loại qua luyện lửa mà thành chuông. Tiếng của nó vang xa là tiếng quí nhất trong bát âm. Không phải duy nhạc cổ coi trọng, phàm lấy đó để thức tỉnh mọi người mê muội, qui về với chính nghĩa, giác ngộ điều ứng nghiệm như hưởng ứng lại giáo hoá của nhà Phật. Vì thế chuông đứng hàng đầu trong tứ khí của nhà Phật nước An Nam cũng có cớ vậy.

Chùa Thần Quang ở Cổ Lễ là trước đây do thánh tổ xây dựng lên. Người trong lòng rất tôn sùng giáo lý của ngài vì rất thiên ứng, bởi vậy cho đúc chuông để phổ biến đạo phật cho mọi người biết, vạn vật nhờ dựa để truyền mãi về sau để lâu rồi vậy. Đối với việc từ bi được chép trong các kinh mục nhất thiết phải có các khí cụ (để truyền bá) những thứ đó không cần phải là cổ mà làm mới (cũng được) đó là một cơ hội để khôi phục cổ xưa, và làm đúng đắn thời nay. Nay 15 giáp và 14 vị hưng công trong xã phổ biến thập phương công đức tụ lập quả phúc cùng đúc chuông khá toàn mỹ nhưng lại giống với chuông cổ. Mọi người khắp nơi tới xem và đều nói: Đó là sự cảm hoá của việc thiền (mà thành) ích lợi của nó phải ghi chép ở kim loại hay đá, phúc của nó nhiều như cát bên sông, phải lưu truyền cùng với trời xanh, phải được thờ tự mãi mãi và sẽ được tương lai báo đáp tương ứng. Ngoảnh lại xem xét, nhân đó ghi lại và làm bài minh rằng:

Chân cảnh trời Nam
Thánh tổ giáng sinh
Dựng Chùa Thần Quang
Bàn đúc chuông đồng
Ngựa qua dê về
Không cũ mà mới
Vàng ngọc phát tiếng
Bởi 15 giáp
Một tấm lòng bà
Trời đất trường tồn
Thế tục ngợi khen
Nhà ngọc không yên
Rõ ràng ôn hậu
Báo ứng thần thông
Giác tỉnh mê dân
Thú chìm ngục đóng
Nay bèn bắt đầu
Ai làm được thế
14 hưng công
Làm nhiều điều thiện
Núi non không biến
Lưu truyền mãi mãi.

Ngày tốt tháng 4 năm Kỷ Mùi niên hiệu cảnh thịnh thứ 7 (1799)

Năm 1902 sư cụ cổ Phạm Quang Tuyên được nhân dân Cổ Lễ đón về, cụ bắt tay ngay vào việc chuẩn bị xây chùa.Mới đầu cụ đúc một con trâu bằng vàng rồi đưa vào triều đình tâu với vua:Bần tăng ở Cổ Lễ bới đất nhặt cỏ thấy có vật lạ vào trình vua.Vua Khải Định tuổi Sửu nhận được con trâu bằng vàng phấn khởi hỏi:

- Bần tăng cần gì?

- Bần tăng muốn xây chùa ở Cổ Lễ .Vua cho chiếu chỉ xây ngay nhưng Cụ cũng chưa về ngay mà còn xuống các phòng của cung phi mỹ nữ để thông báo việc Cổ lễ xây chùa.các cung phi mỹ nữ đưa tiền tiến cúng cụ không nhận mà còn nói “tài dị sát nhân” và mơì các quan bà khi nào xuống móng thì về dự lễ động thổ.

Khi đã có chiếu chỉ xây chùa cụ về bàn với nhân dân và hương hào lý bá trong làng việc xin đất làm chùa,được nhân dân ủng hộ ,chính quyền cấp đất ở ngay vị trí gần chùa cũ nơi đất thiêng tụ linh tụ khí tụ nhân tụ đức ,có đất rồi,cụ chuẩn bị làm gạch nung vôi để xây chùa và bàn với xã quy ba ngôi chùa vào một (tam tự quy nhất tự)cho to đẹp phong cảnh.

Tự sư cụ đã hô hào đào ao vượt thổ lấy đất làm gạch vì vậy nên trong khuôn viên chùa có nhiều hồ , hai bên còn có sông nhỏ thông với sông Cổ Lễ để ngôi chùa tách khỏi khu dân cư cho thanh tịnh và nằm gọn trong cái võng sơn thuỷ hữu tình.

Năm 1920 chùa Cổ Lễ xây xong toà chính cung đúc ra pho tượng đồng cao 3 thước 7 quả chuông cao hơn 3 thước. Xây đền cất phủ, đắp đường, mở chợ, xây hai cây giả sơn, cuốn 5 trường kiều.

Chùa Chính hay còn gọi là Toà Chính cung cao 29m, một chiều cao hiếm thấy trong các chùa cổ Việt Nam.

Tường trước cửa chùa có 6 cột lục lăng rỗng, ba mặt trước cột có trổ lỗ chữ nhật, gắn kính màu mỗi khi thắp đèn sáng bên trong hiện lên các màu xanh đỏ tím vàng huyền ảo như màu cờ nước Phật. Sáu cột lục lăng này có lẽ người thiết kế muốn thể hiện Phật Pháp nói đến 6 trần: Sắc thanh, hương vị, xúc. Pháp vốn là những đối tượng của 6 căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu trần là cảnh bên ngoài, sáu căn là cảnh bên trong (nên cột rỗng), phải thêm vào 6 thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức mới sinh ra hiện tượng thân tâm. Tâm do ngoại cảnh sáu trần làm xao động, nên từ 6 căn sinh ra các nghiệp thiện, ác, tốt xấu. Phật Pháp gọi đó là tạo nghiệp. Nghiệp có phân thiện nghiệp và ác nghiệp. Người tạo nghiệp ác phải đọa trong ba đường dữ: Địa ngục, ngạ ngục, súc sinh. Còn tạo nghiệp thiện sẽ tái sinh làm người hay sinh lên cõi trời, hưởng thọ phưc báo nhân thiên. Song không luận là đoạ xuống hay sinh lên đều ở trong biển khổ luôn hồi sinh tử. Muốn giải thoát cần phải nhận thấy 6 trần vốn hư huyền, không thật, vô thường.

Kinh kim cang bảo:
Tất cả Pháp hữu vi
Như mộng huyền, bạt bóng

Nếu triệt được tính huyễn hoá không thực của thế giới 6 trần, thì ngay đó sẽ tự giải thoát. Bậc giải thoát tuy thân tâm ở trong 6 trần nhưng không bị 6 trần nhiễu loạn mê hoặc thì tự nhiên phiền não không sinh.

Chỉ 6 cột thôi đã là những bài học dài dài làm vậy.

Chắn hiên trên 6 cột có biểu tượng Phật lực được giải thích như sau: Theo Phật học quần ngư chữ là một trong 32 tướng đại nhân của Phật. Căn cứ kinh trường A Hàm nói nói là tướng đại nhân thứ 16, nằm trước ngực Đức Phật. Lại trong Tát giá- Ni- Khôn tử sở thuyết kinh quyển 6 nói đó là tướng tốt thứ 80 của đức phật thích ca. Trong thập địa kinh luận quyển 12 nói: Bồ tát Thích ca lúc chưa thành Phật, trước ngực đã có tướng chữ công đức trang nghiêm kim cương. Đây là tướng công đức trước ngực như người ta thường bảo. Song trong phương quảng đại trang nghiêm kinh (quyển 3) nói rằng: Tóc của đức Phật cũng có 5 tướng chữ . Trong Bộ Tì Mai Ra Tạp sự quyển 29 nói: Phật ở giữa hông cũng có tướng chữ . Thực ra chữ chỉ là ký hiệu mà không phải là văn tự. Nó biểu hiện sự biết tường vô lượng, gọi là kiết tường hải vân, lại gọi là kiết tường hỉ toàn. Do đó trong kinh đại bát nhã quyết 384 nói: “Tay chân và trước ngực đều có tướng kiết tường, hỉ toàn để biểu thị công đức của Phật”.

Ký hiệu có lúc quay qua hữu có lúc quay sang tả . Căn cứ theo Hụê Lâm Âm Nghĩa quyển 21 Hụê Uyển Âm Nghĩa và Kinh Hoa Nghiêm, tất cả có 17 chỗ nói chữ quay qua hữu. Song trong ĐÀ La Ni Tập kinh quyển 10 có mô tả hình trời Ma Lợi chỉ cầm quạt, trên quạt có chữ xoay qua phía tả. Lại còn tướng chữ dưới bàn chân của tượng Phật Dược sư ở Lai Lương Nhật Bản cũng xoay về phía tả. Nhưng theo ghi chép thì phần lớn là xoay về bên hữu . Những vị thần chủ yếu sớm nhất ở Ấn Độ như thần Tỳ Thấp Nô và Khắc Lợi Tân Na trước ngực đã có tướng chữ . Theo truyền thuyế của Ấn Độ cổ, phàm là chuyển luân Thánh Vương có thể thống trị thế giới đều có đủ ba mươi hai tướng đại nhân. Phật là vị thánh vương trong các Pháp, cho nên cũng có đủ 32 tướng đại nhân. Điều này có ghi trong kinh Kim Cương Bát Nhã. Trong thời cận đại, tướng chữ xoay qua hữu hay qua tả thường xảy ra tranh luận. Đại đa số cho rằng xoay qua hữu là đúng, xoay qua tả là sai. Nhất là vào thập niên 40 thế kỷ XX, Hitle ở Châu âu cũng sử dụng chữ để làm biểu tượng cho chủ nghĩa quân Phiệt của mình. Từ đó về sau càng có nhiều tranh luận hơn nữa. Có người bảo Hitle dùng chữ xoay về phía tả còn của Phật giáo là xoay về bên hữu. Thực ra vào thời Đường, Hoàng Hậu Võ Tắc Thiên đã từng sáng tạo ra một chữ đọc âm là nhật, ý tượng trưng cho mặt trời. Chữ đó xoay về phía tả. Hitle dùng chữ nghiêng còn Phật giáo dùng chữ thẳng. Còn như Ấn Độ giáo thì cho rằng xoay qua hữu tượng trưng cho nam thần, xoay qua tả tượng trưng cho nữ thần. Còn Lạt Ma giáo ở Tây Tạng là dùng chữ xoay về phía hữu, Bon-Pa giáo dùng chữ xoay về phía tả.

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Quang Đảo Đốc trường Đại học Quốc Sĩ Quán ở Nhật, chữ vốn không phải là văn tự. Đến thế kỷ VIII trước công nguyên mới thấy ghi chép trong Bà La Môn giáo, đó chính là lông trước ngực của chủ thần Tỳ Thấp Nô. Ký hiệu đó được gọi là VATSA mà không phải là văn tự. Đến thế kỷ III trước công nguyên ký hiệu này mới được dùng trong kinh Phật. Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên lại đổi tên là SVASTICÔ, vốn là tướng lông xoắn ốc trên đầu bò, diễn biến thành tướng lông xoắn trước ngực thần Tỳ Thấp Nô, về sau trở thành một trong mười sáu tướng đại nhân, rồi lại trở thành một trong ba mươi hai tướng đại nhân.

Tóm lại, trong Phật giáo, không luận là xoay qua hữu hay qua tả, chữ luôn tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ vô hạn của Phật, xoay vòng tượng trưng cho Phật lực vận tác vô cùng, lan toả khắp bốn phương vô cùng vô tận không ngừng không nghỉ, cứu độ vô lượng chúng sinh trong mười phương cho nên không cần phải chấp, thắc mắc hình chữ xoay qua hữu hay qua tả.

Trên nóc nhà có đôi rồng chầu hoa sen, dưới có ba chữ đại tự lớn là Đại Từ Phụ nghĩa là: Người cha rất hiền lành. Hai bên nối vào giải vũ đắp hai con rồng rất lớn chầu vào toà chính cung. Vào trong chùa, trước khi ngắm những vòm tròn mái cong, trên trần trang trí hoạ tiết màu sắc rực rỡ như những tấm thảm kiểu Ba-tư, ta thấy ngay trên thượng điện có tượng Phật Thích Ca rất lớn cao 4m rộng 3,5m bằng gỗ sơn son thếp vàng. Đặc biệt ở chùa Cổ Lễ việc xếp đặt tượng Pháp không nhất tuân thủ cứng nhắc theo một qui định cổ điển nào mà có sự bố cục sáng tạo cho phù hợp với nội dung thờ. Vì như hai bậc dưới chỉ có hai pho tượng phật thời hiện tại và vị lai. Trước bát hương công đồng thờ chung cho thế giới Phật là toà Cửu Long to, cao gần 2m được kiến tạo như một vòm trời, có chín con rồng uốn lượn tạo thành động nhỏ. Chín con rồng ở chín tư thế khác nhau, vừa kết cấu thành động, vừa tạo thành điểm để các pho tượng nhỏ của thế giới Phật đứng hoặc ngồi phía trong cũng như phía ngoài toà Cửu Long, làm tôn thêm vị thế pho tượng Thích Ca lúc sơ sinh. Thích Ca sơ sinh tạc như cậu bé cởi trần, mình cuốn khố, tay phải chỉ xuống, tay trái dơ hai ngón chỉ lên như khẳng định vị thế của Phật: “Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời, dưới đất, giữa có Phật).

Hai bên tả hữu phía sau toà Cửu Long là các pho tượng Kim Đồng Ngọc Nữ y phục trang nghiêm, phong cách chững chạc đứng nâng hoa chầu hầu làm cho nghi thức thờ cúng Phật được trang nghiêm tôn kính.

Bên dưới bệ của thượng điện là động Phật Niết Bàn có tượng phật to bằng người thật nằm nghiêng trong ánh đèn lung linh mờ ảo yên tĩnh. Hai bên tả hữu chính cung là hai nhịp cầu thang lên xuống ôm lấy thượng điện một cách đối xứng hài hoà. Lên 24 bậc nữa cộng với 9 bậc từ sân lên nền nhà là 33 bậc (chữ sinh) ta tới cung đằng sau Thượng điện thờ Phật là cung thờ Nguyễn Minh Không, ông là Nam Thiên Thánh tổ, được triều Lý phong là Quốc sư.

Công đức tại triều danh tại sử
Tình lưu Cổ Lễ phúc lưu dân.

Người thiết kế làm nơi thờ tự ngài theo kiểu tiền Phật hậu Thánh. Chính giữa cung là cỗ khám gian rất lớn làm phông cho ngôi tượng ngài ngồi giữa sơn son thếp vàng cao chừng 70 phân. Trong cỗ khám sơn son thếp vàng còn lưu giữ một trống đồng trơn (tương truyền từ đời Lý), một túi đựng đồng là biểu tượng nhắc lại sự tích Nguyễn Minh không sang Bắc Quốc quyên đồng, một lá cờ thần hai mặt đều có chữ là Nam Thiên Thánh tổ mặt kia ghi: Lý triều Quốc Sư.


... Còn Tiếp ...

. Đăng ngày 12.05.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .