BÁT NHÃ TÂM
KINH là bộ Kinh ngắn gọn nhất, chỉ có 260 chữ mà bất
cứ người tu Phật nào cũng biết. Những tu sĩ trong Chùa
thì hầu như tụng mỗi ngày. Các nhà nghiên cứu thì cũng
theo từ ngữ mà đào sâu, phân tích, và không thể phủ
nhận bởi lập luận vô cùng chặt chẽ của lời Kinh: "Mọi
Khổ đau là do cái Ngũ Uẩn. Quán nó, Soi rõ nó, để thấy
nó (Sắc) đâu có khác gì Không, bởi nó từ gốc Không
mà ra, cuối cùng rồi sẽ trở về Không!
Do có SẮC
nên mới có Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Có Sắc mới sinh
ra Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, mới có dơ, sạch, tăng,
giảm, Vô Minh, Lão, Tử, Khổ, Tâp, Diệt, Đạo, tu chứng.
Vì thế, khi thấy SẮC chẳng khác gì KHÔNG, SẮC tức là
KHÔNG, thì mọi thứ trước kia vốn là một chuỗi bám theo
đó, như cây to mang theo đủ thứ dây lớn, nhỏ, chằng
chịt, quấn quanh thân. Khi cây đổ, tất cả đều đổ
theo. Thân là nơi chứa những nỗi Khổ. Thân không còn thì
làm gì còn Khổ nữa! Từ đó, nhiều nhà tu, lẫn những
nhà nghiên cứu đều dựa vào lời Kinh để chấp nhận:
Cứ Soi, Quán như thế thì sẽ đạt tới Niết Bàn. Kinh
là con đường mà Tam Thế Phật y theo đó để qua bờ bên
kia và Kinh có "năng lực trừ nhất thiết Khổ, chân
thật bất hư" là không thể chối cãi.
Bờ bên nầy
là cái CHẤP TA hay CHẤP NGÃ, sẽ sinh ra phiền não, khổ
đau, sinh tử. Bờ bên kia là không còn Chấp Ngã, Chấp Pháp,
nhờ đó mà được Giải Thoát, được thanh tịnh, an vui,
Niết Bàn.
Nhưng nếu
người tu học soi, quán, hiểu đến đây rồi dừng ở cái
chấp nhận Lý Bát Nhã, xem như mình đã nắm vững con đường
tu Phật thì chưa đủ. Vì TU có nghĩa là SỬA. Tức là sau
khi thấy được cái LÝ rồi thì phải đưa vào SỰ, tức
là áp dụng cái Lý đó vào cuộc sống. Thế nhưng, khi áp
dụng cái LÝ BÁT NHÃ, Thấy "các pháp là Không"
vào cuộc sống thực tế, người tu sẽ rơi vào hai trạng
thái: Hoặc lúng túng giữa Lý và Sự, không thể áp dụng
được, nhựng không dám nghĩ thêm, vì sợ mâu thuẫn với
lời Phật dạy. Hoặc tưởng tượng mọi thứ đều KHÔNG,
nghĩ rằng mình đang KHÔNG, trong khi bản thân mình đang sống
và hành xử hoàn toàn trong pháp CÓ.
Thật vậy.
Phải chăng một thực tế không thể chối bỏ là ta đang
hiện hữu, đang tồn tại, tức là đang CÓ? Ta đã sinh ra,
lớn lên, đã học biết bao điều, làm bao nhiêu việc. Ta
CÓ cảm giác. Có hiểu biết. Có cả những nhu cầu: như
đói phải ăn. Khát phải uống. Lạnh phải ủ ấm. Nóng
nực phải cần gió mát. Bệnh phải uống thuốc. Phải học
hành, làm ăn. Phải tiếp xúc, đối phó hàng ngày với biết
bao nhiêu vấn đề của cuộc sống? Hơn thế nữa. Chẳng
những chỉ Có Ta mà còn Có cả một thế giới cùng chung
sống trên trái đất, trong đó có phải, quấy, hơn, thua,
giàu, nghèo, cao, thấp, tốt, xấu, suớng, khổ, sống, chết…
diễn ra mỗi ngày. Khi muốn tu hành thì Có biết bao nhiêu
Tôn Giáo cho ta chọn lựa. Mỗi tôn giáo lại Có biết bao
nhiêu thầy. Con đường tu hành theo Đạo Phật lại có biết
bao nhiêu việc phải hành trì, bao nhiêu quả vị phải đạt
đến. Tất cả đều CÓ, nếu bảo rằng Không thì liệu
có hợp lý không?
Các pháp
CÓ hiện diện khắp nơi. Ngay cả vào tu hành cũng phải
CÓ kinh sách để tham khảo, Có việc ác phải trừ, Thiện
phải tập. Phải Thiền, Quán. Phải Giữ Giới, lập Hạnh…
Mọi thứ đều CÓ. Mở mắt là đã Thấy, đã Nghe. Vậy
liệu cái thực tế phũ phàng này có quét sạch những lý
thuyết mà ta thấy quá đúng kia chăng?
Từ thực
tế của cuộc sống, ta thấy: Phải chăng, đã đành: "Sắc
bất dị Không" nhưng người đẹp vẫn ưa nhìn hơn
là người xấu. Câu khen vẫn thích nghe hơn là câu chê.
Lời thanh vẫn êm tai hơn lời tục. Giao du với người tốt
vẫn thích hơn là người xấu. Dễ thân cận, gần gũi với
người hợp với mình hơn là người đố kỵ, hay chê bai,
chỉ trích mình.
Phải chăng
"Có cũng như Không" nhưng Có tiền vẫn hơn là Không
tiền! "Thọ bất dị Không", nhưng khi bụng đói,
không thể dùng câu Kinh hay lý luận để ru ngủ, vẫn cần
phải Thọ thứ gì đó, dù ngon, dở, cho bao tử thôi kêu
réo?
Hàng ngày
ta vẫn gặp đủ thứ vấn đề, tất cả đều cần đến
pháp CÓ. Phải Có tiền để chi dụng. Phải Có nhà cửa
để trú ngụ, Áo quần để che thân. Thuốc men khi trái
gió, trở trời. Phải giáo dục con cái. Phải tính toán
để chi tiêu hợp lý. Hàng tháng phải Có bao nhiêu thứ
để chi: điện, nước, tiền chợ, tiền gạo, tiền học
cho con cái, tiền tang ma, hiểu hỉ… Làm thế nào để những
thứ đó trở thành KHÔNG để Thoát các Pháp đây?
Các Pháp
dù sẽ qua đi, sẽ về Không. Nhưng phải chăng nhiều điều
vẫn được lưu truyền không dứt? Bằng chứng là thời
này có ai gặp được Thượng Đế hay Thần Linh? Nhưng mọi
người vẫn tin tưởng, vẫn cầu xin. Các tôn giáo dạy
thờ phụng các Ngài vẫn phát triển? Phải chăng tất cả
đều xuất phát từ những gì tưởng chừng như sẽ qua
đi, sẽ tan biến theo thời gian?
Như vậy,
cuối cùng Đạo Phật sẽ đưa ta về đâu? Nếu qui tất
cả thành một chữ KHÔNG, ai chấp nhận tu hành đều phải
vào CỬA KHÔNG MÔN. Sống ép xác, ăn chay. Mặc y hoại sắc.
Bỏ hết nhà cửa, cha mẹ, vợ chồng, con cái. Chuyên tâm
tu niệm. Bỏ hết việc đời để cầu mong mai kia về Tây
Phương Cực Lạc hay Đông Phương tịnh quốc. Thì ta nghĩ
sao khi Đạo Phật cho là Giải Thoát phải được thực hiện
ngay tại cuộc sống đầy phiền não, để mọi người sau
khi tu học thì sẽ Thoát phiền não, như Hoa Sen vẫn nở
trên bùn, mà không vương mùi bùn? Bởi Hoa Sen từ lúc còn
là mầm cho đến lúc tàn tạ thì vẫn ở nguyên trong bùn,
đâu có bứng đi để trồng vào chậu nước tinh khiết?
Cái thấy
các pháp là KHÔNG chưa phải là cái Lý rốt ráo của Đạo
Phật, bởi không thể ứng dụng vào thực tế. Vì thế,
một Thiền Sinh bị Thiền Sư Dokuon đập cho một điếu
khi dông dài báo cáo: "Con thấy các pháp là Không.
Không ta, không người, không nhân, không quả, không thiện,
không ác, tất cả đều không". Thế nhưng khi lãnh
cái điếu liền nổi sùng lên, hỏi: "Sao Thầy lại
đánh tôi?" Để rồi vị Thầy lôi anh chàng trở
về với thực tế: "Nếu tất cả là Không thì cái
gì đang nổi Sân lên đó?"
Phải chăng
đó là sự thật để người tu nhìn lại những hiểu biết
của mình xem có khế hợp với Đạo hay không? Bởi vì mỗi
Bộ Kinh Phật đều được Phật khẳng định: "Đây
là Kinh cao nhất, là con đường mà Tam Thế Phật y theo
đó để đắc Vô thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác" để người tu học tin tưởng
theo đó mà thực hành. Nhưng sau đó cần phải bổ sung thêm.
Vì mỗi Bô Kinh, Phật theo trình độ tu học của đệ tử
mà thuyết. Lần lượt Ngài sẽ giảng tiếp, cho đến Bộ
Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Phật thuyết trước lúc Ngài nhâp
diệt mới là Bộ Kinh cuối cùng.
Khi người
mới vào tu học còn nguyên tính chất phàm phu, đang CHẤP
CÓ, thấy tất cả đều CÓ. Chính vì thấy cuộc đời là
Thật. Các Pháp là Thật, là CÓ, nên mới có Nhân, Ngã,
mới có THAM, SÂN, SI, THƯƠNG, GHÉT, ham muốn, tìm cầu, để
rồi tạo Nghiệp ác. Do đó, muốn tháo gở cho họ, Phật
phải chỉ cho họ cái GỐC cuối cùng của vạn pháp là
KHÔNG, để họ thấy rằng dù có yêu thích vật chất của
cải hữu vi, dùng mọi thủ đoạn gian trá để tranh dành,
chiếm đoạt cho được, bất chấp gây đau khổ cho người
khác. Nhưng khi cái thân hết kiếp, tất cả đều phải
bỏ lại, Nghiệp quả lại mang theo, vì thế mà phải Thọ
Thân khác quanh quẩn trong Lục Đạo để trả, không dứt.
Cái KHÔNG
chỉ là một giai đoạn tu hành, mục đích là để gở những
dính mắc vào các pháp CÓ, đến lúc đủ duyên thì Phật
đã hướng dẫn tiếp bằng Kinh DIÊU PHÁP LIÊN HOA. Đọc
Kinh, chúng ta thấy các đệ tử thời đó của Phật chia
ra làm 2 nhóm: Một nhóm 5.000 người khi nghe Phật sắp giảng
thì đã lễ Phật lui về, cho rằng những gì mình được
nghe từ trước đến giờ đã đầy đủ. Phật gọi đó
là bọn "Tăng Thượng Mạn. Chưa được mà cho là đã
được. Chưa Chứng mà cho là đã Chứng". Số còn lại
thì hoang mang, nghĩ rằng: "Hôm nay
Đức Phật cớ chi ân cần ngợi khen phương tiện mà nói
rằng: "Pháp của Phật chứng rất sâu, rất khó hiểu,
tất cả hàng Thinh Văn cùng Duyên Giác không thể
đến được"
Đức Phật
nói một nghĩa GiẢi Thoát. Chúng ta cũng chứng
được pháp đó đến nơi Niết Bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa
đó về đâu?"
Đầu tiên
Phât ngần ngại không nói, vì e rằng "Nếu nói việc
đó thì tất cả trong đời, trời, người, Atula
đều kinh nghi, Tỳ kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào
hầm lớn". Mãi sau khi Ngài Xá Lợi Phất ba lần
thưa thỉnh, "xin Đức Thế Tôn nói
để những người theo Phật học hỏi
được nhiều lợi ích" thì Phật mới dạy rằng:
"Các Đức Phật Thế Tôn vì một nhân duyên lớn
là KHAI TRI KIẾN PHẬT, CHỈ TRI KIẾN PHẬT, Muốn cho chúng
sinh TỎ NGỘ TRI KIẾN PHẬT. CHỨNG VÀO
ĐẠO TRI KIẾN PHẬT mà hiện ra nơi
đời". Tức là mục đích sự xuất hiện của các
Đức Thế Tôn là để hướng dẫn cho tất cả mọi chúng
sinh đều sẽ được GIẢI THOÁT như lời Kệ:
"XÁ LỢI
PHẤT, NÊN BIẾT
TA VỐN LẬP
THỆ NGUYỆN
MUỐN CHO
TẤT CẢ CHÚNG
BẰNG NHƯ
TA KHÔNG KHÁC"
Dù vậy,
không thể ngay trong một bước mà có thể nói hết con đường
tu tập, nên Phật phải dùng PHƯƠNG TIỆN. Bởi:
NẾU CHỈ
KHEN PHẬT THỪA
CHÚNG SINH
CHÌM NƠI KHỔ
KHÔNG THỂ
TIN PHÁP ĐÓ
DO PHÁ PHÁP
KHÔNG TIN
RỚT TRONG
BA ĐƯỜNG DỮ (TR.84)
Vì thế,
Ngài đã:
VÌ CÁC LOÀI
CHÚNG SANH
PHÂN BIỆT
NÓI BA THỪA
TRÍ KÉM ƯA
PHÁP NHỎ
CHẲNG TỰ
TIN THÀNH PHẬT
CHO NÊN DÙNG
PHƯƠNG TIỆN
PHÂN BIỆT
NÓI CÁC QUẢ" (84)
Chính vì
vậy mà:
BÈN CÓ TÊN
NIẾT BÀN
CÙNG VỚI
A LA HÁN
TÊN PHÁP,
TĂNG SAI KHÁC" (85)
Trong Kinh
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN trang 233 Quyển I, Phật dạy: "Nếu
người tu học nhiều Pháp KHÔNG thời là chẳng tốt. Bởi
vì sao? Vì dứt tất cả pháp, vì hư hoại nhiều chơn pháp
tạng Như Lai. Tu học như trên
đây gọi là tu pháp KHÔNG". Cũng chính vì vậy mà
Phật quở trách hàng Thinh Văn là "Chồi khô, mộng
lép" vì chẳng sinh được lợi ích cho ai, kể cả
cho chính bản thân họ. Vì đã CHẤP KHÔNG tức là trên
chẳng thấy có Phật để học hỏi. Dưới chẳng thấy
có Chúng Sinh để cứu độ. Chính vì vậy, Kinh DIỆU PHÁP
LIÊN HOA là Kinh để khai mở cho hàng Thinh Văn, đưa họ
lên địa vị Bồ Tát, cứu độ Chúng Sinh để hoàn thành
Phật Quốc.
Muốn ĐỘ
SINH thì phải thấy Chúng Sinh. Phật mô tả Chúng Sinh như
sau: "Lúc Đức Đại Thông Trí Thắng Phật
đặng quả Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, trong 10 phương, mỗi phương
đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu
điệu vang động. trong các cõi nước
đó, chỗ tối tăm ánh sáng của nhựt nguyệt không soi tới
đặng mà đều sáng rở. Trong
đó chúng sinh đều đặng thấy nhau,
đồng nói rằng: "Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng
sinh?"
"Chỗ
tối tăm ánh sáng của nhựt nguyệt không soi tới",
đó là cõi Tâm của mỗi người. Chúng sinh là những tư
tưởng luôn khởi, diệt trong ta. Đối với chúng ta hiện
nay thì quá dễ để nói, để hiểu. Nhưng thời của Phật
giảng đã cách đây hơn 2.550 năm, việc mô tả cõi Tâm
hay Chúng Sinh không phải dễ. Ngài phải vận dụng phương
tiện, vì thế rất dễ gây hiểu lầm. Những ai đọc Kinh
mà thiếu những hiểu biết căn bản của Đạo, thì rất
dễ lạc vào Nhị Thừa, Thần Quyền, hoặc Tăng Thượng
Mạn vì thấy Làm Phật quá vĩ đại, được "làm
thầy của Tam Thiên Đại thiên thể giới". Họ quên
rằng Tu Phật là Tu Tâm, nên Tam thiên Đại thiên thế giới
mà Phật nói đó cũng ở Cõi Tâm của mỗi người mà thôi!
Và rồi cũng không ít người tu cho đến nay vẫn còn hiểu
"Độ Sinh" là đi "độ"
cho những người khác bên ngoài. Thậm chí còn bịa thêm
"Độ Tử" là đi tụng niệm,
cầu siêu cho người mới qua đời!
Tóm lại.
Tu Phật là để Thành Phật. Tức là để được Giải Thoát.
Các Ngài Thinh Văn trước khi Phật giảng Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa chưa hề nghĩ đến mình sẽ được Thành Phật,
vì họ tưởng lầm Phật là thần linh như Đức Thích Ca
phương tiện nói về quyền phép, về sự cứu độ của
Phật. Cho đến khi Phật Thọ Ký và mở ra Con Đường Độ
Sinh cho họ. Chỉ cho họ biết thế nào là Chúng Sinh. Bày
cách thức cho họ giáo hóa. Chỉ nguyên nhân Sinh Tử Luân
Hồi và cách hóa giải để được Giải Thoát, được hết
Khổ khi sống, kiếp sau cũng được sinh chỗ lành. Đó là
mục đích của Ngài khi đưa Đạo Phật ra giữa đời thì
họ mới vỡ lẽ ra.
Con đường
tu hành phải qua nhiều giai đoạn. Đầu tiên để gỡ dính
mắc vào các tướng Hữu Vi, Phật đưa ra Pháp KHÔNG. Cuối
cùng Ngài dạy CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO, "CHẲNG PHẢI CÓ,
CHẲNG PHẢI KHÔNG, MÀ CŨNG CÓ, CŨNG KHÔNG". Chẳng phải
CÓ, vì cái CÓ không trường tồn. Chẳng phải KHÔNG vì
hiện đang TẠM CÓ. Người chấp các pháp là KHÔNG sẽ trở
thành mâu thuẫn với cuộc đời. vì nói KHÔNG mà hành CÓ.
Do chấp KHÔNG nên họ quên rằng một ngày còn sống là
vẫn còn phải THỌ mọi sản phẩm của cuộc đời, từ
cơm áo, cho đến mọi vật dụng khác. Đâu thể cho rằng
các Pháp là KHÔNG rồi không đóng góp công sức để trả
nợ cuộc đời? Cho nên sau khi thấy các pháp là KHÔNG, người
tu vẫn phải quán sát tiếp, để thấy rằng cuộc sống
dù được cho là giả tạm nhưng cũng kép dài cả 100 năm,
thời gian đó hưởng dụng biết bao vật dụng của đời?
Đã thọ ân là phải trả ân, bởi Đạo Phật dạy người
tu còn phải đền TỨ ÂN, đâu phải chỉ nói KHÔNG là buông
xuôi tất cả? Chính vì vậy, người tu theo Đạo Phật chân
chính thì phải sống ở con đường TRUNG ĐẠO. Không chấp
CÓ mà cũng không Chấp KHÔNG. Cứ đúng theo đạo đức của
con người mà thực hành. Trong đó cố gắng tìm CÁI TA THẬT.
Cho đến lúc gặp được, gọi là THẤY TÁNH. Lúc đó sẽ
thấy rằng MÌNH không phải là cái thân xác giả tạm này,
mà chỉ nương nó để trả nghiệp và thực hiện những
điều tốt đẹp cho mình, cho người để cùng được an
vui trong kiếp sống.
Không bám
lấy các pháp. Chấp nhận những khổ, vui, được, mất
của cuộc đời. Giải quyết các pháp một cách tốt đẹp
nhất, thì sẽ được an ổn, gọi là "Qua bờ bên kia",
là Niết Bàn, Phật Quốc được thành lập, chẳng phải
là thần thông, phép màu, Tây Phương, Đông Phương, hay chờ
qua cõi nào khác! Cho nên, sau khi tu học theo BÁT NHÃ TÂM
KINH, người tu còn phải bổ sung thêm nhiều Kinh khác, để
thấy rằng Đạo Phật không phải đưa người tu học rời
CÁI CÓ để đến CÁI KHÔNG, mà cuối cùng là CON ĐƯỜNG
TRUNG ĐẠO. Vì 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp chỉ là những
cư xử trong Nhân Thừa (ĐẠI PHƯƠNG TIỆN PHẬT BÁO ÂN
tr. 461). Người tu có cao đến mức nào cũng không rời cõi
người, nên PHẬT THỪA không rời NHÂN THỪA, và mục đích
của Đạo Phật chỉ là giáo hóa cho con người. Để mọi
người được sống an vui và xứng đáng kiếp người, có
ích cho đời. Do biết cuộc sống không trường tồn. Mọi
vật, kể cả ta, rồi sẽ phải hư hoại, cho nên không ích
kỷ, tham lam, sân si, hận thù, gian manh, lừa đảo, hại
người, để không phải KHỔ vô lượng kiếp vì những
chấp nhất do thiếu sáng suốt vậy.
______________________________________________