TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN VĂN HOA


Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).









Ô Quan Chưỏng - HàNội





GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM


. PHẦN THỨ 3 .




Nhưng từ năm 1888 , Hà nội biến thành nhượng địa của thực dân Pháp thì sự chi phối và ảnh hưởng của Triều đình nhà Nguyễn thực sự chấm dứt .
Nhưng theo tôi dấu ấn của văn hoá phong kiến trong thương mại vẫn còn rất rõ trong việc kinh doanh hàng hoá liên quan đến tâm linh của người Việt nam. Đó là bản sứac văn hoá của phong kiến Việt nam còn sót lại tại Việt nam.
2.2 Yếu tố thứ hai xâm lược của thực dân Pháp :

Từ giữa thế kỷ 19 , hải quân Pháp ,có hải quân Tây ban Nha giúp sức , đánh vào Đà nẵng( 1847,1858 ) , đánh chiếm Gia Định ( 1859 ) miền Đông rồi miền Tây "Nam kỳ lục tỉnh " ( 1862,1867 ) và đánh raphía Bắc , đánh vào Hà nội ( 1873 ) . và 1883 triều đình Huế mất đất rồi mất toàn bộ chủ quyền .
Về khía cạnh thuần tuý thương mại từ khi xâm lược của thực dân Pháp đã kích thích ngoại thương Việt nam phát triển vựot bựcso với các thời kỳ trước đây của Việt nam. Nó tạo sự phát triển vượt bực về chất đối với kinh tế hàng hoá Việt nam từ kinh tế tực cung tự cấp thực sự tham gia vào phân công lao động quốc tế thông qua xuất nhập khẩu Dĩ nhiên động cơ thu lợi nhuận cũng khác xa với các thời kỳ trước. Như vậy vị thế của thương nhân đã khác trước . Trật tự xã hội xưa Sỹ- Công - Nông -Thương theo tôi đã bị đảo lộn.
1802 Nguyễn Anh lên làm vua do được tư bản Pháp giúp sức.
1840 trong hạt không có ruộng công ,các nhà giầu đã bao chiếm ruộng tư đến ngàn trăm mẫu ,dân nghèo không được nhờ cậy.
Năm 1524 Bồ đào nha dòm ngó đến Hội an; năm 1702 Công ty đông ấn của Anh chiếm đảo Côn lôn của Việt nam. Chúng bắt 200 lính Mã lai giữ đảo này. 1703 ta chiếm lại được đảo Côn lon
Công cụ đắc lực để xâm lược Việt nam là Hội truyền giáo nước ngoài của Pháp.1645 xin xây toà giám mục Pháp .1664 Hổi tuyền giáo nước ngoài Pháp được thành lập ở Pari. Thực dân Pháp đã kết hợp hoạt động cơ đốc giáo với nhà buôn. 1664 ra đời Công ty Đông ấn Pháp
Vua Louis thứ 14 uỷ quyền cho F.Dey giao thiệp với vua Lê chúa Trịnh để thiết lập thương điếm Pháp trên lưu vực sông Hồng.1669 xin lập thương điếm ở đàng trong.
Thủ đoạn Pháp dùng để xâm chiếm Việt nam là "Nhà buôn khoác áo giáo sĩ và lính xâm lược đi theo".
1638 phái viên Công ty Đông ấn Pháp báo cáo Chính phủ Pháp:" chiếm được đảo Con lon thì có lợi như chiếm đựoc cả 2 eo biển Bông dơ và Malacca vậy.1748 Giám đóc Công ty Đông ấn đề ra kế hoạch chiếm cù lao Chàm trước cửa Hội an. 1771 Tây sơn nổi dậy : Ngày 28-11-1787 Hiệp ước Vac xay:nhượng Côn lôn ,Hội an và cho pháp độc quyền buôn bán ở Việt nam. Nhưng do Cách mạng Pháp 1789 nên hiệp ước Vec xay không thực hiện. Napoleon 3 cử xứ thần đến Huế đòi:" truyền đạo tự do,buôn bán tự do. 1859 nổ súng xâm lược vì Việt nam cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán.
1883 Pháp chiếm toàn bộ Việt nam. 1887 thành lập Liên bang Đông dương có chủ tịch các phòng thương mại và canh nông .
1888 thuế thương chính (Xuất nhập khẩu là thu ngân sách chung Đông dương) , Pháp độc quyền thuốc phiện giá 77 đôla ( 1899). 1903 độc quyền về muối .bán hết cho nhà nước chịu thuế mới được tiêu thụ. 1897 thuế 0,5 đồng /1 tạ muối; 1907 2,25 s/ một tạ muối. giá từ 1899 đến1906 tăng 5 lần ;thu ngân sách tăng `122gấp đôi.
1898 tự do nấu rươụ ,1902 có giấy phép và công ty pháp độc quyền nấu và bán rượu; Thu ngân sách Đông dương; 1899 : 29 triệu đồng ;1903: 32 triệu ;1911: 42 triệu đồng ;vay tiền chính quóc :1901: 728 nghìn ;1906: 4444 nghìn số tiền trả nợ tăng 6 lần
Từ 1896 -1914 mỗi năm đầu tư 28 triệu đầu tư vào Đông Dương.
1902 đầu tư vào thương mại 41,5 triệu fr ; 1903-1918 : 34 triệu fr bằng 15 % tư bản Đông dương ; thuế quan khiến cho tư bản Pháp phát triển
Sự xâm lược của Pháp về chính trị là xấu xa đã được chính sử của Ta phê phán quá đầy đủ .Nhưng theo Phạm Quỳnh thì : " văn hoá nước Pháp có thể làm một cái động cơ rất mạnh trong sự nghiệp cải tạo nước Nam sau này . .." và ông thừa nhận cách dạy học của người pháp sáng sủa , đích xác ,có lý luận ,có kết cấu , hay sáng nghĩ , hay biến báo .( Bài Văn hoá Pháp đối với việc chấn chỉnh tinh thần người Nam của Phạm Quỳnh trong cuốn Dương Quảng Hàm trang 222 Việt nam thi văn hợp tuyên , Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2001 , Tái bản theo đúng bản in lần đầu 1943 ).
Theo Trần Quốc Vượng thì Pháp đã mở ở Việt nam: Trường Pháp - Việt , trường trung học Bảo hộ , trường Hậu Bổ Học viễn Pháp về zVIễn đông ( 1901) và hệ thống Bảo tàng Bắc Trung Nam ,nhà hát lơn.ảnh hưởng của văn hoá Pháp vào Hà nội cũng còn rất sâu sắc như kiến trúc kiểu Pháp nay lại sống lại trên thị trường bất động sản( các khu đô thi mới kiểu biệt sự vẫn giống các biệt thự khu Ba đình ( Hà nội ) và biệt thư quanh Hồ Halle ( Thuyền Quang ) , hoặc như Nhà hát lớn đã tân trang lại như thời nó được xây vào đầu thế kỷ 20 . Rượu vang pháp vẫn được thương nhân và người tiêu dùng Hà nội tín nhiệm . Thậm chí rượu nho của ta mà còn quảng cáo " Mùi vị vang Pháp mang hồn Việt ?". Đám cưới Hà nôi vẫn dung nạp chữ Hỷ Tàu , Bộ Comlê- Caravát của Pháp .
Cuốn : Nhớ và Ghi nhà xuất bản Tác phẩm mới 1978 ; Theo nhà văn Nguyễn Công Hoan thì thời Pháp có nhiều điều ảnh hưởng đến ngưòi Việt nam ( trong đó có thương nhân Việt; Học sinh chỉ cần lịch sử Pháp , không cần học lịch sử Việt nam ( tr.9 ); ở Hà nội , nhà ai có ngwoif bị bệnh dịch , cũng phải giấu . Chết thì chôn lén chỗ nghĩa địa khác . ( tr.11 ) . THuế thân đánh vào nam giới từ 18 đến 60 tuổi; Thẻ nội tịch đóng 3 đồng , Thẻ ngoại tịch đóng 0,5 đồng . Sau Tây đánh đồng loạt thu 2đồng rưỡi . ( Tr.16 ); Ngưòi có quê huqương , ra ở Hà nội vì sợ bị tiếng bỏ làng , phải lấy thẻ làng. Muốn ở HaF NộI , LAáy thêm thẻ cư trú 0,5 đồng mới đựoc ở Hà nội . Tây lấy lý là ở Hà nội thì được hưởng những thứ như đèn điện, máy nước , đường đá , sự trị an ( tr. 17 ). Theo tôi ( NVH ) cách này thuần tuý về kỹ trị cũng hạn chế dòng chảy dân cư ra Hà nội . THời kỳ 1914-1918 Pháp đưa ngưòi Việt sang Pháp , ai có vợ ở nhà thì được hưởng 3 đồng một tháng . ( tr 18 ). Thuân tuý thương mại thì cũng là " kích cầu " và một kiểu xuất khẩu lao động trong chiến tranh . Năm 1945 nhà trọ vì rét quá nên đã đaò những cái hố cho khách nằm , rồi giải cát lên trên làm chăn. Sáng hôm sau , dậy , phải rũ cát rất lâu , quần áo mới khỏi bẩn . ( tr.19 ) .2003, Bây giờ Hà nội nhà nghỉ tràn ngập đường giải phóng , bên gia lâm và khắp các ngõ ngách , thâm chí đến khách sạn 5 sao . tây cũng cấm cờ bạc.( tr.20).
Nguyễn Công Hoan còn cho biết nhiều thông tin khác . Xe điện lên Bưởi đoạn Quần ngựa có rất nhiều ăn mày . Trông raqát thwong ( tr.20 ). Hồi ô tô chở khách Thái bình lên Hà nội còn hiếm .( tr.24).Hẻ 1937 Hà nội chưa có một trường nữ công nào , còn Sài gòn có vô số trường daỵ nữ công ( tr.40 ); Năm 1937 Ga Sài gòn chỉ nhỏ như cái ga sép của ga Hà nội . Hà nội chỉ còn vải mẩu thành .( cổ ) Tr.41); Năm 1917 có cao đẳng sư phạm và Pháp chính ( thay cho trường hậu bổ ) .Năm 1920 trên đường từ Hà đồng về Vân đình tỉnh thoảng vẫn thấy đàn bà kéo xe.( tr.56); Đường xe lửa xuyên Việt nam ( Hà nội - Sài gòn ) khánh thành tháng 10-1936.TRước đó chỉ có từng quiáng Hà nội - Vinh; Huế - Đà nẵng; Nha Trang đến Sài gòn ;

Yếu tố thứ ba :Sức mua của khách hàng tăng lên đột biến .

Yếu tố này nó bắt buộc thương nhân phải co phương thức phục vụ thích hợp . Ví dụ Quỹ lương của ngành Bưu điện chiếm 75 % ngân sách của ngành Bưu điện; lương to. quyền 60.000 đồng , cộng thêm 60 nghìn tiếp tân và kinh phí một toà nhà 500 nghìn fr. các tổng giám độc thương nghiệp 20 nghìn đồng Fr , lương của một người đóng sách 5000 đồng Fr / tháng . Do vậy đúng như Tú Xương mô tả mức sống của Công chức làm thời Pháp khá cao : " Sớm rượu Sâm panh , tối sữa bò " là bình thường . Lời ăn tiếng npói của thương nhân cũng khác . Phục vụ Pháp kiều phải biết tiếng Tây và chắc là phải lịch sự chưa không thể phục vụ theo kiểu :" Hàng thịt nguýt hàng cá " kiểu ngoài chợ Đồng Xuân . Số người Pháp tại VIệt Nam 1897:2860 người Pháp; 1902 : 3.778;1906:4.290; 1911 : 9.683 người.
Thế là hố ngăn cách giàu nghèo càng mở rộng và phong cách phục vụ truyền thống dân gian trước tồn tại cùng cách phục vụ phương Tây trên thương trường . Lời ăn tiếng nói thế là cũng chia hai ngả " một dùng tiếng Ta hai là dùng tiếng Tây ba là vừadùng tiếng Ta vừa dùng tiếng Tây " . Nếu thương nhân nào biết được tiếng Tây thì khách chắc chắn sẽ có lợi thế hơn . Phố hàng Gai hầu như thương nhân nào cũng phải biết tiếng Pháp ( hoặc thuê người bán hàng biết tiêngs Pháp ). Nếu không biết ngoài ngữ thì " ông nói Gà , bà nói Vịt" thì làm mà bán hàng được.

2.3 Yếu tố thứ tư là cơ sở Hạ tầng trong đó có giao thông vận tải phát triển đã thúc đẩy thưong mại Hà nội nói cung và Hà nội nói riêng phát triển đột biến :

Theo ông Lê Hữu Trác vào thế kỷ 18 trong thưọng kinh ký sự thì : Vượt sông Nhị Hà tới bên Bát Tràng đường khó đi lắm ( trang 145 ) .Khi từ quê lên Kinh đô : Vừa qua trưa mà đi đến canh hai mới đến bến đò Bát Tràng :Lúc này gió nổi rấtmạnh , sóng sông cuồn cuộn .Phải ngủ trọ lại và đén giờ Thìn hốmau mới về được Kinh .
Nếu vận chuyển hàng hoá bằng khoác bị cói , đội đầu ,vác , khiêng , gánh bằng quang thúng thì khối lượng hàng hoá rất ít và lưa thông với bán kính rất hẹp .Với các thuyền nhỏ thì bán kính lưu thông cũng chỉ quanh các chợ bên ven sông . Nhưng nếu giao thông phát triển thì hoạt động của ngành thương mại đã nhẩy vọt về lượng mà còn đột biến về chất .
Thời Pháp thuộc thì Đường bộ : Sài gòn Tây ninh ;Vinh Sầm nưa ;Hà nội-Cao bằng .1913 chỉ có 350 chiếc xe ( Hà nội ,Sài gòn ) .Xe điện có 23km ở Hà nội và Sài gòn ;Đường sắt có 1627 km trị giá 196 triệu fr. Đường thuỷ khai thông trên các tuyến sông Hồng hà,Thái bình ,Hậu giang và Đồng nai; 1914 có1745 km đường thuỷ chạy bằng máy hơi nước; 1860 cảng Sài gòn vào đầu thế kỷ 20 là loại cảng lớn nhất Viễn Đông; Hải phòng từ làng chài 1872 thành cảng lớn nhất phía Bắc và Phía nam Trung quốc; 1913 xk 29615 tân đi Hồng kông,Nhật bản ;Trung quốc và Pháp. Số tàu nước ngoài 1911 vào cảng Sài gòn 1000 tàu. Cảng Hải phòng có 380 tàu nước ngoài và 6.630 thuyền mành =147388 tấn .Gạo xuất khẩu 915.367 tấn ( 1900) và 1.286.804 tấn (1913). Theo Nguyễn Công Hoan thì 1914 chiếc máy bay đầu tiên của Pháp đến Việt Nam ( tr.101 Cuốn Nhớ và GHi Nhà xuất bản tác phẩm mới năm 1978 );
Thuyền Mành buôn bán qua các năm như sau (số thuyền tonneau (=2,83 M3) như sau 1906:116;1907: 39;1911:140;1912:198. NHờ đó sự buôn bán của thương nhân sôi động hơn.
Chưa kể thời Pháp đã có sân bay Bạch Mai và sân bay Gia lâm ,việc vận chuyển hàng hoá quân sự và phục vụ cho nhà binh cũng nhanh chóng hơn trước .
Đến nay thương nhân Hà nội có thể mua bán hàng hoá với cả nước và các nước bằng tất cả các phương tiện giao thông : Đường thuỷ , Đường bộ ( ô tô , tàu hoả ), hàng không, qua đường Bưu điện , qua phát chuyển nhanh toàn cầu , chưa kể qua Internet ,thư điện tử , điện thoại cố định , điện thoại công cộng bằng card, bằng điện thoại di động , Fax, máy nhắn tin ...

2.4 Yếu tố thứ 4 để bảo vệ lợi ích của mình , Pháp áp dụng chính sách phân biệt đối xử đối với hàng hoá :

Hàng hoá nhập khẩu của Pháp chỉ phải nộp thuế 2,5 % và hàng hoá nước khác khi nhập khẩu vào Việt nam phải nộp thuế 5 %. 1886-1913 Pháp bán sang Đông dương tăng gấp 4 lần và nhập của Đông Dương tăng 36 %;
Cán cân ngoại thương
đơn vị tính triệu fr Xuất khẩu - Nhập khẩu Tổng công
1899-1903 62 78 140
1909-1913 105 92 197
Pháp biến Việt nam thành thị trường tiêu thụ, cung cấp nguồn nguyên liệu và là nơi đầu tư.Mối người đông dương nợ Pháp 23,30 đồng đông dương ( 58,43 FR..Pháp xuất khẩu hàng hoá hơn xuất khẩu tư bản.
Theo Nguyễn Công Hoan trong cuốn NHớ và ghi nhà xuất bản tác phẩm mới 1978 thì thăng Tây lùn tên là La Montagne mở hiệu tạp hoá ở 13 phố Hàng gai , sau đến 82 cùng phố , rồi dọn đến chợ Đồng Xuân chỗ góc hàng Giấy - Hàng KHoai ( Bazarr du Grand marche ) ( tr.95 ).
Việt nam đến 2006 sẽ tham gia AFTA thì thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống 0-5 %. Rồi Việt nam gia nhập WTO thì phải mở toang thị trường xuất nhập khẩu . Việt nam chỉ còn được tự vệ đối với hàng hoá ở ba lĩnh vực Văn hoá - Môi trường - An ninh. Thương nhân nào kinh doanh hàng hoá ở ba lĩnh vực này thì mới được nhà nước dùng nhiều biện pháp Rào cản để bảo hộ .
Trong thời đại hội nhập không thể áp dụng chính sách bảo hộ trắng trợn kiểu Pháp như thời thực dân cũ. Dù Hiệp định thưong mại Việt - Mỹ đã có hiệu lực, nhưng trên thực tế Mỹ - Eu vẫn đang vu vạ Việt nam như các vụ Cá Ba sa - Bật lửa ga- Tôm- ... Từ đó cũng giúp cho thương nhân Hà nội già dặn hơn trên thương trường .

2.5 Yếu tố thứ 5 : Thương nhân Hoa kiều có vai trò không nhỏ tại Hà Nội:

Theo Phạm đình Hổ Vũ trung tuỳ bủttang 21 thì : ĐờiLê Trung Hưng mới đạc suốt dọc bến phường Hà khẩu ( nay là phố Hàng Buồm ) để cho Hoa kiều trú ngụ . phường Hà khẩu tiếp giáp sông Nhị ,liền với ngòi sông Nhị chảy vào sôngZ Tô ,hàng năm bờ sông bị nước xói. Các hiệu khách đều làm đơn xin tải đá làm mỏ hàn chắn phía thượng lưu , từ bấy giừo mới bớt bạn xói lở .Hàng gai , hàng Bạc ,hàng Mắm ,hàng Bè đều trở thành phố phường đô hội cả .
Theo PĐH :( trang 46) Ta( chắc không phải tác giả PĐH -NVH mà là chỉ Việt nam ? ) thường muốn kén chọn những ngwoif thiếu niên anh tuấn ở những làng đã quen làm nghề nghiệp như làng La Khê , Yên Thái , Bát Tràng , TRúc khê và các xã duyên sơn , cho cạo đầu hoá trang , theo khách buôn sang Trung Hoa đêm tiền bạc đi mà học lấy những nghềkheo. Người thì đến lò nung bát ở Hổ Giao , người thì đến phố dệt vóc ở Kim Lăng , cùng ở với ngwoif Trung Hoa , học lấyd trí khôn nghềkhéo của họ , hoặc đi đến các tỉnh Mân ,Tích , Kinh , Dương mua các thứ chè , cácthứ thuốc , xét cách trồng trọt , xem thổ nghi , khi nào xem xét đã tinh rồi thì trở về nước ,phân cho mỗi người coi một việc mà chế tạo ra đồ dùng ( trang 47 ) . Ông vấn vọng Tầu . ông sống khoảng 1768 -1839 ,Trong khi đó Alexandre de Rhodes xin viết tắt là ADR( 1591-1666 ) năm 19 tuổi đãthamgia Jéuité như kiểu võ si đạo của Nhật bản; đây làtổchứclựa chọn những ngwoif rất học thực , rất thông thái , rất tinh tiên s, rấtdũng cảm đi truyền giáo á châu . 1624 ADR đã đến miền Trung gặp chúa NGuyễn ,ADRhộc tiếng việt ông TRực , 6 tháng sau ông đã sử dụng được tiếng Việt như Philastre ( nóitiếng Việt với vua Tự Đức , viết Hán văn với quan triều NGuyễn và dịch Bộ Luật GiaLong ratiếng Pháp ).1627 raBắc kỳ gặp Trịnh Tráng .1640 đến Fifoo ( hội an ),và Thuận hoá gặpchúa Nguyễn PHúc Lan . 1652 ADR lên Paris gặp giáo sỹ đứng đầu Francois Fallu để thành lập Hội truyềngiáo ngoại quốc . 1654 choin cuốn DictionaireAnnamite-Latin-Portugaiss par Alexbre de Rhodes. ADRchết 1660 PĐH sinh1768 và chết 1839 .( Theo Nguyễn Tường Phượng Tri Tân 13-6-1941).
PĐh đưa ra một chuyện mà tôi đã nghe được nhiều lần hoặc đọc được nhiều lần qua các Gia phả : Khi xưa có một bà hoá chồng sớm , nhànghèo ,mở ngôi hàng nước ở bên đường .Một hôm , có người Hoa kiều đi đào của về , vào nghỉ , bỏ quên một gói bạc .Một lát , trởlại , bà lão đem đủ số bạc trả cho . Người Hoa kiều chia một số bạc đền ơn ,bà không nhận. Người Hoa kiều ấy cảm cái cao nghĩa mà bảo rằng : : " chỗ này co một ngôi đất , đời đời có người làm nên chức công khanh . Tôi muốn lấy ngôi đất đó đền ơn cho bà . NHưng PĐH thì cho rằng : người ta sinh ra bởi tự đâu lại ,màchết là bởi tự đâu đi chứ không phải cái thuật nhà địalý có thể xoay chuyển được . PĐH đã đến thăm ngôi mộ mà Hoa kiều " đền ơn cho bà lão " thì thấy : ngôi mộ phát tích thì thấy một khu đất lớn thuỷ hình vòng quanh vài mươi mẫu , trên vùng đất ấy ,chỗ lồi , chỗ lõm , chỗ mở , chỗ khép , hình thế cũng đẹp , chính giữa nổi lên một gò kim hình , chừng độ hơn mười bước , có một ngòi nước hình chữ nhất chảy ngang , rồi chảy vòng lại hình như chữ ất . Kiểu đất Cao Vương nói : Thuỷ loạn ất tục ( nghĩa lànước chảy vòng hình chữ ất ). PĐH không tin hoa kiều trảhơn cho bà bán nước ( cũng là một dạng thương nhân NVH ) không tham tiền hoa kiều bỏ quên , đặt mộ cho cháu ngoại làm đến công khanh Thượng Tư rồi vẫn bị CHúa Trịnh sinh nghi tay cầm giáo vàng đâm chết . Tôi biết nhiều thế hệ zVIệt nam vẫn tin ngwoif tầu yểmbùa để giấu vàngở nước ta. Quê tôi ồn ã nhiều lần về chuyện người tàu theo giao phả sdang đào vàng trộm. Ngay cả cầu Thăng Long dân gian cũng truyềntụng là tàu đào đựoc hàng chụcôtô vàng giấu ở dọc sông Hồng khi làm tầu rồiphả bạt đêm chạy về hai ngả Lào cai và Lạng sơn . Tôi cũng không biết là đúng hay sai > Để thấy ảnh hwongr của Tàu còn ám ảnh nhiều thế hệ Việt nam .
1883 Thực dân Pháp mới có 4 cửa hiệu ở Hà nội và 4 ở Hải phòng thì Hoa kiều đã có 112 cửa hiệu ở Hà nội và 26 ở Hải phòng.1883: Pháp 4 cửa hiệu ở Hà nội ,4 Hải phòng .
Đối với Hoa kiều , nhất Hoa kiều thương nhân có nhiều cách đánh giá của bậc tiền nhân khác nhau.
Hoàng Cao Khải cũng có bài Xét về việc quan lại người Tàu cai trị dân ta trong những hồi bắc thuộc , cho rằng Nhà Minh người nước ta ai mà nấu muối đã phải thuế rồi ,mà những kẻ bán kẻ mua lại đặt quan ra mà coi só Chẳng qua là mượn tiếng thêm thuế , để mà cầu lấy sự thăng thưởng ,mà không nghĩ sự phiền nhiễu cho dân ta. Hoàng Cao Khải chê trách ách cai trịcủa Tầu tại Việt nam .
Còn Phạm Quỳnh( 1890-1945 ): Thượng Thượng chi có hiệu nữa là Hồng Nhân , ngwoif làng THương Hồng phủ bình , tỉnh Hải dương ; từ năm 1913 , PHạm Quỳnh đã viết cho Đông Dương tạp chí . Tháng 7 năm 1917 , ông sáng lập tờ Nam phong và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của tờ báo này từ ngày ấy cho tới tháng 1 năm 1934( 17 năm ) . Năm 1919 , ông là một trong những sáng lập viên của Hội khai trí tiến đức . Năm 1932 , ông cùng đi với vua Khải định sang Pháp dự đấu xảo tại Marseille . Trong thời gian này ông có diễn thuyết tại trường Thuộc địa , trường ngôn ngữ đông dương , hội Đông phương ái hữu , hội Địa dư Paris và Hàn lâm viện luận lý chính trị Pháp . Khi trở về nước , ông được cử dạy khoa Hán Việt tại trường Cao đẳng Hà nội cho đến khi trường này đóng cửa ( 1924-1932); Về chính trị , ông là nghị viện trong Hội đồng tư vấn Bắc kỳ ( 1926 ) LÀM TỔNG THƯ KÝ VÀ SAU LÀ PHÓ HỘI TRƯỞNG HỘI ĐỒNG KINH TẾ VÀ TÀI CHÍNH ( THÀNH LẬP NĂM 1929 ) VÀ TỔNG THƯ KÝ CỦA HỘI CỨU TẾ ( 1931 ) . NGÀY 8-9-1932 , BẢO ĐẠI VỀ NƯỚC , ÔNG ĐƯỢC PHONG THƯỢNG THƯ BỘ HỌC VÀ TỔNG KIỂM SOÁT , ÔNG CHỦ TRƯƠNG CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ LẬP HIẾN TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ƯỚC 1884 . CHỦ TRƯƠNG NÀY BỊ NGUYỄN VĂN VĨNH PHẢN ĐỐI TRONG TẠP CHÍ ANNAM NOUVEAU . NĂM 1939 , ÔNG LẠI SANG PHÁP LẦN NỮA , LẦN NÀY CÙNG ĐI VỚI BẢO ĐẠI . NGÀY 9-3-1945 , NHẬT ĐẢO CHÍNH PHÁP , THAY THẾ HỘI ĐỒNG CẢI CÁCH PHẠM QUỲNH BẰNG NỘI CÁC TRẦN TRỌNG KIM . NGÀY 23-8-1945 BỊ CÁCH MẠNG TỬ HÌNH . ông bộc lộ rất rõ quan điểm của mình : Hải phòng có 8 991 người khách ,mà Chợ lớn 75.000 khách với 4873 Minh hương ;Hà nội có 3377 người khách với 825 người Minh hương mà Sài gòn có 22079 người khách với 677 người Minh hương .Coi đó thì biết cái nguy chó Namkỳ to dường nào .Song dù hơn dù kém ,dù ít ,dù nhiều ,cũng vấn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình ,quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi ,mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đuảtên thị trường thế giới .(Phạm Quỳnh -Mười ngày ở Huế NXB Văn học năm 2001 trang 85-86 );
Còn theo Trần Quốc Vượng , trang 139 Trên mảnh đất ngàn năm văn vật Nhà xuất bản Hà nội 2000 thì : " Tầng lớp thống trị Trung hoa xưa nay chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bành trướng xuống Việt nam , đưaViệt nam vào quỹ đạo Trung Hoa . Từ thế kỷ X , Việt nam đã đủ tinh thần , trí thông minh và nghị lực cùng thực lực để chống lại thế lực Trung Hoa. Tinh thần ấy , trí thông minh ấy đã chín muồi trong hàng ngàn năm -Bắc thuộc và chống Bắc thuộc . Nó được bén rễ trong niềm tin sâu sắc của người Việt với Lối sông riêng- Văn hoá riêng của mình rằng ta không phải là Tầu ( khách , chiệc ) . Ta không cần trở thành Tầu ( " ta tắm ao ta , tội gì gánh vàng đi đổ sông Ngô ") .
Triều đình nhà Nguyễn còn sử dụng Hoa Kiều mua hàng hoá của Trung quóc: 1820 sức cho thuộc khách phố Hàng Buồm sang Trung quốc mua 32 "áo " gấm Tô châu các hạng; 8 áo đoạn gấm thượng hạng ;, kiểu hoa ,, hồi văn chữ thọ ,,bằng vàng thật ; 10 áo đoạn gấm thượng hạng ,kiểu hoa ,, thỏ tước dỡn sen ,, bằng vàng thật ; 10 " áo " đoạn gấm thượng hạng , kiểu ,, đào sen lồng cảnh ,,bằng vàng thật , 4 áo đoạn gấm thượng hạng , kiểu ,,hoa chữ nhân như ý ,,bằng vàng thật . Các mặt hàng này gồm 32 áo giá tiền 879 lạng 4 đồng cân năm phân bạc , tính ra mỗi áo hơn 27 lạng 4 đồng cân 8 phân bạc.
Hàng hoá miễn bắc Hoa kiều chiếm 2/3.1883 -1913 hàng hoá Phap sang Đông dương chủ yêú ở Việt nam gấp 4 lần.Việt nam xuất khẩu sang Pháp tăng 350 % .
Hàng hoá tâm linh "hiếu hỷ" bị ảnh hưởng Tàu rất sâu . Cau cưới có dán chữ Hỷ thì buồng cau mới là sản phẩm hoàn chỉnh- Nếu không dán thì có cảm giác như thiếu một cái gì đó ? và còn quan tài nếu thiếu chữ Thọ thì thương nhân bán quan tài chắc chắn sẽ lo ngại không bán được hàng?.
Đến nay xe máy Tàu ùn ùn vào Hà nội làm tắc nghẽn giao thông cả Hà nội , tôi chợt nghĩ đến xác quân Thanh làm nghẹt sông Hông khi Quang Trung đại phá quân Thanh ở Thăng long.
Tại hàng Mã trước Rằm Trung Thu cũng đầy rẫy hàng Tầu . Chữ Tàu trên hàng hoá " Vạn sự như ý " " Sinh ý hưng long " " xuất nhập bình an" , đèn lồng , súng , xe tăng , máy bay tàu thuỷ ngập tràn cả sang phố Lương Văn Can . Thật là lo sợ cho tâm tính , tâm linh , tâm thế của con trẻ Thủ đô chúng ta. Còn thương nhân có lẽ chỉ biết : " Trăm ơn không băng hơn tiền ư? ". Cuộc bành trướng mới bằng hàng hoá cũng nguy hiểm như các cuộc xâm lược xưa hàng nghìn năm trước , nó làm sản xuất trong nước đình đốn ,tập quán tiêu dùng bị đảo lộn và văn hoá tiêu dùng bị lai căng, bản sắc văn hoá bị long lở. Hơn lúc nào hết thương nhân Hà nội phải thấy trách nhiệm của mình với hiện tại và tương lai của Dân tộc này , với người tiêu dùng Việt nam. Điều làm tôi an tâm là hôm hỏi một Cao học sinh về : " So sánh xuất khẩu phần mềm vi tính của Việt nam ( trong đó có Hà nội ) với Trung quốc thì thế nào . Cô ta đã trả lời đại ý : Cơ hội thì như nhau , họ chữ vuông ta chữ Latinh , người biết tiếng Anh của ta cũng nhiều , ngưòi giỏi toán tin của ta cũng lăm nên cuộc cạnh tranh bán phần mềm tin học là nghang ngửa . Ta không sợ gì Tầu .Thật là mừng trong khi hàng tiêu dùng , hàng may mặc , con giống Hải ly đang lan tràn ở thị trưòng Hà nội và Việt Nam. Vào những năm 80 của thế kỷ 20 Bia Vạn lực tầu tràn vào Hà nội,Sài gòn , Phnông pêng Cam pu chia . Nhưng sau đó bia ta ngon và chất lượng tốt đã đè bẹp được bia Tầu ,Song buốn thay bài học này vẫn chưa nhân rộng ra được .
Theo Nguyễn Công HoaN trong cuốn NHớ và Ghi Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1978) thì ở Hà nội , hiệu cáo lâu của người Hoa kiểu tập trung ở phố Hàng Buồm . Cao lâu nghĩa là lầu cao . Khách ăn trên gác. Tầng dưới , ngay ở cửa vào là bếo . Khách ăn xong đứng dậy ra về , thì người hầu sáng đếm đĩa để tính tiền . Khi khách xuống thang , người hầug sáng gọi to người ngồi ở quầy thu tiền dưới nhà , và nói số tiền khách phải trả.. Nhiều người khách ăn hết nhiều đĩa , trước khi ra về , giấu một ghai chiếc đĩa vào trong túi áo , hầu sáng không thể biết được.( tr.79 ); đến tết nguyên đan người hoa mang hoa thuỷ tiên sang Hà nội bán ( tr.88 ); Theo cuốn Thế giưoí địa đồ sách Nhà xuất bản địa đồ Trung quốc 1998 trang12 Về Về Việt nam họ in bằng tiếng Tàu như sau : CHXHCN Việt nam nam bán đảo đông bộ , mặt đông và mặt nam và cánh cung đông bắc và nam hải , bắc tiếp giáp Vân nam , Quảng tây Trung quốc . Diện tích 32,96 vạn m2 và bờ biển dài hơn 3200 KM ; Việt nam có lịch sử lâu đời ; Sau thée kỷ 15 kinh tế có sự phát triển tương đối lớn. 1884 là nước bảo hộ của nước Phapá ; 1940 bị Nhật bản chiếm đóng; 9-1945 thành lập nước Vuiệt nam dân chủ dộng hoà , 9 năm vừa kiến quốc vừa chiến đấu chống Pháp , Năm 1954 Pháp thừa nhận Việt nam độc lập , chính quyền Nam Việt do Mỹ dựng lên . Nhân dân Việt nam kinh qua trường kỳ chiến đấu , 1975 giành được thắng lợi cuộc chiến đấu chống Mỹ , toàn quốc thống nhất . định quốc danh Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam . Ngày 18-1-1950 lậ quan hệ với Trung quốc . Dân cư 7650 vạn người ; 89 % là tộc Việt ( gọi là tộc Kinh ); và 60 dân tọcc khác trong đó có Hoa kiều , tiếng phổ thông là tiếng Việt nam > dân cư đa tiná ngưỡng phật giáo và thiên chúa giáo; Hoàn cảnh tự nhiện : toàn quốc 4/5 là núi và cao nguyên , bắc bộ và tây bắc đều là núi cao , cao nguyên Phăng si phăng là đỉnh núi cao 3142 met. đó là đỉnh cao nhất Việt nam , còn trường sơn chỉ cao 1000 mét , cao nguyên Tây nguyên rộng 37.000 mét ; nó hiểm yếu ; Việt nam là nước chủ yếu sản xuất lúa, di8ện tích Nam bộ 44.000 nghin m2 , nam phương60-70 % làm nông nghiệp ;là vùng sản xuất lúa nổi tiếng thế giới, Việt nam thuộc nhiệt đới gió mùa , độ ẩm cao. ôn độ lớn , gió mưa nhiều , từ tháng 5-10 là mùa mưa, từ tháng 11 trở đi là mùa khô.Khoáng sản Việt nam chủ yếu phân bổ ở phía Bắc gồm có than , sắt , than 10 vạn vạn tấn ) 1.000.000.000tấn tập trung ở tỉnh Quảng ninh. Rừng chiếm 60 %( ? NVH ) diện tích Việt nam .Kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ , toàn quốc có diện tích 930 vạn ha đại bộ phận trồng lúa nước , chủ yếu phân bố ở tam giác Mê công , sông Hồng ,và các bình nguyên khác , , ngành công nghiệp chủ yếu điện lực, khai khoáng, luyện kim, chè , thuốc lá , chè , thuốc lá , hồ tiêu, , bình quân đánh cá 100 vạn tấn ( 1.000.000 tấn ) , đường sắt dài 3220000 mét xuyên Nam Bắc là đường sắt Thống Nhất , dài 1700000 mét , năm 1976toàn tuyến được khôi phục , có hai tuyến đường sắt đi Quảng Tây và Vân Nam Trung quốc , Toàn quốc đường ô tô có 10.000 km Hải cảng chủ yếu l;à Hạ long, Quy nhơn, Kim lan , Sài gòn ,Thành phố lớn có Hà nội , Thủ đô có 350 vạn dân ( 3.500.000dân ); nguyên danh Thanưg long . 1831 cải danh Hà nội , là một thành thị công nghiệp và hà cảng tối quan trọng toàn quốc , Tây bắc có sân bay quốc tees, trung tâm thành phố có Hồ Hoàn kiếm , là du lam thắng địa .Thành phố Hồ Chí Minh là Hải cảng rất lớn của Việt nam , tàu hàng vạn tấn vào được . Đây là Trung tâm thương mại về xuất khẩu gopạ và là trung tâm công nghiệp ;Về bản đồ những địa danh giáp TRung quốc thấy có tên như : Ba ma, Phong Thổ , Lào cai, Hà giang , Yên Bình , , Trùng khánh , Hữu Nghị quan , Đình lập , Móng cai. Trong cuốn sách anỳ không nói nguồn gốc số liệu lấy từ đâu .

` 2.6 Yếu tố thứ 6 là số lượng của thương nhân Việt nam càng tăng trưởng :

1893 Hà nội có 12 nhà công thương (7 nhà buôn);1899 73 nhà (60 nhà buôn). Hải phòng 1893 có 41 nhà công thương (22 nhà buôn ) .Còn Sài gòn 1896 là 366( 113); Chợ lớn 306(74); 1870 Biên hoà 5; Mỹ tho 2; Vĩnh long 4; Châu đốc 11; Hải dương 3; Nam định 4; Thái Bình 4; Phan thiết 2; Bình định 2;
Đầu thế kỷ nhà tư sản Đinh Hoè đã sử dụng 5000 phu.; Bùi Huy Tín 1903-1906 cung cấp tà vẹt làm đướng sắt cho Pháp ;Lê Phát An góp cổ phẩn trong công ty dệt lụa ở Phú Phong ( Bình Định). Trương văn Bền đại chủ có 17.000 ha và có 1 xí nghiệp xà phòng sử dụng 700 công nhân.; Quảng Hợp ích do nghiêm Xuân Quảng án sát Lạng sơn chủ trì ,buôn vải lụa ,mở xưởng dệt ở Hà nội.Công ty Nam Phương ở Thái Bình một số quan chức về hưu chủ trì dệt chiếu xuất khẩu đi nước ngoài .Công ty nước mắm Liên Thành (Phan Thiết) 1907 có vốn 93 ngàn đồng ; Công ty Quảng Hưng Long ở Hà nội buôn hàng sắt nội địa hoá 1903 có 3 nghìn đồng; Cty Phương Lân (Thanh hoá) 1885 buôn tơ lụa 1907 phát triển chi nhánh ở Huế ,Vinh và Hà tĩnh. Đặng Nguyên Cẩn ( Nghệ an) và Ngô Dức Kế mở Thiên Dương công ty quán.
Đầu thế kỷ 20 Việt nam đã xuất khẩu hàng ren,đăng ten,sơn mài cổ truyền đồ mỹ nghệ ,vàng, bạc,ngà voi, đồi mồi,Pháp và Hoa kiều mua bao khuyến khích. Làng La khê (Hà động) 1884-1885 có 50 khung dệt và 100 thợ; 1913 500-600 khung dệt với 100-12000 thợ . Nam định có hàng vạn khung dệt.
Đến nay ngoài hơn 100 chợ cố định thì các ngõ ngách nàổ Hà nội cũng là chợ tạm chợ cóc ,chợ xanh . Hà nội còn có chợ đêm bán rau quả quanh các cửa ô. Do vậy thương nhân chuyên nghiệp ở chợ , có cửa hàng cửa hiệu cố định và các chợ tạm ,xe chạy lông nhông có đến hàng vạn người . Nông nhàn các tỉnh đổ về Hà nội ngày càng động , họ làm tắc nghẽn các ngả đường , các cửa ô Hà nội . Họ có lời ăn tiếng nói pha tạp rất khó chuẩn hoá. Nhưng có lẽ lời ăn tiếng nói chuẩn của thương nhân Hà nội nên theo cách lập luận của Tô Hoài ( 36 phố cổ ) . Nhưng theo tôi nên thêm các cửa hàng cố định , các Siêu thị và các Trung tâm thương mại . Không nên lấy tiếng nói của thương nhân nghiệp dư , kiêm chức , chợ tạm , chợ đêm , chợ đen , hoặc thương nhân chợ đen ( buôn lậu , trốn thuế ,mua bán ma tuý ,gian lận thương mại , mua bán dâm ), tiểu thương trên chiếc xe đạp tuột xích .

2.7 Yếu tố tứ 7 Phong trào yêu nước sử dụng thưong nghiệp như một công cụ hữu hiệu chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn :

1904-1907 Duy Tân Hội có Đồng lợi tế ; Sài gòn có Nam đồng hương và Mỹ tho Minh tân công nghệ; Quảng Nam có Hội Thương mại Hợp tư; Phan Thiết có Công ty Liên Thành để thu hút lực lượng yêu nước .
PhanChu Trinh chủ trương chấn dân trí; khai dân chí và hậu dân chí ( lập Hội buôn ); Về hội buôn quy mô không lớn như ở Quảng Nam dạng cửa hàng :thuốc bắc ,bán hàng rồi bán và quán cơm; Những cửa hàng là nơi liên lạc ,vừa là nơi cung cấp tài chính cho các hoạt động khác.
Chính quyền Pháp thành lập Công ty Than Tuyên Quang 1915 Đông Triều 1917 để phục vụ thiếu hụt của Pháp thế chiến 1.
Nguyễn Hữu Thu chủ hãng xe cao xu có hàng chục tàu chạy Hải phòng,Nam định,Hải dương,Hồng gai, Nam định và Hương cảng. Phạm văn Phi 1918 công ty xe hơi có xe Đông hà ra Bắc kỳ. Công ty tơ tằm Đồng lợi (Kiến an) Xưởng dệt lụa Đồng ích ( Thái Bình). Công ty Liên thành dệt sa nhiễu ở Hội an. Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế cũng thành lập Triêu dương thương quán .Đõ Chân Thiết làng Thịnh hào có cửa hàng kim hoàn ở Hàng Bạc ,mua gạo ở Hải dương , Thái Bình bán ở Hà nội,nhưng bị lỗ.. ông còn có Đồng lợi tế bán hàng nội hoá và hiệu Tuy Phương (ga Hàng cỏ bán thuốc bắc.
Cụ Nguyễn Quyền : Công ty Đông Thành xương ( Hàng Gai ) vừa buôn bán hàng tạp hoá ,ướp trà sen .Phong trào lập hôi buôn bán còn lan sang Phúc yên,Hưng yên ,Việt trì. Nhà máy rượu Bạc Liêu .công ty sách báo ở Bạc Liêu ,Dệt chiếu Rạch giá.
Phong trào yêu nước khoác áo " thương nhân " là một hình ảnh chói lọi trong lịch sử yêu nướccủa thương nhân Hà nội và cả nước . Nó mãi là bài học quý giá luôn khơi gợi Tâm thức của các thương nhân Hà nội trwocs cơ hội và thachs thức hội nhập vào thị trường thế giới . Nó là nhân tố tích cứch hình thành lời ăn tiếng nói của ccác thwong nhân yêu nước thờithực dân Pháp cai trị Hà nội. 2.8 Yếu tố thứ 7 là Số lương dân thành thị từ khi Phãp xâm lược đến nay đã tăng vọt : Theo ông Nguyễn đình Đẩu trong cuốn Việt nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại Nhà xuất bản tre TP. Hồ CHí Minh 1999 thì Thủ đô Hà nội diện tích có diện tích 921 Km2 với 2.268,4 nghìn người ( Sài gòn là 2.090 km2 với 4.858,1 nghìn người ).và dân số nước ta biến động qua các thời đại như sau :



 
Thời điểm
Quốc hiệu
Thủ đô
Dân số ( người )
-300
Văn lang
Phong châu
500.000
-180
Âu lạc
Phong khê
600.000
1
Giao chỉ
(thuộcHán)
Long biên
666.13
40
Trưng Vương
Mê linh
700.000
544
Vạn Xuân
Long Biên
1.000.000
968
Đại Cổ Việt
Hoa Lư
2.000.000
1054
Đaih Việt
Thăng Long
2.200.000
1407
Quận Giao chỉ
( thuộc Minh )
Đông Đô
3.129.500
1490
Đại Việt
Đông Kinh
4.000.000
1750
Đàng ngoài
Trung Đô
4.000.000
1750
Đàng trong
Thuận Hoá
1.500.000
1802
Việt nam
Huế
5.780.000
1840
Việt nam
Huế
7.764.128
1870
Việt nam( kể cả Nam kỳ thuộc Pháp)
Huế - Sài gòn
10.000.000
1901
Việt nam thuộc Phap
Hà nội - Huế
13.000.000
1943
Việt nam thuộc Pháp
Hà nội - Huế
22.000.000
1962
Việt nam ( Dân chủ cộng hoà )
Hà nội
17.000.000
1962
Việt nam Cộnghoà
Sài gòn
14.275.000
1976
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam
Hà nội
49.160.000
1994
CHXNCNVN
Hà nội
75.500.500
1999
CHXHCNVN
Hà nội
76.324.753

* Từ năm 2002 : Quốc hiệu : Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Thủ đô : Hà Nội - Dân số : 80.000.000( NVH)



Cùng với dân số nước ta tăng lên , số dân thành thị cũng tăng lên , Dân Hànội bằng Dân Đại Việt khoảng năm 1407 thuộc Minh . đồng thời Hà nội còn là nơi mà khách vãng lai đến họp hành , thăm quan ,làm ăn , sinh sống rất đồng . Do vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến " lời ăn tiếng nói" của thương nhân Hà nội.
Số dân thành thị ngày ngày tăng ; 1913-1921 Sài gòn tăng thêm 33 nghìn người; Chợ lớn tăng 20 nghìn người; Hải phòng tăng 40 nghìn người
1928; Dân số thành phố 1930 bằng 10 % dân số toàn quốc.Dân thành thị vào đầu thê kỷ mới 5 % đến 1936 tăng lên 8% ?.
Hà nội: 130 nghìn người; Hải phòng : 98 nghìn người ; Nam Định :35 nghìn người ; Huế :41 nghìn người ; Đã nẵng : 7 nghìn người ; Sài gòn 125 nghìn người ; Chợ lớn 192 người nghìn ; Cần thơ 20 nghìn người ;
1929 số người buôn bán nhỏ có môn bài 130.000 ngưòi.
Nghề thủ công mỹ nghệ làm gia công cho các hãng xuất cảng sang Pháp. Giai cấp tư sản Việt nam dấy lên phong trào Tẩy chay các "chú "( Hoa kiều ) ở Sài gòn ,Hải phòng ,Hà nội ; Nam định; Phủ lý ,Thái Bình. Người chủ trương phong trào này cho rằng : Ngưòi An nam không chịu gánh vàng đi đổ sông Ngô nữa .Hãy lập cửa hàng cửa hiệu của người An Nam. Bên cạnh đó 1912 đã có Nhà máy Xi Măng Hải phòng 500 công nhân.
Địa chủ Nam kỳ chiếm 45% đất cày ,địa chủ Mỹ tho bán lúa tô ra thị trường( 10-600 tấn lúa 1924 yêu cầu thực dân lập riêng Phòng Thương mại cho giới kinh doanh người Việt nam.
Tư sản Việt nam bị chèn ép nhưng có liên hệ kinh tế với Tư bản nước ngoài .Họ bị Chủ nghĩa phong kiến cản trở nhưng lại dính líu với bóc lột phong kiến. Tư bản mại bản vào làng Tây và Dân biểu . Họ đựơc cấp 150.000 ha đất
Pháp kích thích người Việt nam vào làng Tây với các điều kiện :
Có 10 năm làm việc mẫn cán ở quân đội hoặc Công sở; có 10 năm làm lợi ích cho Pháp trong lĩnh vực nông,công, thương; bằng đại học; lấy vợ Tây; thạo tiếng Pháp; Bắc đẩu Bội tinh.
Người An nam mua bán với người An nam. Nhưng phong trào này chỉ chĩa vào Hoa kiều chưa dám chĩa vào tư bản thực dân Pháp. 1923 đấu tranh phản đối 1 công ty tư bản Pháp định giành lấy độc quyền xuất nhập khẩu ở cảng Sài gòn.
Khách mua than 1933: 253 nghìn tấn( Hồng kong 252 nghìn tấn Nhật 251nghìn tấn và các nước khác 29,6 nghìn tấn ).Tại Việt nam ngân hàng Đông dương đóng vai trò chúa tể. Tổng vốn đầu tư Pháp vào Việt nam 1940 là 10-12 tỷ fr .Lợi nhuận Pháp thu về 1936 là 1 tỷ fr và 1937 là 1,9 tỷ; công ty độc quyền cao xu lợi nhuân 400 triệu fr bằng toàn bộ số tiền đầu tư 1924-1927. Trong khi đó Lương công nhân chỉ có 3 fr ngày. Công ty nẩu rươụ Đông dưong 1937 lãi 17,88 triệu fr. 1937 Hà nội có 270 quán cô đầu ,300 tiệm hút; 20 tiệm nhẩy;hàng trăm chứa mại dâm; hàng chục sòng bạc được công khai hoạt động. Mở sòng bạc công khai ở Lạng sơn;Móng cái;Hà giang; Lào cai và Chợ lớn .Sản xuất thuốc phiện:1940 :7.560 kg; 1944 : 60.633 kg .Rượu 1932 :32 triệu lít ;1937 ; 68,5 triệu lít; Gạo nấu rượu 140 nghìn tấn ( 1940); 1942 là 172 nghìn tấn.
Đến này dân Hà nội đã lên hàng triệu tăng gấp hàng chục lần , số lượng thương nhân tăng lên chứng tỏ lưu thông hàng hoá phát triển , chất lượng phục vụ ccàng nâng cao , phương thức phục vụ ngày càng đa dạng. Lời ăn tiếng nói của thương nhân càng phong phú.
Theo Nguyễn Công Hoan (trong cuốn Nhớ và ghi Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1978 ) trước năm 1920 , ở hà nội , Tây đi xe ngựa , Xe độc mã hoặc song mã . chưa có ô tô. đi xa thì dùng xe lửa. Vợ Tây ở phố hàng Bún trên ( nay là Nguyễn TRường Tộ ). Cầu Long biên mãi đến năm 192... mới mở rộng cho xe ô tô đi qua ( tr.81); Phà đên là bến cho ô tô đi.( Tr.81); Rạp chiếu bóng đầu tiên ở Hà nội là rạp ở Phố Hàng Quạt ( tr. 82 );Rạp lợp tôn rất nóng .Roit ở Tràng tiên có rạp Palace giá vé 5 xu; Khánh thành cầu Long biên 1902, vua Thành Thái ra dự Hội Cầu ( tr.82 ) ; Nhà ngưòi Vuệt nam ở Hà nội hồi trước ít dùng đèn điện . Thăp sbằng dầu hoả 0,14 đồng/ lít . Cũng không có máy nước vào nhà ( tr.83); phải lấy nwocs ở đầu phố . ở máy nứoc Hà nội , ngwoif ta tranh nhau ghé thùng vào vòi nước để được lấy nước . Cho nên luôn xẩy ra chửi nhau , đánh nhau ở máy nước .( tr.94); ở phố Hàng Trống có Khách sạn thuộc địa ( Hôtel des Colonies ) ở góc hàng Trống với phố Nhà thờ . Họ bày bàn ghế ra cả hè phố , để khách hưởng gió mát . Xe không có người đi , không được kéo xe không qua .( Tr.86 ); TRước cách mạng Hà nội có 18 vạn dân ( nay nội thành đã có 1, 5 triệu dân NVH ); Phốa đông ngwoif là từ hàng Đào đến chợ đồng xuân và hàng Gai , hàng Bông ; Toioí chanửg ai đén phố Đinh Tiêbn Hoàng . Từ đầu phố Bà TRiệu , thì là khu Tây ở , ban ngày cũng đã vắng tanh . Đi đén khu nhà Diên ( Trần Hưng Đạo bây giờ ) đã là xa lắm ( tr.87 ); Quá chợ Hôm là bắt đầu ruộng rồi. ( tr.87 ); Ruộng cho đến chợ Mới Mơ , Ngã tư Trung hiền ( ô Cầu Rền ) ; Phố Nguyễn Thái học , Phùng Hưng toàn là bãi cỏ hoang ( tr. 87 ) Bắt đầu từ THuỵ khê đã là ngoại thành . đường cột cờ nơi phu xe bất lương trấn lột khách, vườn Bách thảo nới thách nhau đến giết nhau . CHợ hàng Da là nơi tụ hạ những trộm cắp , giật khăn của khách nên xe bỏ mui kin mít. CHợ Gạo cũng là ổ giật khăn . ( tr.87 ) Năm `1918 đến tối , đường Cổ ngư còn thắp đèn dầu hoả. Vườn Bachs thảo cũng vậy ( tr. 89 ); 57 Tràng tiền có hiệu bán kính ( ở nhà Bôđêga bây giờ ) tên là Giuy Banh . Ngwoif Việt nam bán hàng thấy ai vào mua hàng cũng nói nhỏ : Tự do nhất nguyên . Khách đưa cho anh ta đồng bạc , anh ta lén đút vào tay áo khách cái kính 3 đồng . Chủ không biết ( tr.91 ); Nhà bách khoá Gôđa ( Godard ) cũng có người bán hàng như thế . Nhà hàng Gô đa ,khi đóng cửa , thường có người Tây đen khám người làm rồi mới cho ra khỏi hiệu ( tr. 91 ) . ở Hà nội các ngõ hẻm là những chỗ bẩn nhất Ngõ hàng Hành , Ngõ Phất lộc , Ngõ Tô Tịch ( tr.1104 ); Ngày bé mình ( NCH ) xem chùa một cột , thấy cái cột chùa bằng gỗ , chứ không xây như bây giờ . Cột mà xây thì còn gì là hay nữac ( 104 ); Hà nội có bốn hiệu bán sách vở giấyd bút ở Hàng Gai , Hàng Giâys ( 105 ); THời kỳ thực dân Pháp âm mưu chioếm Bắc kỳ , thì có một thằng lái buôn người Pháp đến Hà nội , định dùng sông Hồng để tải súng lên bán cho Chính Phủ Vân Nam . Nơi thuyền nó đóng để buôn bán với ta có nhiều nhà mới , nên ta gội là phố Mới . Phố mới đâm thẳng ra phố hàng Chiếu . Sau Pháp đặt tên thằng lái buôn Tây Jean Dupuis cho hai phố này. ( Tr. 107); Tại phố Mới có nghề môi giới đưa người nhà quê đi ở ( Tr.108 ) ; Phố Tràng tiền và Phố Tràng thi là ranh giới mà Hà nội chia làm hai khu bản xứ và người Tây ( 109); Phố Bà Triệu ban ngày cũng vắng tanh, chỉ có bồi bếp , người làm thuê cho pháp ( khâu đầm và chị hai )( tr.109); ( Nay đã khác 2003 NVH ); Số 25 Phố Phùng hưng là nhà để cho thuê cưới . Năm `1930 , ít đám cưới dám thuê ôtô , vì đắt .( tr.115-16 ) Phố Hàng Giấy là phố cô đầu ( tr.124); ở ngoại ô thì Thái Hà ấp cũng lắm cô đầu .Dân Hà thànhg đông dần , số cô dầu nhiều thêm . Một lần , qua ngã tư sở mìnhg thấy có ngươiù đàn bà đứng tuổi gánh cơm ra hầm cho bộ đội ở đưòng Láng . Hỏi mới biết người này vừa hôm nọ làm nghề cô đầu . ( tr.124 ); Phốa Hàng Trống có một người Pháp mở ra một cửa hàng bán đồ cũ , bán theo lối đấu giá . Đủ các thứ hàng , thượng vàng hạ cám > Nhà hàng ngày nào cung mở cho khách vào xem , hàng nào cũng để giá sẵn . Sáng thứ năm mới bán . Trước giờ bán , có hai người khênh chiếc trống cái đi khắp phố , một người đánh vào trống , ba tiếng một THường thì vẫn có một vài cò mồi . Họ cứ trả cao lên để ngươì mua phải trả cao theo .

Yếu tố thứ 9 Cách mạng tháng 8 đã thổi luồng gió mới vào sự nghiệp thương nghiệp của Việt nam:

Từ 1945-1954 Hà nội vẫn bị tạm chiếm.Thương nhân Hà nội vẫn bị chính sách của Pháp kiềm toản. Nhưng Thương nhân cách mạng Thời chống Pháp như Bác Hồ dặn:'mậu dịch quốc doanh là cầu nối cho tiêu dùng ,nối nông nghiệp với công nghiệp .Muốn làm tốt công tác của mình ,ngành mậu dịch phải biết xuất phát từ nhu cầu sản xuất ,của đời sống từng thoì kỳ ,để từ đó quyết định việc tổ chức nguồn hàng ,mua những gì bán những gì là thiết thực và phù hợp; khiến cho sản xuất đựoc kích thích phát triển ,người tiêu dùng đựoc yên tâm phấn khởi .Công tác mậu dịch phải phục vụ cho quốc kế dân sinh để kháng chiến mua thắng lợi ; Mua bò ,mua lợn cho dân; cung cấp con giống cho dân; mua tranh ,tre nứa ,lá và lương thực thực phẩm cua rdân .Mậu dịch có dầu ,muối, vải ,giấy,bút ,công cụ bán lại co dân với giá hợp lý . Mậu dịch còn dùng thương nhân làm đại lý bán lâm,đặc sản cho vùng bị địch tạm chiếm để mua về các loại thuốc tân dược và nhiều hàng công nghiệp tiêu dùng mà vùng tự do không có hoặc còn thiếu . Có thể nói ,những hoạt động buổi ban đầu ngành mậu dịch đã góp phần tích cực bảo đảm các nhu càu thiết yếu cho đời sống cuả cơ quan ,công xưởng kháng chiến ,đồng thời góp phần tích cực vào việc kích thích đẩy mạnh sản xuất và ổn định đới sống cho nhân dân vùng tự do và vùng mới được giải phóng,đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi. Sau giải phóng thủ đô công cuộc cải tạo công nghiệp thương tư bản tư doanh đã làm đảo lộn quá trìnhlwu thông hàng hoá cũ . Thương nghiệp quốc doanh giữ vai trò chủ đạo và hợp tác tác xã

2.10 Thương nhân với sự nghiệp chống Mỹ và thống nhất đất nước :

Thời cả nước thực hiện hai chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam Bác Hồ đã có câu dậy cho thương nhân Hà nội : " Không sợ thiếu ( ở đây là hàng hoá NVH ) mà chỉ sợ lòng dân không an ". Theo lời kể của Bộ Trưởng Hoàng Quốc Thịnh thì có lần Bác Hồ gọi Bộ trưởng Hoàng Quốc Thình và chủ tịch Hà nội TrầnVỹ: Khi anh Vũ Kỳ thư ký riêng của Bác đưa một mớ rau muống gốc dài hơn ngọn .Bác nhìn bó rau ,bảo Bộ trưởng Hoàng Quốc Thịnh :các chú xem ;Mậu dịch bán rau như vậy thì dân mua về chỉ ăn được một phần ,còn phần lớn phải bỏ đi ,lãng phí ,lại thêm rác cho thành phố.". Thời này thương nhân Hà nội được giáo dục phải :" Làm dâu trăm họ". Đây là thời kỳ vẻ vang nhất của thương nhân Thủ đô vinh dự trực tiếp phục vụ tại các ụ pháo để chiến sĩ và nhân dân Thủ đô lập nên một Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy toàn thế giới , góp phần đánh thắng Giặc Mỹ xâm lược , giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Nhưng cũng ở thời kỳ này trong dân gian có nhiều câu ca bí mật truyền khẩu về nghề lái buôn.Không biết tác giả là Ai cả , có lẽ do Đài địch Sài gòn tung ra .ví dụ như :
"Một yêu anh có may ô
Hai yêu anh có cá khô ăn dân "
Xe cố vấn ( lốp xe thủng nát , phải vấn lại cuốn lại ).
áo chuyên da ( cở trần không có áo may ô mặc )
Tông đản là chợ vua quan
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần
Đồng xuân là chợ thương nhân
Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng .
Tiền lẻ hơn thẻ thương binh ,
Nhất thân nhì thế
Tem phiếu
sổ gạo ,
sổ mua hàng
Móc ngoặc ,
Đi cửa sau/ cửa hậu
Con Phe
Chen ngang
xếp hàng bằng gạch,bằng rổ rá rách Phân ( phối ) như cứt, cứt( phân bón hoá học ) cúng phân Chợ đen
Phe tem phiếu Làm gì mà mặt nghệt như mất sổ gạo
Buồn như mất tem phiếu /buồn như nhà có đám ( ma )
Nhà mặt phố không bằng bố thương nghiệp
Đây là thời kỳ gách vác nhiệm vụ chính trị của thương nhân Hà nội rất nặng nề , nó in một dấu ấn không phai mờ trong tầng lớp dân cư Hà nội trên 30 tuổi thời bao cấp . Bìa học thời bao cấp như một huyền thoại.

2.11 Thương nhân sau ngày thống nhất đất nước :

Đến nay số nước mà Việt nam có cơ quan thương vụ là 41 (châu âu 19 nước; châu á -Thái bình dương 14 nước và châu Phi và Tây nam á 8 nước; số nước có cơ quan đại diện thương mạỉ Việt nam có 34 nứoc : âu Mỹ có 10 nước ; Châu á Thái Bình dương 13 nước ;châu Phi Tây Nam á 11 nước; các tổ chức kinh tế quốc tế có văn phòng đại diện tại Việt nam : 8 tổ chức; các tổ chức quốc tế và khu vực mà Việt nam đã tham gia; số doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu tính đến tháng 8-2001 có 15.887 , đang hoạt động 8.800 .Việt nam hợp tác quốc tế khu vực âu Mỹ 40 nước; Châu á Thái bình dương 18 nước ,Phi Tây nam á 31 nước ;Việt nam dành ưu đãi thuế quan cho77 nước Kim ngạch xuất nhập khẩu :
Hà nội là thủ đô nên hầu hết các công ty nổi tiếng của Việt nam đều có chi nhánh , đại diện và cửa hàng bán tại Hà nội , ví dụ Bitis, Kim đan , Visan , Việt Tiến . Do vậy lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội theo đúng như Trần Quốc Vượng nó có sự kết tinh và lan toả .
Tại Thành phố Hồ Chí Minh có "Siêu thị Hà nội" . Nó kết tinh được những tinh hoa lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội . Nó có với phong cách phục vụ của thương nhân Hà nội . Nhiều đặc sản Hà nội đựoc bầy bán ở đây . Húng láng , cốm vòng ...
Cũng ở Nga và nhiều nước cũng có cửa hàng ăn uống Việtnam , nó cũng mang theo phong cách Hà nội - Việt nam để phục vụ khách đã đén du lịch Hà nội hoặc là người Việt nam xa xứ . tôi đã đến cửa hàng ăn uống ở Hồng Kong thấy người xếp hàng rồng răn để ăn cơm Việt nam.Hôm ấy chúng tôi ăn món cari thịt gà nhưng gia vị thiết mầu vàng của nghệ , quá trình ăn anh chị em trao đổi với nhau : " Món này chưa phải Cari gà ". Sau đó một phụ nữ béo tốt tươi cười đưa ra một liễn thức ăn còn bốc khói và nóivới chúng tôi : Nhà hàng cảm ơn sự góp ý của quý khách mâm này và xin gửi món này không tính tiền . Mở ra vẫn là món Carigaf ,nhưng mầy nghệ đã vàng lóng lánh và thửlại đúng là vị của món ăn Việt nam.Sau rahỏi ra mới Việt đây là một đầu bếp đã từng nấu ăn ở Tạ Hiện rồi chạy sang Hồng kông
Xuất khẩu Nhập khẩu
.1995 5,34 tỷ USD 8,28 tỷ USD
.2000 14,3 tỷ USD 15,2 tỷ USD
Một số mặt hãng xuất khẩu chính :
.đơn vị tính 1995 2000
.dầu thô ngàn tấn 7652 15500
.gạo 1988 3500
.than đá 2821 3035
.dệt may triệu USD 850 1815
.thuỷ sản 621 1475
.giầy dép 296,4 1402
.càphê ngàn tấn 248 694
.cao su 138 280
.rau quả triệu USD 56 205
.lạc nhân ngàn tấn 111 78,2
Cũng cần nói thêm thương nhân làm xuất nhập khẩu có lời ăn tiếng nói khác với thương nhân bán lẻ ở các chợ Hà nội.

2.12 -Về thế hệ lái buôn Việt nam hiện đại :

Vừa qua công ty kinh doanh cá Hồ Tây không xuất khẩu một con cá nào đi Hoa kỳ , nhưng cũng bị vu vạ là bán phá giá cá Basa tại thị trường Hoa kỳ . Thế là " Cây muốn lặng và gió không đừng ", thương nhân buôn cá Thủ đô muốn lịch sự với khách hàng , nhưng tận bên bên kia bờ đại duowng Hiệp hội nuôi cá da trơn Hoa kỳ cũng vẫn " chọc ngoáy ' để làm cho thương nhân " chẳng thơm cũng thể hoa nhài " phải nổi giận .
Thế là từ ngày 11-12-2001 Hiệp định Thương mại Việt nam -Hoakỳ chính thức có hiệu lực . Hiệp định này đã được Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Việt nam thông qua lần lượt vào các ngày 18-10-2001 và 7-12-2001 . Thế là lái buôn VIệt nam ,theo Hiệp định này ,tất cả các loại hàng hoá như dệt may , giày dép , đồ gỗ , đồ điện gia dụng , điện tử ,hàng thủ mỹ nghệ ...nếu xuất khẩu vào thị trường Hoa kỳ từ ngày 10-12-2001 trở đi sẽ được hưởng mức thuế quan tối huệ quốc .Mức thuế này trung bình chỉ còn 3 % so với mức thuế quan trung bình không có tối huệ quốc 40 % truức đây . Thế là từ đây lái buôn Việt nam muốn buôn bán với Hoa kỳ ,không thể thiếu sự can thiệp của Nhà nước ,vì đã có trủctặc khi Vịệt nam xuất khẩu thuỷ sản sang Hoa kỳ , chuyện là FDA(Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ ) đã công nhận các tên cá tra ,basa của Việt nam vẫn có đuôi CATFISH .Cụ thể cá basa được mang 1 trong 5 tên thương mại basa , bocourti ,bocourtiish,basa càtfish, bocourti catfishvà tên khoa học là pangaslus bocourti , cá tra được mang tên các tên thương mại ( swai, striped catfissh , sutchi catfish và tên khoa học pangasius hypophthalmus ; nhưng ngày 13-11-2001 Hạ viện Mỹ đã bỏ phiếu thông qua Dự Luật HR 2330 với điều khoản bổ sung SA 2000 : " không được sử dụng ngân sách để làm thủ tục nhập khẩu các laọi cá da trơn mang tên Catfish . Ngày 15-11--2001 Thượng viện Mỹ cũng cũng bỏ phiếu thông qua dự luật này và trình lên tổng thống ký . Ngày 29-11-2001 Tổng thống Mỹ đã ký ban hành Luật. Việc gây trở ngại này ,ngày 1-10-2001 Bộ Thuỷ sản Việt nam đã chỉ đạo việc tổ chức lấy mẫu và gửi mẫu cá cho FDA ,lại phải chuẩn bị lại nhãn mác , bao bì cho phù hợp với tên mới .
Chưa dứt vụ cá da trơn , lai tiếp theo các vụ khác Bật lửa ga , mật ong , tôm ... Đâu còn nghề : " ngồi mát ăn bát vàng " Phi thương bất phú " như nhiều người nghĩ về nghề lái buôn. Hội nhập với thế giới và khu vực thương nhân Hà nội phải nâng cao chất lượng trình độ lời ăn tiếng nói của mình thì mới có lợi thế cạnh tranh với các đối tác trên thương trường ở ngay Hà nội .
Nhiều thương hiệu Việt nam bị chiếm đoạt ở nước ngoài như PetroVietnam , Cà phê Trung nguyên , bánh phồng tôm Sagiang... Vụ buôn lậu ở Hang Rơi ( Lạng sơn ) động đến thương nhân bán vải ở chợ Đồng xuân . Cuộc chơi của Thế kỷ mới đã sản sinh ra lớp lái buôn hiện đại để thích nghi với Luật chơi mới hiện đại hơn ,văn minh hơn và phức tạp hơn . Như vậy lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội nói riêng và cả nước nói chung đã chịu rất nhiều tác động của yếu tố lịch sử -xã hội- kinh tế văn hoá .Qua đó nó giúp chúng ta có thể giả mã được lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội .

( Hiện nay chưa có một cuốn sách nào viết về lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội . Ngoài những cuốn sách giáo khoa nhà trường dạy cho sinh viên về quản trị doanh nghiệp về marketting.)


( ĐÓN ĐỌC PHẦN KẾT )

ĐÃ ĐĂNG :

GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM - PHẦN THỨ I -

GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM - PHẦN THỨ 2 -




T.S. NGUYỄN VĂN HOA

TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC