BỐ THÍ và BỐ THÍ BA LA MẬT





Từ  rất lâu, chúng ta thấy việc Bố Thí hay còn gọi là “làm Từ Thiện” khá phổ biến trong nhiều giới. Từ hoa hậu cho đến các nghệ sĩ, ca sĩ. Từ những doanh nhân cho đến những thương gia, tiểu thương, tập thể y, bác sĩ ở những bệnh viện… Tự mỗi cá nhân hay lập thành nhóm, cách này hay cách khác, giúp đỡ những người đang gặp khó khăn trong cuộc sống. Những việc làm tốt đẹp như thế, dù dưới hình thức, động cơ nào cũng rất là đáng quý, đáng trân trọng, nói lên nghĩa tình “lá lành đùm lá rách”. Người đang trong hoạn nạn mà thấy mọi người quan tâm chia sẻ với mình thì ấm lòng biết bao. Thế nhưng lại có câu Kinh: “Vong thiết Bồ Đề Tâm, tu chư thiện nghiệp thị danh ma nghiệp”, có nghĩa là nếu thiếu cái tâm Bồ Đề thì làm thiện nghiệp là tạo ma nghiệp, làm cho nhiều người hoang mang! Tại sao làm nghiệp thiện mà lại là ma nghiệp? Chúng ta nên hiểu điều đó ra sao?

Đức Thích Ca khi quan sát vòng Luân Hồi, thấy rằng những việc mà mọi người làm trong lúc Vô Minh sẽ không ra ngoài 6 con đường gọi là LỤC ĐẠO, là: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Nhân, A Tu La, Thiên. Người tạo nghiệp thuần thục trong đường nào thì khi bỏ thân xác sẽ thọ lấy cái Thân mới theo l trong 6 đường đó. Vì vậy, Ngài bày ra Luc Độ, là 6 việc làm để hóa giải 6 con đường này, gồm có: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ. Mỗi “Độ” nhằm tháo gỡ một đường.

Người mang Nghiệp Ngạ Quỷ là những người nghèo khổ, túng thiếu, đói khát. Hoặc dù có tiền của những không thể ăn, uống được như người bị  những chứng bệnh làm cho việc ăn uống trở thành khó khăn, bị những cơn đói khát hành hạ.

Bố  Thí cũng là để hóa giải cho tính tham lam, bỏn xẻn, ích kỷ. Theo Đức Thích Ca, nguyên nhân của nghèo đói, thiếu thốn là do kiếp trước tham lam, bỏn xẻn, chỉ biết thu gom, vun vén, không biết bố thí, giúp đỡ cho người khác nên không khác nào người không biết để dành tiền bạc tất nhiên phải nghèo đói. Mà đã nghèo đói, cái ăn còn không có thì làm sao giúp được cho người khác? Vì thế lại tiếp tục khó thoát nghiệp đó ở kiếp tới. Do đó, Ngài dạy chúng ta nên giúp đỡ cho người khác như một hình thức tích lũy cho những kiếp về sau.

Những người PHÁ GIỚI thường gây những Nghiệp nặng nên phải rớt vào Ba đường đau khổ nhất trong 6 đường, gọi là Tam Đồ, tức là Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh. Vì vậy, người Trì Giới một cách nghiêm túc sẽ được bảo vệ, không phải rơi vào các đường dữ đó.

Người không làm chủ được hành vi, lời nói, dễ nóng nảy, hay gây gổ, hiếu thắng, gọi là SÂN, SI. Theo Đức Thích Ca. Những người này dù là con người, gọi là đường Nhân, Hoặc ở đường thiên, là Thần, gọi là A Tu La thì cũng dễ nóng nảy, hay gây gổ, tranh chấp với người khác, vì thế, cần có hạnh Nhẫn Nhục để đối trị.

Nghiệp Súc Sinh là người dù không trực tiếp mang cái thân của các loài vật, nhưng tâm trí, hành động thì  đa phần thấp hèn, thích làm theo bản năng, gọi là  Nhân Súc Sinh.

Tất cả 6 Đường đều do Vô minh mà hành động nên rất cần có TRÍ HUỆ tức là sự sáng suốt để biết cách mà tự chỉnh sửa lại.

Mỗi con đường đều có tính cách của 6 đường kia. Thí  dụ như đường NHÂN thì cũng có Nhân  Địa Ngục, tức là những con người nhưng luôn bị  đau khổ bức bách vì bịnh tật nơi nội thân hay luôn bị truy đuổi bức hại, bị hành hạ, đánh đập, khổ sở không yên.

Nhân Ngạ Quỷ, là người bị Nghiệp đói khát, thiếu thốn hành hạ.

Nhân Súc Sinh là những người nhưng hành vi thấp hơn con người, thiếu những tính cách cần có của một con người là Nhân, nghĩa, mà chỉ biết tham lam, tìm cầu để đáp ứng cho những dục vọng tầm thường, thấp hèn.

Nhân A Tu La là những người hay nóng tính, lúc nào cũng gây hấn, thích hơn thua, tranh chấp.

Nhân Thiên là những người mang tư tưởng hướng thiện, thanh cao, tao nhã, được hưởng cuộc sống đầy đủ phước báo, an nhàn.

Theo Đức Thích Ca, 3 đường dưới là Địa Ngục, Ngạ  Quỷ, Súc Sinh nghiệp quá nặng, vì thế rất khó thoát. Khi muốn phát tâm tu hành thì cũng khó  thành công. Vì vậy cố gắng sao để đường rớt vào 3 Nghiệp này. Do đó, BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC là 3 việc cần làm cho người muốn Thoát Ác Nghiệp.

Bước đầu vào tu Phật thì người tu được hướng dẫn cho Thoát ÁC NGHIỆP, bằng những phương cách để  đối trị, để không phải rơi vào những con đường ác. Hoặc đang lỡ ở trong đường Ác rồi thì càng phải TINH TẤN hơn trong các pháp đối trị để thoát ra.

Nhưng tu hành theo Đạo Phật không chỉ là CẢI ÁC, HÀNH THIỆN, mà còn phải Thoát cả Thiện, Ác. Ngài BỔN TỊNH Thiền Sư có Kệ:

“Bỏ  ÁC đưa về đâu?

Lấy LÀNH ai giữ đó?”

Có  nghĩa là dù BỎ ÁC, cố gắng tạo THIỆN NGHIỆP thì cũng vẫn là CÒN CÁI TA. Còn làm để TA không bị đọa, hay cố gắng làm tốt để TA và CON CHÁU TA ĐƯỢC HƯỞNG thì vẫn là còn TA, mà Còn Ta SINH - dù là để HƯỞNG - thì tất nhiên vẫn còn Ta TỬ, là chưa thoát được vòng LUÂN HỒI. Vì thế mà có câu Kinh: “Vong thiết Bồ Đề Tâm, tu chư thiện nghiệp, thị danh ma nghiệp”, có nghĩa là làm thiện Nghiệp mà thiếu cái tâm Giải Thoát - tức là làm mà còn mong cầu - là tạo ma nghiệp, vì vẫn nối tiếp con đường Sinh, Tử.

TÂM BỒ ĐỀ tức là cái TÂM GIẢI THOÁT. Cái Giải Thoát này phải THOÁT luôn cả CÁI TA, tức là chỉ nên BỐ THÍ là chỉ vì TÂM TỪ, vì muốn giúp đỡ cho hoàn cảnh nào đó, không nhằm tích lũy phước báu hay mua danh, muốn được nhiều người biết đến.

Với những người thấy Kinh viết rằng “Bố Thí cho chùa chiền hay những người tu hành thì sẽ được công đức vô lượng”, nên họ chỉ nhắm vào đó để bố thí, không ngó ngàng tới những hoàn cảnh cần giúp đỡ khác. Như thế không khác nào là trao đổi, muốn bỏ vốn một mà lời gấp muôn vạn, thì Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy: “Này thiện nam tử! Cũng vậy, Bồ Tát nếu lúc làm việc bố thí phân biệt người thọ là trì giới hay phá giới, nhẫn đến phân biệt quả báo thời chẳng bố thí trọn vẹn.

Nếu chẳng bố thí trọn vẹn thời chẳng đầy đủ Đàn Ba La mật. Nếu chẳng đầy đủ Đàn Ba La mật thời chẳng đặng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Này thiện Nam Tử ! lúc làm việc Bố  Thí, Bồ Tát đối với chúng sanh lòng từ  bình đẳng tưởng như con mình. Lại lúc làm việc Bồ  Thí, đối với các chúng sanh Bồ  Tát sanh lòng thương xót như  cha mẹ săn sóc đứa con đang đau ốm. Lúc làm việc bố thí, lòng Bồ tát vui mừng như cha mẹ thấy con lành mạnh.

Sau khi đã bố thí, lòng Bồ  Tát buông bỏ như cha mẹ  thấy con khôn lớn đã có  thể tự sanh sống (ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Q.1 TR. 511).

Kinh DUY MA CẬT viết về Bố Thí như sau: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi là đầy đủ pháp thí vậy”(DMC tr. 89)

Đã có LỤC ĐỘ, nhưng cũng có LỤC ĐỘ BA LA MẬT. Nghĩa của Ba La Mật là Qua Bờ Bên Kia. Vì vậy, Lục Độ này mới có tác dụng đưa người làm đển Giải Thoát rốt ráo.

Thế  nào gọi là hành LỤC ĐỘ BA LA MẬT?

Trong Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận, Văn Thù Sư Lợi Bồ  Tát hỏi Phật:

“Thế nào gọi là tu chứng được sáu Pháp Ba La Mật?

Phật  đáp: “Nếu có chúng sinh nào hay bỏ  ruợu thịt không dùng. Hay bỏ  của cải không ham. Hay bỏ  ân ái không luyến. Hay bỏ  nhơn ngãi không tranh. Người ấy gọi là KẺ ĐỆ NHẤT BỐ  THÍ BA LA MẬT.

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào hay giữ  GIỚI của Phật không phạm, hay tập oai nghi của Phật, hay hàng phục được Sáu căn, hay đoạn trừ được tà mị. Người ấy gọi là Đệ Nhị Trì Giới ba La Mật.

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào hay chịu  được người chê bai, hay nhịn  được người mắng nhiếc, hay lấy chơn chánh đối với tà phi, hay lấy thuận thảo đối với trái nghịch. Không những hoàn toàn không oán hận mà còn tìm cách cứu độ kẻ thù. Người ấy gọi là Đệ tam Nhẫn Nhục Ba La mật.

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào hay học  được 12 Bộ Kinh của Như  Lai. Thọ trì, đọc, tụng, viết chép, giảng giải. Chưa thông cần phải thông. Chưa chứng cần phải chứng. người ấy gọi là kẻ được Đệ Tứ Tinh tấn Ba La Mật.

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào hay trừ  được hôn trầm, tán lọan, hay tu Thiền  Định, sức định vững vàng như  núi, tà ma quấy rối không tán loạn. Người ấy gọi là kẻ được Đệ Ngũ Thiền Định Ba La Mật.

Lại nữa, nếu có chúng sinh nào hay phá  được Vô Minh. Không chấp các tướng. Giáo lý  Phật Pháp đều thông. Bặt dứt hết thị  phi, ngôn ngữ đứng đắn, văn tự  rõ ràng. Người ấy gọi là  kẻ được Đệ lục Trí  Huệ Ba La Mật.

Người nào hay đầy đủ SÁU pháp BA LA MẬT  ấy thì nguời đó  đã ra khỏi sanh tử, đến bờ  Giải Thoát bên kia, gọi là  vượt ra Ba Cõi, lên Thập  Địa, vào Kim Cang, thành Chánh Giác”.

BỐ  THÍ BA LA MẬT liên quan đến BẢY BÁU mà ta thấy mô tả ở TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC.

Văn thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Phật:

“Thế nào gọi là một thân có BỐ THÍ BẢY BÁU?

Phật  đáp: CHẲNG THAM LÀ BỐ  THÍ.

Như  Mắt không tham Sắc tốt  đẹp. Đó là SẮC BÁU BỐ  THÍ.Tai không nghe âm thanh vi diệu  đờn ca xướng hát hay ho. Đó là  THANH BÁU BỐ THÍ. Mũi chẳng tham ngửi mùi thơm tuyệt diệu, đó là HƯƠNG BÁU BỐ THÍ. Lưỡi chẳng tham lương mỹ vị thượng hảo. ĐÓ LÀ VỊ BÁU BỐ THÍ. Thân chẳng tham áo quần lụa là tốt đẹp. Đó là XÚC BÁU BỐ THÍ. Ý chẳng tham danh lợi ân ái. Đó là PHÁP BÁU BỐ THÍ. Tánh chẳng tham dục lạc thế gian. Đó là PHẬT BÁU BỐ THÍ.

Người nào hay ngộ được trong thân mình có  đủ BẢY BÁU BỐ THÍ  ấy sẽ được phước đức lớn hơn  đem bảy báu trên thế gian này mà  Bố Thí: như vàng, bạc, trân châu, mã  não, san hô, hổ phách... mà bố Thí ngàn muôn phần cũng không thể nào so sánh kịp với sự Bố Thí Bảy Báu trong thân muôn một”.

Đó cũng là lý do vì sao ta thấy TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC được mô tả toàn bằng BẢY BÁU. Và sở dĩ Phật mô tả kết quả của sự THÍ XẢ những dính mắc trong THÂN, TÂM như vậy, bởi vì mọi người từ khi ý thức cuộc sống thì luôn ôm giữ những ham thích nơi Lục Căn không thể rời bỏ nên Ngài ví như người ôm giữ CỦA BÁU. Vì thế, Bảy Báu nơi Tây Phương Cực Lạc chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, không phải là những thứ châu báu của trần gian. Bởi vì Phật là vô tướng, do “vô lượng công đức mà thành” thì làm sao nhận những của báu hữu vi do con người dâng cúng?

Cúng những thứ ngoại thân, cho ngoại Phật thì đó chỉ là tích lũy PHƯỚC ĐỨC. Chỉ khi thí  xả những dính mắc nơi chính Thân Tâm của mình mới gọi là làm CÔNG ĐỨC, vì việc làm đó góp phần tẩy, rửa, vun bồi, hoặc gọi là tạc tượng Phật, là thiết lập Cõi Phật nơi Tâm của mình. BỐ THÍ BA LA MẬT được gọi là BỐ THÍ TAM LUÂN KHÔNG, tức là KHÔNG CÓ CỦA CHO, KHÔNG CÓ NGƯỜI CHO, KHÔNG CÓ NGƯỜI NHẬN. Bởi của thí xả cũng là CỦA MÌNH. Người CHO là chính Mình, và người nhận cũng là CHÍNH MÌNH, và kết quả đạt được là chính bản thân người làm công việc Thí xả đó được hưởng kết quả là GIẢI THOÁT.

Dù  rằng những việc làm từ thiện khi còn mang thân tướng, chúng ta cũng rất cần làm, vì giúp đỡ nhưng người kém may mắn hơn ta đó là trách nhiệm giữa con người và con người với nhau, để cuộc sống được tốt đẹp hơn. Nhưng nếu lấy đó làm công năng tu hành thì hoàn toàn sai lầm. Cho nên chúng ta cần hiểu cho rõ, để đừng hiểu lầm, y theo văn tự rồi dùng vàng bạc, ngọc ngà, châu báu thế gian của cái đi giúp người hay bố thí cúng dường cho chùa chiền, sư tăng, làm Phước Đức mà tưởng đó là làm Công Đức. Cho rằng không đủ điều kiện để tu hành thì tích cực làm những việc đó thay vào. Điều hiểu lầm này cũng được nêu ra trong Pháp Bảo đàn Kinh khi Vi Thứ Sử lập lại câu hỏi của Vua Lương Võ Đế hỏi Tổ Đạt Ma: “Trẫm trọn đời cất chùa độ tăng, đãi chay làm phước có Công Đức gì chăng? Tổ Đạt Ma đã trả lời: “Thiệt không có Công Đức”. Lục Tổ đã giải thích cho Vi Thứ Sử rõ: “Công đức ở trong pháp thân chớ chẳng phải ở chỗ tu phước”. Công Đức Pháp Thân chính là Lục Độ Ba La Mật được giải thích trong Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận trích dẫn phía trước.

Trong Bài Kệ dạy tu Lục Tổ cũng nói: “Năng làm phước giúp người lợi lạc. Đạo nào do thí bạc mà thành”, để nói về những người dùng của cải Bố Thí cho nhiều, tưởng đó là đang tu hành, tưởng rằng càng làm nhiều chừng nào thì mau được đạo chừng đó! Không biết rằng, dù có mang hết tài sản ra để bố thí trong vô lượng kiếp thì cũng không xóa được tội, nghiệp đã gây tạo. Bố thí của cải hữu vi cũng không có ý nghĩa gì đối với việc tu hành, vì kết quả chỉ là phước báu sẽ được hưởng kiếp này hoặc những kiếp về sau. Vì vậy, chúng ta cần phân rõ đâu là PHƯỚC ĐỨC hữu vi, đâu là CÔNG ĐỨC VÔ VI. Chính CÔNG ĐỨC VÔ VI mới là công năng tu hành, có tác dụng đưa người làm sang BỜ GIẢI THOÁT. Xả những dính mắc nơi Lục Căn hay Bố Thí Ba La Mật, là hành giả đang tích góp châu báu để trang hoàng cho TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC của chính mình. Đó là ý nghĩa của Thành Phật hay Giải Thoát vậy.

 
______________________________________________





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 14.04.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .