NHÂN NGÀY GIỖ TỔ,
VỀ  THĂM ĐỀN HÙNG



Hùng Vương, Thục, Trưng, Tiền Lý, Ngô
Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần , Hồ
Lê Sơ, Mạc, Lê (Trung hưng), Tây Sơn, Nguyễn
Lịch sử Tiên Rồng.
(Lời mới của bài “London Bridge”)


Chúng ta ai cũng nhớ đến Quốc tổ Hùng Vương, vương triều đầu tiên của Lịch sử Việt Nam, theo như bài hát “Việt sử ca” kể trên – bài hát ngắn gọn, tóm tắt tất cả 15 vương triều từ đời vua Hùng Vương cho đến đời Nguyễn (30-8-1945) – căn cứ theo Niên biểu Việt Nam của Vụ Bảo tồn bảo tàng, Bộ Văn hóa Thông tin.

Nhân ngày Giỗ Tổ 10-3 âm lịch, tôi ra Hà Nôi và cố gắng tranh thủ đi Phú Thọ, ghé thăm Đền Hùng, để hiểu biết về Đất Tổ, và thế là tôi đã thu xếp, vượt gần 90km để đến với Đền Hùng. Nhờ một người anh họ ở Hà Nội nhận làm hướng dẫn viên cho chú em từ phương Nam, lơ ngớ là tôi, mới khỏi ‘lạc điệu’ trong cuộc hành hương về với Đất Tổ lần này.

Từ  khu mộ Làng Cả, qua cầu Bạch Hạc, đã thấy một vùng núi non hùng vĩ, mà theo lời của người anh, đó là núi Hùng, núi Văn và núi Trọc. Riêng Đền Hùng được xây dựng trên ngọn núi Nghĩa Lĩnh của đất Phong Châu xưa (hiện nay thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Núi Nghĩa Lĩnh cao 175m, thuộc thôn Cổ Tích (xã Hy Cương). Tại đây, các đền thờ, lăng miếu nhắc nhở sự tích các vua Hùng và giải thích nguồn cội dân tộc Việt Nam. Nơi đây theo truyền thuyết còn có 99 ngọn đồi, hóa thân của 99 con voi có nghĩa, phủ phục chầu về núi Tổ. Nghĩa Lĩnh còn là nơi các vua Hùng chọn làm nơi tế Trời đất, Linh thần và các vị Tiên Tổ. Toàn bộ khu di tích gồm 4 đền, 1 chùa và 1 lăng, hài hòa trong phong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất đẹp mắt.

Cồng Đền Hùng nằm ở phía tây của chân núi, xây theo kiểu tam quan, hai tầng, góc mái uốn cong. Bờ nóc có  “Lưỡng long chầu nhật”, cửa chính giữa cao rộng, với 4 chữ Hán phía trên cổng, viết theo lối chữ chân, đại tự là: “Cao sơn cảnh hành” (Lên núi cao nhìn xa rộng) và các câu đối viết dọc theo bốn thân cột. Từ cổng Đền, khách muốn lên Đền Hạ phải vượt qua 255 bậc đá. Tương truyền nơi đây Mẹ Âu Cơ đã sinh ra bọc trăm trứng, nở trăm con . Dâng hương ở chùa Thiên Quang xong, anh họ dẫn tôi đến nơi thờ hai vị Công chúa, nổi danh tài sắc, con của vua Hùng Vương thứ 18 là Tiên Dung và Ngọc Hoa, anh giải thích: Đây gọi là Giếng Ngọc, là ‘tấm gương soi’ mà ngày xưa hai nàng Công chúa thường soi vào để vấn khăn, chải tóc, mỗi khi cần ra ngoài!  Hãy ngồi mà thưởng lãm phong cảnh, nghỉ chân, chuẩn bị leo thêm 168 bậc đá nữa để viếng Đền Trung, thăm nơi hội họp và làm việc của các vua Hùng thời xưa.

Ở đền Giếng, không khí đã khác xa với không khí  ở cổng Đền. Gió thoảng nhẹ nhưng mát lạnh. Tôi dường như lạc vào cái không khí trầm lắng xa xưa, suy nghĩ miên man về một thời kỳ dựng nước của Cha ông ta xưa…

Cột  Đá Thề, Giếng Ngọc, hạt Lúa thần và cây Thiên tuế, theo Ban quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng, đó là những “linh vật” của Khu di tích. Chỉ cây Thiên tuế, được chống đỡ bằng cột và giá sắt, anh tôi nói vui:’Cụ cũng đã gần 800 tuổi rồi đấy’, bỗng nhiên tôi muốn chắp tay xá ‘Cụ’ trước khi giã từ để lên viếng Đền Trung.

Chưa kịp ngắm nghía hết các ‘phòng họp’ của các vua Hùng, anh tôi đã đưa tay xem đồng hồ và thúc giục nhanh lên Đền Thượng, nơi có lăng vua Hùng tượng trưng cho mộ Tổ. Vậy là chúng tôi hì hục để đến với Đền Thượng.

Đây là nơi mà ngày xưa các vua Hùng đã dùng làm nơi tế lễ Trời Đất, Thần Núi và Thần Lúa. Trong Đền có bức hoành phi lớn đề 4 đại tự: “Nam quốc Sơn hà”. Trước Đền có một cột đá lớn, ám đen khói hương. Đây là cột Đá Thề, mà theo truyền thuyết là do vua Thục An Dương Vương dựng lên, nguyện đời đời nối dõi cơ nghiệp các vua Hùng để lại.

Trước Lăng vua Hùng, tôi cùng người anh nghiêm trang, kính cẩn dâng hương và cầu nguyện. Buổi trưa im ắng, trước phong cảnh hữu tình, nên thơ, trang trọng, thiêng liêng, tâm hồn tôi cảm thấy lâng lâng, khó tả…

Không còn nhiều thời gian để ngắm cảnh và thả hồn mình theo những áng mây bay về phía Ngã ba Hạc, nơi sông Lô đổ nước vào sông Hồng, nơi các dãy núi Tam Đảo, Ba Vì mờ ảo, bồng bềnh trong mây.

Chúng tôi xuống núi, tìm một hàng quán, để bạn đãi những món quà dân dã mà độc đáo, để tiếc không được chứng kiến và thưởng thức những món ngày xưa dùng để…tiến Vua, như hồng Hạc Trì, bưởi Đoan Hùng, cá Anh Vũ…Bạn ỡm ờ hẹn, lần sau cứ đến, sẽ được chiêu đãi!

Hơn nửa đời người, tôi mới được một lần  đến với Đất Tổ, Đền Hùng. Nơi cội nguồn của dân tộc. Đến với xứ sở của “Rừng Cọ, đồi Chè, Đồng xanh ngào ngạt”, là nguồn cội của tâm linh người Việt, mới thấy thấm thía câu nói: “Từ Đền Hùng nhìn ra cả nước. Cả nước hướng về Đền Hùng”, và câu ca dao cổ:

Dù  ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng ba”

LỄ  HỘI ĐỀN HÙNG

Lễ  hội Đền Hùng cũng là dịp giỗ Tổ thiêng liêng. Hàng năm vào cuối xuân, nhân dân cả nước lại hướng về Đất Tổ, nô nức hành hương tưởng niệm các vua Hùng, triều vua mở nước và dựng nghiệp, lập ra nhà nước Văn Lang cổ đại. Hàng năm chính hội là ngày 10-3 âm lịch, ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Đông vui nhất thường từ ngày 8-3 đến ngày 11-3 âm lịch. Sáng ngày lễ chính 10-3 có nghi lễ Rước kiệu hoành tráng, nghi lễ Dâng hương rất trọng thể, nghi lễ Dâng lễ vật của con cháu khắp mọi miền đất nước.

Phần hội có nhiều hoạt động vui chơi như hát thi (hát ca trù, hát xoan), đâm trống đồng, các trò chơi truyền thống của người Việt, người Mường. Lễ hội Đền Hùng là một ngày hội lớn của Việt Nam, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Nam chung sức xây dựng đất nước ngày một phồn vinh. Lễ hội năm nào cũng nhộn nhịp, đông vui. Hàng chục vạn người hành hương từ mọi miền đất nước, cũng như kiều bào và du khách nước ngoài đến dâng hương lễ Tổ. Đây là một ngày Lễ quốc gia, tất cả công, tư sở, trường học đều được Nghỉ một ngày, vào đúng ngày Lễ chính 10-3 âm lịch, tương ứng với ngày dương lịch để mọi người tường nhớ đến công lao to lớn của Quốc tổ Hùng Vương. 

CẦN GIỮ  NÉT ĐẸP TINH THẦN CHO LỄ  HỘI.

Hàng trăm Lễ hội lớn nhỏ của tháng giêng đi qua là những bãi rác khổng lồ chất quanh đền chùa – nơi được coi là chốn linh thiêng. Nơi này người dân bức xúc vì thanh niên vẽ bậy, nơi kia buồn vì giới trẻ ăn mặc hở hang đi chùa. Đó là chưa kể đến những lời than không dứt về việc hàng đống tiền chất đầy đền này phủ kia, ngân sách nhà nước bỏ ra cho Lễ hội bị lãng phí.

Ai cũng muốn làm cái Lễ hội cho làng mình tươm tất hơn. Để rồi sinh ra hàng ngàn hệ lụy tốn tiền của người dân và nhà nước. Sau vài ngày Lễ hội, đền chùa có đẹp hơn không? Chẳng có đền, chùa hay di tích nào trụ vững trước hàng trăm ngàn người chen lấn, xô đẩy, không chen được thì trèo lên bờ tường, hàng rào, giẫm lên cỏ… Nét đẹp tinh thần của người Việt từ xa xưa hình như không còn được gìn giữ, mà đã bị lợi dụng, thậm chí biến tướng để phục vụ cho mục đích cá nhân, tập thể…

Thái  độ văn hóa của người tham gia Lễ hội là việc rất đáng nói trong hoàn cảnh hiện tại. Trong số  đó, phần nhỏ là người về thăm lại Quê  hương nói chung có thái độ rất tốt với bản quán, trừ việc cung tiến đến mức đưa vào Di sản bừa bãi những đồ thờ không hợp với cảnh quan. Nhìn cách nhiều người hành xử trong những Lễ hội mới thấy dường như, chưa bao giờ sự Dị đoan bùng nổ như hiện nay, làm mất hết ý nghĩa thiêng liêng cúa các tín ngưỡng bản địa và Phật giáo.

Lễ  hội văn hóa trong xã hội hiện đại ở bất cứ nước nào, đều gắn với kinh doanh. Nhưng điều tiết giữa những món lợi và hành vi văn hóa để Lễ hội còn sống mãi với thời gian, là việc mà các Địa phương nên đặt lên hàng đầu, trong đó những Nội dung Văn hóa Truyền thống phải được coi là Thiêng liêng bất biến để Trân quý, giữ gìn.

 
(Tham khảo: - sách Non nước Việt Nam, TC Du lịch VN, 2005 - báo Tuổi trẻ Cuối tuần số 7-2011)

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 11.04.2011 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com