JACOBUS HENRICUS VAN HOFF
(1852-1911)

Nửa cuối của thế kỷ XIX là buổi chiều tà của thời kỳ các nhà bác học toàn năng, vì ở thời gian này sự chuyên môn hoá theo ngành hẹp đã bắt đầu. Giữa lúc đó lại xuất hiện một ngôi sao hôm sáng chói trên bầu trời hóa học là Jacobus Henricus van Hoff (Hà Lan). Khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, cậu Henricus hay mơ mộng, say mê thi ca và âm nhạc, đã viết những bài thơ làm xúc động bạn bè cùng lớp. Ông đến Bonn (Đức) để học Kekule, đến Paris để học Wurtz . Ông là cha đẻ của ngành hóa học lập thể , sáng tạo và hoàn chỉnh lý thuyết về cân bằng hoá học, về tốc độ phản ứng trong thuyết điện ly, về mối quan hệ giữa áp suất thẩm thấu và áp suất hơi. Hai cuốn sách Van Hoff viết là “Nghiên cứu về động lực học hóa học” (in năm 1883), “Những định luật của cân bằng hoá học” (in năm 1886) đã làm ông trở thành bất tử. Ông được giải Nobel hóa học năm 1901.

Năng khiếu thi ca và khoa học tự nhiên không bài trừ lẫn nhau

Có lần Robert Jung nói với cha đẻ của quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới là Oppenheimer:

- Tôi nghe nói anh làm thơ cũng giỏi như làm Vật lý học. Anh làm thế nào mà phối hợp được hai môn đó. Trong khoa học người ta cố gắng nói sao cho mỗi người hiểu được cái gì trước đây chưa biết, còn trong thơ thì đúng là ngược lại.

Năm 1877, Van Hoff là giáo sư hóa học, khoáng vật,và địa chất ở đại học tổng hợp Amstecdam, ông đã nói về vai trò của trí tưởng tượng trong khoa học trong buổi giảng đầu tiên trước sinh viên:

- Trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo khoa học bao giờ cũng song song với nhau, trí tưởng tượng không chỉ quyết định các phát hiện lý thuyết mà còn rất quan trọng cho việc bố trí các thực nghiệm.

HENDRIK ANTOON LORENTZ
(1853-1928)

Hendrik Antoon Lorentz sinh ở Arnheim, Phần Lan. Tối tối, cậu bé Hendrik thường nghe mẹ kể những câu chuyện cổ tích hấp dẫn và cảm động. Bỗng nhiên, mẹ qua đời đột ngột, cậu học trò tiểu học phải tự lo liệu việc học, vì bố suốt ngày tưới cây, vun gốc ở trong trang trại của gia đình. Trong thời niên thiếu, cậu Hendrik học giỏi Vật lý, thích đọc tiểu thuyết Anh thời Nữ hoàng Victoria-“ Thời đại hoàng kim” trong lịch sử nước Anh. 1870, Lorentz học Toán, Vật lý, Thiên văn ở Đại học Tổng hợp Leiden. Ông đạt học vị Tiến sĩ năm 1875. Từ 1877 ông là Giáo sư vật lý lý thuyết ở Đại học Leiden. Nhà vật lý học Hà Lan Hendrik Antoon Lorentz là tác giả thuyết điện từ về vật chất. Hendtik Antoon Lorentz là giáo sư ở Đại học tổng hợp Leiden (1877-1923), rồi giám đốc nghiên cứu ở Học viện Haarlem. Cùng với học trò là Zeeman, ông nghiên cứu ảnh hưởng của từ tính đối với hiện tượng bức xạ. Bằng thuyết điện tử của Lorentz, các nhà khoa học giải thích được các hiện tượng hấp dẫn điện kim loại, sự tán sắc ánh sáng, sự thay đổi tần số các vạch quang phổ phát ra bởi một nguồn, khi nguồn được đặt trong một từ trường đủ mạnh (hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Zeeman). Năm 1903, để giải thích thí nghiệm của Michelson , ông đưa hiện tượng bức xạ do Fitzgerald gợi ý- vào lý thuyết và công nhận thêm rằng bản thân thời gian không thể đo bằng một số lượng giống nhau khi hệ thống bất động hay khi nó được thúc đẩy bởi một động tác tịnh tiến. Kết quả này là nguồn gốc của cách mạng tương đối luận. Ông nhận giải Nobel vật lý năm 1902 cùng với Zeeman.

Lorentz nổi tiếng với công thức biến đổi (được gọi là Công thức biến đổi Lorentz) : công thức biến đổi cho phép đưa những hiện tượng có trong không gian và thời gian vào các phép tính.

Những phẩm chất của một nhà khoa học

Cậu bé Hendrik thường xuyên đi lễ nhà thờ của người Pháp. Nhờ chăm chú lắng nghe cha giảng đạo, nghe các tín đồ người Pháp nói chuyện với nhau, nhẩm phát âm theo, nên cậu phát chuẩn và nói tiếng Pháp lưu loát. Đức tính khiêm tốn, chịu khó lắng nghe đi theo Lorentz suốt cuộc đời làm khoa học. Mặc dù đã rất nổi tiếng với tư cách là một nhà vật lý lớn của thế giới, ông vẫn cùng học trò thân tín của mình Pieter Zeeman nghiên cứu, kiểm chứng thuyết điện từ. Lorentz là người đưa ra lý giải mối quan hệ giữa ánh sáng và từ trường, nhưng Zeeman là người phát hiện ra mối quan hệ ấy mà không sao giải thích được. Tôn trọng tinh thần sáng tạo trong khoa học, Lorentz kiên quyết đặt cho phát hiện của học trò là “Hiệu ứng Zeeman”. Về những thành quả đạt được trong khoa học, Lorentz hài hước nói:

- Tôi cảm thấy rất hạnh phúc, bởi tôi thuộc một dân tộc quá ư nhỏ bé để có thể thực hiện được “những điều ngu ngốc lớn”.

Đối với nhà khoa học, kết quả là chứng minh hùng hồn cho lao động khoa học của mình, vì vậy người kế nhiệm cũng được chọn theo tiêu chí ấy. Lorentz và Einstein giới thiệu Paul Ehrenfest của Đại học Bách khoa Saint Peterburg sang kế nhiệm Lorentz tại Đại học Leiden. Nhắc đến Ehrenfest, ngày nay người ta nhớ tới “Phương trình Ehrenfest”; “Giả thuyết đoạn nhiệt Ehrenfest”; Lý thuyết Ehrenfest-Oppenheimer”…









© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 23.04.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com