TÀI HOA MỆNH BẠC:

ALEXANDER PÚSHKIN

(1799-1837)



    (Kiến Thức Văn Học Nga)


 

Bài 5 .

 

XII
(Tháng 1/1831 – Tháng 10/1833)

      Tháng 1/1831, Púshkin trở lại Moscow và dàn hòa với gia đình Gontcharova. Ngày hôn lễ được định là 18/2/1831. Chẳng mấy chốc lại xảy ra những xung đột mới giữa Púshkin và gia đình người vợ sắp cưới. Vì vậy, trong ngày cuối năm vui nhộn khi còn ở Boldino, Púshkin đã trải qua với một nhóm người gypsy ca múa. Và vào tuần lễ trước ngày đám cưới, thi sĩ đã viết cho một người bạn rằng, “quyết định thành hôn chỉ là một việc thông thường”, nhưng Púshkin đã làm điều ấy mà “không chút nào say sưa, sung sướng, không cả cái tâm trạng bị bùa mê mù quáng của một thanh niên”; và rằng nhà thơ hẳn rất ngạc nhiên nếu “trong tương lai sẽ gặp được chút nào hạnh phúc.”

Ngay đêm trước lễ cưới, Púshkin ôm hôn bạn hữu với  “một tình cảm cực kỳ buồn bã”. Và chính ngay hôm cưới, 18/2/1831, dẫu có phấn khởi chút ít, nhưng một vài việc rắc rối xảy ra đã khiến cho chú rể giải thích rằng các điều ấy “giống như những điềm xấu của quỷ ma!”

Sau vài tuần lễ hạnh phúc bất ngờ xảy ra ở  Moscow, cặp uyên ương trẻ tuổi ổn định đời sống ở Tsárskoye-Sélo, nơi Púshkin từng theo học khi còn bé. Nhà thơ tin tưởng rằng họ có  thể sống một cuộc đời đơn giản. Sự thật không như thế. Cuộc hôn nhân thoạt đầu xét theo bề ngoài thì rất hạnh phúc, nhưng bên trong, sự hòa hợp giữa hai người trong cuộc đã không xảy ra. Sắc đẹp của Nathalie làm chóa mắt những người nàng gặp, và Hoàng đế Nicholas I chỉ định cho thi sĩ một chức vụ ngồi không ăn lương ở Bộ Ngoại Giao với số lợi bổng hằng năm là 5.000 rúp để đôi lứa trẻ tuổi có thể hiện diện trong tất cả các buổi dạ vũ của triều đình.

Hàng loạt các cuộc tiếp tân, vô số những lễ  lạc nối tiếp nhau quấy rầy không ngớt đời sống hôn nhân của Púshkin. Trong khi người vợ trẻ tự phóng mình hoàn toàn vào một xã hội quay cuồng của giới quý tộc đô thị thì Púshkin đâm ra bực bội vì cái rào liên hoan đình đám chung quanh đã tàn phá gần hết mọi năng lực sáng tạo của ông. Cậu nhỏ đọc thơ Voltaire và Parny, chàng tuổi trẻ say đắm với biết bao mối tình, con người cô đơn ở vùng đồng quê hẻo lánh Mikhailovskoye, vị trang chủ uy quyền ở Boldino… rốt lại chỉ còn là một gã đàn ông bị buộc phải tùy thuộc vào những ý muốn đòi hỏi vô tận của người vợ trẻ phù phiếm. Những chuyến đi nghỉ ở vùng quê để tìm sự yên tĩnh và cảm hứng sáng tác không còn nữa. Thời gian này, chỉ một đôi truyện bằng thi ca và vài bài thơ trữ tình chào đời mà thôi.

Roussalka (Rusalka), bi kịch dở dang, viết năm 1832, xuất bản năm 1837, là câu chuyện kể về cô  con gái của một người làm nghề  xay bột, bị quyến rũ  bởi một hoàng thân, đã tự  trầm mình vào giòng sông Dniepr và  biến thành một nữ thủy thần. Một ngày kia, nàng gửi đứa con gái nhỏ, sinh ra từ  tình yêu xưa của họ, đến kẻ phụ tình lúc ấy đang sắp sửa lấy vợ. Người này, bất thình lình cảm thấy có một sức mạnh quái dị không thể cưỡng, kéo lê ông ta về phía giòng sông.

Bi kịch của Púshkin ngừng ở đây, trong bối cảnh bên bờ sông chợt thấy ló  hiện ra cô con gái của người xay bột đang vẫn còn yêu và đợi chờ người tình cũ. 

Bi kịch này bị đánh giá như bản văn được viết phỏng theo tác phẩm Das Donauweibchen của nhà văn Đức Karl Friedrich Gensler. Tuy nhiên, trên thực tế, những đề tài của Púshkin lại luôn được biết như những tham khảo từ truyền thống trữ tình của các bài ca hay huyền thoại Nga. Và Roussalka lại thuần túy tính chất địa phương với các nhân dáng điển hình như người xay bột già và buổi tiệc thôn quê rất quen thuộc trong các câu chuyện dân gian ở Nga.  

Mùa thu 1831, chỉ trong vòng một tháng, tác phẩm thi ca kỳ diệu hàng đầu Viên Kỵ Sĩ Bằng Đồng đã được chào đời. Bài thơ dùng xưng tụng ngày lễ đăng quang của Đại đế Pierre, người đã kiến tạo nên thành phố Saint-Pétersbourg. “Viên kỵ sĩ” thực sự là một bức tượng bằng đồng đúc to lớn mà Hoàng đế đã cho dựng lên ngay trung tâm thành phố. Nhân vật chính của bài thơ là một Chàng thư ký trẻ tuổi tên Evguéni. Trong một  đêm mất ngủ, chàng chỉ  suy nghĩ đến công việc kiếm ra tiền và  đến mối tình của chàng với người yêu tên Paracha. Thình lình có một tiếng động ầm ĩ vang lên. Những cơn gió rít mạnh trên đường phố; giòng sông Neva bị ngập nước y hệt một cơn đại hồng thủy! Evguéni thoát chết bằng cách bám lấy bờm con sư tử bằng đồng, phần duy nhất của bức tượng đang còn nổi bên trên mặt nước. Chàng nhìn thấy trước mặt mình căn nhà bị ngập lụt của người yêu, và, gần đó là “chàng kỵ mã bằng đồng”. Sự đau đớn đã làm cho chàng mất trí. Kể từ đó chàng sống lê lết trong tỉnh, ăn vận rách rưới, vẻ mặt hung dữ, đói khát. Một ngày kia, chàng đi ngang qua bức tượng “viên kỵ sĩ bằng đồng”. Trong một lúc tỉnh táo, chàng nhớ lại mối tình đã mất nên đứng nhìn vào dòng chữ bằng kim khí đề tên Hoàng đế và cất tiếng mắng chửi dữ dội: “Chính ngài phải chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ của tôi bởi vì đã cho xây dựng thành phố này trên một bãi sình lầy.” Từ đó, chàng đâm sợ hãi mà xa lánh mọi người trong nỗi tin tưởng rằng “Viên Kỵ Mã” cứ đeo đuổi để hãm hại chàng… Một ngày sau đó, người ta tìm thấy cái tử thi chàng trên một hòn đảo nơi vùng biển có ngôi nhà của Paracha bị cuốn trong nước.

Viên Kỵ Sĩ Bằng Đồng tuy là một tác phẩm nhỏ nhưng rất hoàn hảo trên nhiều mặt. Những dữ kiện thật được lồng trong những vần thơ mang tính cách vừa hùng tráng vừa ưu nhã, kết hợp với những đoạn kể hư ảo trữ tình, đã khiến bài thơ có được cái cấu trúc thật hài hòa và tuyệt mỹ. 

Hoàng Đế Thổ Nhĩ Kỳ (Skazka o care Saltane), là một chuyện kể bằng thơ, xuất bản năm 1833.

Trong một câu chuyện đùa giỡn, ba chị  em phát nguyện với nhau. Người thứ  nhất nói: “Nếu tôi là  hoàng hậu, tôi sẽ làm một đại tiệc đãi tất cả thần dân.” Người thứ hai: “Riêng tôi, dựa theo nghề nghiệp của mình, sẽ dệt áo cho tất cả mọi người.” Nàng thứ ba: “Còn tôi thì sẽ tặng một con ngựa quý cho hoàng đế”. Với những lời sau cùng này, hoàng đế xuất hiện và cưới nàng thứ ba làm vợ, phong cho hai nàng kia làm đầu bếp và chủ hãng dệt.

Chiến tranh xảy ra. Trong khi vắng mặt hoàng đế, hoàng hậu hạ sanh một hoàng tử. Hai người chị, vì lòng ganh tị, vội cử  người đến báo tin cho hoàng đế hay rằng vị hoàng tử là một đứa con trai quái dị kinh khủng và không ra hình dáng con người. Hoàng đế đáp lời “hãy đợi ngài trở về.” Nhưng hai người chị ngụy tạo lá thư hoàng đế, sửa đổi rằng “ngài ra lệnh cho hoàng hậu phải nhảy xuống biển cùng với đứa bé”. Hoàng hậu đành phải tuân lời. Kỳ diệu thay, hai mẹ con được một con thiên nga giang cánh cứu cho và đưa đẩy họ tắp vào một hải đảo có một thịtrấn với phong cảnh rất hữu tình. Tại đây, hoàng hậu và vị tiểu hoàng tử Gviodon được dân chúng đón tiếp, tôn vinh.

Phần hoàng đế, sau khi thắng trận trở về, dù cho với những dèm pha của hai bà chị độc ác, một ngày kia ngài vẫn quyết định tìm đến hải đảo thần tiên nơi hoàng hậu và hoàng tử đang lưu ngụ. Vui mừng cực độ khi gặp lại vợ con; ngài đã mở lòng khoan dung tha thứ mà không bắt tội chết hai bà chị độc ác. 

Trong khi bị lưu đày tại Mikhailovski, Púshkin đã  nhiều lần ứa lệ khi nghe những mẩu chuyện dân gian từ bà vú già. Thi sĩ đã viết cho một người bạn: “Thật đẹp làm sao với những câu chuyện kể! Mỗi câu chuyện đều là một bài thơ!” Rồi, với tài năng thiên phú, Púshkin đã chuyển một trong những “bài thơ” được nghe thành câu chuyện lãng mạn nói trên.

Cũng trong mùa thu 1831, giữa những xô bồ cuộc sống (chiếm chỗ hàng đầu vẫn là sự túng quẫn tiền bạc), giữa những bất đồng vợ chồng ngày càng trầm trọng, Púshkin vẫn hoàn tất được Evgénij Onégin, một quyển tiểu thuyết bằng thơ gồm 8 chương, được bắt đầu trong những ngày bồng bột sôi nổi nhất của tuổi trẻ (mùa xuân 1822) và kết thúc trong giai đoạn ê chề đau đớn nhất (mùa thu 1831) của nhà thơ.

Những nhân vật quan trọng trong tác phẩm là: Evgénij Onégin, một chàng trai phong lưu, xã giao rộng; Vladimir Lenski, chàng thi sĩ lãng mạn; hai chị em TatianaOlga Larine; và một nhân vật lúc nào cũng ẩn-mặt-hiện-diện trong câu chuyện, chính là tác giả.

Evgénij Onégin là một người quý  tộc trẻ, mồ côi, được giáo dục theo kiểu văn hóa Pháp, tính tình hoài nghi, ích kỷ, chán nản trước tất cả mọi sự. Sự thừa kế  gia sản từ một người chú để lại, đã thúc đẩy chàng rời bỏ Saint-Pétersbourg đi về đồng quê sống. Nơi đây, cùng với Vladimir Lenski, một địa chủ và cũng là thi sĩ tâm hồn mơ mộng, lý tưởng, Onégin bắt đầu sự lui tới thường xuyên trong ngôi nhà của Madame Larine, đang sống cùng hai con gái: cô Tatiana lãng mạn buồn sầu, và cô Olga sống động vui vẻ. Vladimir Lenski là người yêu của cô Olga.

Phần Tatiana lại yêu say đắm Onégin và  tự thú nỗi lòng với Onégin qua một lá  thư nồng nhiệt vô tội. Đáp trả, chàng trai phong lưu  đưa ra một bài thuyết giáo trên những nguy hiểm mà  các cô gái trẻ đang tự chuốc lấy vào mình bằng cách phóng tình cảm họ một cách mù quáng cho đàn ông.

Rồi  để tống khứ mối buồn chán, trong một buổi dạ  vũ, Onégin bắt đầu tán tỉnh Olga. Điều này dẫn tới cuộc thách đấu súng của Lenski. Onégin giết chết Lenski.

Sau nhiều năm giang hồ đây đó, Onégin trở lại Pétersbourg và hay rằng cô gái tỉnh lẻ Tatiana thuở xưa nay đã thành hôn với một đại tướng và trở nên một phụ nữ  cao quý. Onégin đâm ra say mê nàng và theo đuổi nàng trong vô vọng. Chàng viết cho nàng những lá thư; một ngày kia lại tìm đến nhà nàng khi nàng đang ở một mình trong nhà. Tatiana thú nhận với chàng rằng nàng vẫn còn yêu chàng, nhưng đồng thời cũng tuyên bố là nàng không bao giờ phản bội người đàn ông đã đặt tin tưởng vào nàng và đã cưới nàng làm vợ. 

Là  tác phẩm thi ca dài nhất Púshkin đã sáng tác ra, và cũng phổ thông nhất trong nước Nga, viết theo thể thức trào phúng của Byron, Evgénij Onégin vừa được định giá như một cuốn tiểu thuyết do từ các tình tiết éo le của câu chuyện; vừa cũng là một bài thơ bởi cái cấu kết đượm tính trữ tình đặc biệt của tác giả.

Được cấu tạo chốc chốc lát lát một cách bất thường suốt trong 8 năm, trên nhiều mặt, Evgénij Onégin đã là tiêu biểu rõ rệt cho con người và vận số thăng trầm của Púshkin, phản ảnh từng giai đoạn sống mà cuộc đời đã tác động lên thi nhân. Tác phẩm chứa đựng đầy những biến đổi, chuyển tiếp từ các sôi nổi dữ dội qua đến những đớn đau buồn bã; từ sự nhạo báng cay độc qua đến mọi xúc cảm dồi dào. Từng chương đoạn được xuất bản nhiều lần theo từng thời kỳ khác nhau, nhưng bản hoàn hảo chỉ được cho chào đời kể từ 1833. Nổi bật nhất là chương đầu tiên viết vào năm 1823. Phải gọi đó là vòng hoa chiến thắng của một thiên tài vĩ đại, chói ngời hào quang và sôi sục như men rượu champagne, kể lại cuộc sống của một chàng trai phong lưu xứ Pétersbourg, rất thân mật với chính con người Púshkin trước thời gian bị lưu đày xa thành phố.(10)

Có  vài đoạn tẻ nhạt vô ích, nhưng lời thơ  thì vẫn luôn luôn quyến rũ bởi cái kỹ thuật diễn đạt tân kỳ của nó. Đặc biệt, cho dù lối dùng chữ hoa mỹ đã không được tìm thấy trong Evgénij Onégin thì cũng không phải vì thế mà chất thơ lai láng lại không dội lên trên từng chữ, từng câu.

XIII
(Tháng 10/ 1833—Tháng 6/1834)

Sau hơn một năm thành hôn, Nathalie sinh hạ một con trai. Năm 1833, thêm một bé gái chào đời. Tình mẫu tử vẫn tuyệt không chút nào làm giảm đi sự hăm hở háo hức trước một bề mặt chói lòa của cuộc sống xã hội trong lòng người đàn bà trẻ. Nhà thơ phải trải qua hết mọi thời giờ của mình trong việc đi hộ tống nàng Nathalie lộng lẫy, cố gắng chịu đựng và kềm giữ tiếng ngáp chán ngán trong các buổi dạ vũ dài như vô tận…

Cuối năm 1833, đến phiên Con Đầm Bích (Pikovaja Dama), một trong những sáng tác rực sáng nhất của Púshkin, xuất hiện. Nếu trong văn chương có sự liên hệ giòng giỏi thì tác phẩm này phải kể là được nhìn như một tiền thân xa xôi của Tội Ác Và Hình Phạt, một trong những sáng tác vĩ đại của Dostoievski về sau.

Phỏng theo lối viết Hoffmann(11), Con Đầm Bích được nhà thơ cấu tạo trong sự phối hợp một cách tài tình những yếu tố thực tế với các tưởng tượng hoàn toàn.

Nhân vật chính, chàng Hermann, có  lần nghe người bạn kể  câu chuyện về một nữ  Bá tước già từng thắng nhiều canh bạc lớn chỉ  vì đã nắm trong tay bí  mật của ba lá bài. Nhờ  thế, bà thoát được ra khỏi tình trạng khó khăn sau khi thua bạc. Hermann là người không bao giờ đánh bạc, nghe xong, liền bị tràn ngập bởi mối ám ảnh muốn chiếm hữu cái bí mật đó của bà Bá tước. Chàng bèn tìm cách xâm nhập vào phòng bà mà uy hiếp, buộc bà phải nói ra bí mật. Quá kinh hoảng, bà Bá tước bất thần gục chết trên ghế, trước khi kịp nói lời gì. Sau đám tang, bóng ma của bà Bá tước hiện lên tại nhà chàng tuổi trẻ để nói cho chàng nghe về bí mật của ba lá bài. Đem thực hành lời chỉ dẫn, với hai lá đầu tiên, Hermann thắng lớn. Nhưng lá thứ ba, ngỡ rằng cũng thắng như hai lá kia, nào ngờ giở ra thì lại là con đầm bích. Do đó chàng thua sạch; rồi trở nên điên.

Bản văn, trên hết là một sự phân tích rất sắc bén, cẩn thận về nỗi ám ảnh của nhân vật chính; đồng thời là một quan sát sâu xa về những hoang tưởng của chàng. Thuần tính chất nghệ thuật, Con Đầm Bích rất được hoan nghênh bởi các nhà văn thuộc phái Lãng Mạn thời ấy. 

Riêng Dubrovskij, bi kịch về một chàng trẻ tuổi có tâm hồn cao cả và can đảm, nhưng bị phần số xô đẩy đến chỗ phải trở nên một tên cướp núi. Tác phẩm gióng lên tiếng nói phản đối, chống lại những bất công trong xã hội, là một biểu tượng sáng chói cho các nhà văn theo sau, được viết năm 1832-1833, nhưng mãi đến năm 1841, sau khi Púshkin đã chết, mới được xuất bản.

Kiril Petrovitch Troekourov, một lãnh chúa giàu có, tính tình tàn  ác hống hách, đã từng là  bạn của ông Dubrovskij, một vị  quý tộc nghèo. Một ngày kia ông Dubrovskij bị sỉ nhục bởi một tên đầy tớ của Kiril, và vì danh dự riêng mà không chấp nhận sự điều đình chuộc lỗi của phía Kiril. Tình bạn trong lòng Kiril chuyển sang oán hận. Lão lãnh chúa bèn xếp đặt một sự trả thù. Lợi dụng sự quen biết với tất cả các viên chức chính quyền sở tại, Kiril thành công trong việc toa rập với các người này để chiếm đoạt tài sản gia đình Dubrovskij bằng những hình thức hợp lệ.

Phần  ông Dubrovskij, do bởi uất  ức mà phát điên. Người con trai, Vladimir Dubrovskij lúc ấy đang ở  St. Pétersbourg, được bà vú già gọi về nhà, kịp lúc nhìn thấy cha ngã chết trên tay mình. Ngay sau đó, những viên chức chính quyền đến tịch biên lãnh địa của chàng. Quá đau khổ, và cũng vì lòng oán ghét hệ thống cai trị thời ấy, chàng nổi lửa đốt trọn căn nhà, không để nó lọt vào tay bọn Kirl. Xong, tụ họp các nông nô và thành lập một băng cướp núi từ đây. Họ cướp phá khắp nơi trong vùng, tiếng tai vang dội, nhưng không ai trừ khử được họ.

Một ngày kia, Vladimir gia nhập vào căn nhà  lão lãnh chúa trong vai trò  một giáo sư dạy tư giả hiệu. Tại đây chàng gặp lại Masha, cô bạn thời thơ ấu, con gái vị lãnh chúa. Họ yêu nhau. Và đó là lý do để chàng tha chết cho vị lãnh chúa. Cho đến khi tông tích giáo sư giả hiệu của chàng bị khám phá, chàng bỏ trốn trở lại vào rừng.

Riêng Masha, bị cha buộc phải làm vợ một nhà quý tộc, nàng cầu cứu Dubrovskij giải thoát cho nàng ngay hôm đám cưới. Nhưng mọi sự quá muộn. Chàng đến quá trễ sau khi nàng đã đeo nhẫn cưới của vị quý tộc trước bàn thờ Chúa. Valdimir đành nhìn giấc mơ yêu đương của mình tan biến như ảo ảnh… Quân lính bao vây đồn trại của chàng nhưng bị đánh tan tành. Sau đó, chàng giải tán đám cướp, tự mình trốn ra ngoại quốc.

Trong câu chuyện lãng mạn này, cũng như trong nhiều câu chuyện khác của Púshkin, độc giả không thể tìm ra kết thúc. Có lẽ nhà văn muốn ngụ ý rằng, trong cuộc đời thực tế, những câu chuyện tương tự đều không thể nào có hậu quả tốt đẹp chăng?

Chức vụ ngồi không ăn lương đã giúp cho nhà thơ  có cơ hội lui tới cơ quan lưu trữ văn thư. Nhà thơ bèn lợi dụng điều ấy để trốn khỏi cái vòng xã hội đáng chán ghét để tìm hiểu về lịch sử nước Nga. Đề tài được chọn nghiên cứu là cuộc phiến loạn của Pugatchév tàn sát đẫm máu suốt vùng Đông Nga dưới thời nữ hoàng Catherine II.

Vào  cuối năm 1833, Púshkin trải qua vài tháng thăm viếng vùng Pugatchév ấy. Khi trở lại Moscow trong tình trạng xác sơ không còn đồng xu dính túi, nhà thơ nhận được ngay chiếu truy tặng của Hoàng đế: “Con Người Phong Nhã Của Khuê Phòng”. Điều này đã làm tổn thương rất nhiều tâm hồn thi sĩ bởi ông biết chắc rằng chiếu truy tặng ấy chỉ là cái cớ để người vợ trẻ đẹp của ông có thể hiện diện bất cứ lúc nào trong các buổi vũ hội của triều đình.

Lúc bấy giờ, nhà thơ đã biến thành một triều thần của Hoàng đế, tùy thuộc càng nhiều hơn vào những ơn huệ vua ban, đặc biệt là kể từ khi ông mắc phải món nợ lớn với ngân khố nhà nước. Púshkin cảm thấy nghẹt thở trong cái xã hội mà một thi sĩ –dù với 600 năm giòng giõi quý tộc và một tiếng tăm lừng lẫy—vẫn chỉ bị nhìn như một kẻ bề tôi của đám công hầu cổ hủ từ thế kỷ 18; hơn nữa là người chồng của một đệ nhất mỹ nhân thời ấy. Nhà thơ ghét bộ đồng phục triều đình mà ông cho rằng chẳng khác nào bộ quần áo sặc sỡ của một anh hề; ghét xã hội quý phái có ông đang dự phần; gọi nó là một tổ hợp sa đọa. Ông cố tự thoát ra ngoài cái vòng tròn độc hại này, nhưng cũng tự hiểu rằng nếu từ bỏ kinh thành thì chính ông cũng sẽ tức khắc bị loại trừ ngay.

Một cách tệ hại, mọi sự việc lúc bấy giờ  đi từ chỗ tàn tệ đến hư nát. Cha Púshkin bị phá sản và thi sĩ đành chấp nhận thêm cái gánh nặng quản lý mọi hoàn cảnh sống của gia đình song thân. Ngoài ra, cũng chẳng có cách nào dành dụm những món tiền kiếm được từ ngòi viết của mình. Và để sáng tác, cần phải có thì giờ rỗi rảnh; điều ấy lại thật hiếm trong cuộc sống khi ấy của thi nhân.

Riêng Nathalie thì lại không hề nghĩ đến điều tự chôn vùi cuộc đời trong xó xỉnh của một tỉnh lẻ. Và cả chính Púshkin cũng không thể làm mất lòng Hoàng đế bằng cách trốn về đồng quê mà sống. Những điều này quả thật là một cái vòng lẩn quẩn làm điên đầu thi sĩ. Thêm vào những phiền toái ấy, Púshkin khám phá ra rằng những lá thư gửi cho vợ hoặc bạn bè đều bị cảnh binh bóc ra trước khi đến tay họ.

XIV
(Tháng 6/1834–Tháng 5/1836)

Tháng 6/1834, Púshkin làm đơn xin rút lui khỏi cái nhiệm sở bù nhìn chỉ làm bẽ mặt cho ông. Toan tính của nhà thơ trở nên vô ích khi lá đơn không được Hoàng đế phê chuẩn.

Năm sau, 1835, Púshkin lại làm một cố gắng khác để tự giải phóng ra khỏi hoàn cảnh rối rắm hiện tại. Thi sĩ trình bày thật cho Hoàng đế biết rằng trong cuộc sống hôn nhân, ông đã thiếu nợ lên đến 60.000 rúp và cầu xin được phép vắng mặt trong bốn năm để có thể tự do sáng tác, từ đó hồi phục lại tài sản và cuộc sống. Để trả lời, Hoàng đế chỉ chấp thuận cho thi sĩ vắng mặt trong bốn tháng và cấp cho vay số tiền 35.000 rúp như một hình thức giữ chân Púshkin lại dưới sự kiểm soát của triều đình. Púshkin càng gắng sức thoát ra thì lại càng cảm thấy vướng mắc chặt chẽ hơn trong cái xã hội mà ông vô cùng chán ghét. Thêm vào đó, vấn đề tiền bạc lúc nào cũng vây khốn đầu óc. Thi sĩ nợ nần tứ phía, ngay cả nợ người hầu riêng. Tất cả những vật dụng giá trị trong nhà đều lần hồi bị đem cầm cố. Thi sĩ đâm ra cáu kỉnh và già hẳn người đi.

Năm 1835, đặc biệt Púshkin không viết gì được ngoài một vài bài thơ nhỏ và bản văn Những Đêm Hy Lạp (Egipetskie noci).

Tcharski, một thi sĩ thời thượng, tìm kiếm trong vô  hiệu một phương thế để chạy trốn những điều khó chịu tạo ra từ  danh vọng. Một ngày kia, chàng gặp một nhà  văn Ý nghèo đói, tự  giới thiệu mình là kẻ  có tài ứng khẩu thành thi. Cảm động bởi hoàn cảnh của người này, Tcharski bèn đứng ra tổ chức một đêm dạ tiệc với ý định giới thiệu anh ta như một nhân vật nổi bật. Buổi tiệc chấm dứt với sự yêu cầu của quan khách, xin nhà văn Ý ngẫu hứng một cái gì đó dựa trên những mối tình của Cléopâtre. Chàng ta bèn xướng lên câu chuyện về những đêm khoái lạc nhục dục của vị nữ hoàng với những ai chấp nhận là sẽ bị chém đầu vào sáng hôm sau.

Bởi tính tự nhiên của sự cảm hứng và sự  tao nhã trong thể cách, bài thơ ngẫu hứng trong tác phẩm được đánh giá là một trong những bài hay nhất Púshkin đã từng viết ra.

Tư  tưởng Púshkin trở nên nghèo nàn, sức sáng tác giảm sút hẳn và gần như đi đến chỗ tê  liệt (trong khi trước đó chẳng bao xa, nhà thơ  đã cho chào đời những vần thơ tuyệt diệu nhất nước Nga). Có phải rằng các nhà phê bình đã quên lãng Púshkin? Hay chính thi sĩ đã tự vùi chôn lấy mình?

Bước khởi đầu của năm 1836 mang đến cho nhà thơ đau khổ một tia hy vọng nhỏ. Từ lâu, Púshkin vẫn muốn xuất bản một tập san nghệ thuật. Sau rất nhiều lần hoãn đi hoãn lại, ông được nhà nước cho phép thực hiện điều ấy. Tờ tạp chí mang tên Sovremennik, xuất bản định kỳ ba tháng một lần. Thi sĩ hy vọng, với điều này, ông có thể thu được một số tiền để trả dần số nợ đã vay và giải thoát khỏi sự lệ thuộc vào Hoàng đế. Ông tự tay trang trí tờ báo, viết những đề mục đặc biệt và cho đăng những sáng tác chưa bao giờ được xuất bản. Ông cũng nhận được sự đóng góp bài vở của một nhóm nhà văn mới khác, trong số có cả Gogol, nhưng chủ yếu vẫn là những nhà văn thế hệ cũ.

Dẫu  đã tự ép mình vào trong một thứ khuôn mẫu, Púshkin vẫn cảm thấy rõ ràng được vấn đề kinh doanh trên tờ tạp chí đã đem cho nhà thơ  biết bao nhục nhã. Ông càng cố gắng nhiều hơn  để bảo tồn tên tuổi danh tiếng tạo dựng bấy lâu và  nay lưu lại cho con cái (lúc ấy đã lên tới bốn đứa). Trong một lá thư viết cho vợ quãng thời gian này, thi sĩ tự than rằng mình là một kẻ có tài và có tâm hồn mà phải chào đời trên đất Nga, thành ra cái tài và cái tâm hồn kia chẳng có cơ may vùng vẫy.

Tháng 5/1836, Púshkin đã công khai khước từ cuộc thách đấu súng của một gã quý tộc vì những lăng nhăng vung vít giữa Nathalie và gã. Khác với cả một thời tuổi trẻ bồng bột sôi nổi, lúc ấy, hơn bao giờ, Púshkin chỉ còn chứng tỏ là một con người bị trói cả hai tay trước những tai ương mà định mệnh không ngừng đổ dồn lên ông.

Mùa hè 1836 đối với Púshkin thật buồn thảm. Tờ tạp chí ---cũng giống như bao nhiêu công việc và sáng tác kể từ 1830—rõ ràng thất bại. Số lượng xuất bản định kỳ ba tháng đã không đủ tiêu chuẩn giống như Púshkin từng đưa ra. Thêm nữa, có những độc giả nói lên cảm tưởng rằng trong hàng ngũ các nhà văn tiền phong, Púshkin đã không còn chỗ đứng. Ngoài ra, tiền bạc vẫn là điều luôn luôn thiếu thốn trong cuộc sống nhà thơ. Những món nợ ngày càng gia tăng và nhu cầu của những người thân không ngừng đòi hỏi nơi thi sĩ.

Khi mùa thu đến, Púshkin bỏ không đi về miền quê  như thói quen từ trước. Dù vậy, bằng một cố gắng bất ngờ, tháng 10/1836, Púshkin cho chào đời Con Gái Ngài Chủ Soái (Kapitanskaya doc’ka), tác phẩm đã đem lại cho thi sĩ tầm vóc của một nhà văn lớn trong văn học Nga.

Trên thực tế, đây là sáng tác cuối cùng Púshkin đã viết khi đang còn sinh thời. Một cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất bản thành tập nhỏ được đăng trên tạp chí Hiện Đại vào năm 1836, mô tả  Cuộc nổi dậy đẫm máu của Pugatchév dưới triều đại nữ hoàng Catherine II. Qua những cuộc phiêu lưu của chàng sĩ quan trẻ Grinev và người hầu trung tín Savéllitch, Púshkin đã bày ra trước mắt độc giả sự huy hoàng của một bản văn với lời lẽ gọn gàng nhưng đầy hoa mỹ xúc tích. Độc giả có mặt ngay từ buổi xuất hành đầu tiên của chàng Trung úy và người hầu khỏi căn nhà cha mẹ để đến đồn Bélogorsk xa xôi, nơi Grinev phải thi hành bổn phận quân sự. Tiếp theo là sự gặp gỡ giữa Grinev với Maria Mironova, con gái viên đại úy đồn trưởng; cuộc đấu súng với một kẻ thù (là chàng Chvabrine tương lai); sự vây bủa và sự chiếm lãnh đồn lũy bởi người nổi loạn tên Pugatchév. Người này cứu thoát cuộc đời Maria và ngay cả cứu chàng trẻ tuổi Grinev mà hắn vừa mới nhận biết ra là  kẻ đã từng một lần tặng cho hắn cái áo khoác ngoài. Kế đến, Grinev bị bắt giữ và bị buộc cho cái tội đại nghịch mưu phản đã cố ý liên lạc với những kẻ nổi loạn. Cuối cùng, nhờ lời cầu xin của Maria lên nữ hoàng Catherine II mà chàng sĩ quan được tha bổng.   


Người ta có thể hiểu tại sao Tolstoi sau này đã cho Con Gái Ngài Chủ Soáitác phẩm văn xuôi lớn nhất của Púshkin. Trong khung cảnh của một tỉnh lỵ xa xôi ở Nga thế kỷ 18, những hành động của các nhân vật và những biến cố lịch sử được miêu tả dưới một ngòi viết bậc thầy đã đem lại cho tác phẩm cái đặc tính quen thuộc của một cuốn biên niên sử đầy sinh khí tư liệu. Kể từ đó, khuôn dáng nữ hoàng Catherine II và kẻ nổi loạn Pugatchév đã vô tình đi vào thực tế suy nghĩ của người dân Nga một cách đầy thu hút.

Cho dẫu vẫn còn phôi thai, thảng hoặc pha trộn tính chất cường điệu, và cuối cùng bị bỏ dở  dang, trên nhiều cách, tác phẩm Con Gái Ngài Chủ Soái đã mang cùng phẩm chất của một Chiến Tranh Và Hòa Bình của Léon Tolstoi sau này. Sự cân xứng, nét đặc sắc, tính quả quyết và lời văn đơn giản mộc mạc trải suốt từ đầu đến cuối tác phẩm đã là những yếu điểm gây tác động tài tình trên nhiều thế hệ văn sĩ kế tiếp của nước Nga. 



... CÒN TIẾP ...

_________________________________________________










© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 28.03.2011.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .