Nhân ngày giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch

TÌM LẠI NGUỒN GỐC
 DÂN TỘC, ĐẤT TỔ THỜI VUA HÙNG



Cho tới nay, ít có ai tin chắc rằng đất nước Văn Lang thời vua Hùng Vương chỉ là một cương vực nhỏ bé bao gồm 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc trước đó sống chung với nhau) trải dài từ Bắc bộ tới Bắc Trung bộ tức phía Bắc giáp với Trung Quốc nay (cụ thể tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây) và Nam giáp với Champa xưa (cụ thể là tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay).

Theo “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” của Viện sử học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (NXB KH-XH, Hà Nội 1987), ”Nước Văn Lang chính thức thành lập với các vua Hùng (theo sách Đại Việt sử lược thì cụ thể là vào các năm 696-682 trước Công nguyên) hưng khởi từ đỉnh tam giác châu sông Hồng (miền đất sau này gọi là Gia Ninh, Mê Linh, Phong Châu) cũng là nơi đóng “kinh đô” để thu phục các “bộ”, “bộ lạc”(theo Đại Việt sử lược thì có 15 bộ lạc) trong cả nước trong một thể thống nhất của một xã hội có giai cấp sơ kỳ.” (trang 13). Sách này ghi nhận đây là thời kỳ “Tiền Hùng Vương và Hùng Vương” được đặt ở cột mốc của năm 2.700 năm trước Tây lịch nhưng lại dẫn chứng Đại Việt sử lược thời Lê công nhận ở mốc lịch sử với các năm 696-682 trước Tây lịch.

“Sổ tay Báo cáo viên năm 2005” của Ban tư tưởng – văn hóa Trung ương cũng ghi theo sách Đại Việt sử lược :”Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước TL) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu nước là Văn Lang. Việt Vương Câu Tiễn (505-462 trước TL) cho người đến dụ hàng nhưng Hùng Vương không theo.” (trang 135). Sổ tay lấy cột mốc 696-682 là thời gian ở ngôi vua của Trang Vương nhà Chu thông tin về sự có mặt của nước Văn Lang và vua Hùng chớ đâu phải cột mốc ra đời.

Nhưng cả hai tài liệu vừa nói đều dựa vào Đại Việt sử lược nên chưa chắc đã xác đáng và đồng xác định vị trí địa dư là khu vực Bắc Bộ ngày nay.

Trong khi đó, “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim (NXB Văn hóa thông tin 1999) ở chương I nói về họ Hồng Bàng (2879-258 tr.Tây lịch) lại chép : Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh cháu ba đời của vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam tới núi Ngũ Lĩnh (Tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) lấy vợ là tiên sinh ra Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương Vương (năm 2879 tr.TL), quốc hiệu là Xích Quỉ. Bờ cõi Xích Quỉ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình hồ (tỉnh Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên), phía Đông giáp biền Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy con gái vua Động Đình hồ đẻ ra Sùng Lãm cho tiếp tục làm vua gọi là Lạc Long quân. Ông này lấy Âu Cơ đẻ ra trăm đứa con và trong số này có người trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương.

Nhà sử học Trần Trọng Kim cho rằng họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời từ Kinh Dương Vương đến Hùng Vương thứ 18 có cả thảy 18 ông vua, tính từ năm Nhâm tuất 2879 đến năm Quý mão 258 tr.TL được 2622 năm và ông nghi ngờ vì tính trung bình mỗi ông vua ở ngôi tới 150 năm. Còn “Sổ tay Báo cáo viên năm 2005” nói trên trong phần nói về Thời đại Hùng Vương và Lễ hội đền Hùng 10/3 Ất dậu đã theo sách “Đền Hùng và Bảo tàng Hùng Vương, Ban Quản lý khu di tích lịch sử Đền Hùng” của tác giả Phạm Khiêm – Tuyết Hạnh xuất bản năm 2000 xác nhận có 18 chi Hùng Vương và liệt kê danh sách đầy đủ, thí dụ khởi đầu là chi thứ nhất là chi Càn hiệu vua Kinh Dương Vương húy Lộc Tục có số năm giữ vương quyền 86 năm (2879-2794 T.CN), chi thứ hai là chi Khan hiệu vua Lạc Long quân húy Sùng Lãm ở ngôi 269 năm (2793-2525 T.CN), chi thứ ba là chi Cấn hiệu vua Hùng Quốc Vương húy Hùng Lân ở ngôi 282 năm (2524-2253)… tới chi thứ 18 là chi Quý hiệu là Hùng Duệ Vương húy Huệ Lang ở ngôi 150 năm (408-258 T.TL) - (trang 140-141).

Như vậy, “Sổ tay Báo cáo viên năm 2005” vừa căn cứ theo Đại Việt Sử lược vừa dựa theo Việt Nam sử lược nên đã mâu thuẫn về niên đại nói sự ra đời của nhà nước Văn Lang và số năm ở ngôi của các vua Hùng vì khi nói về niên đại xuất hiện của nhà nước Văn Lang thì lấy mốc 696-682, còn nói về đời vua thì công nhận 18 chi – đời kéo dài 2622 từ năm 2879 đến năm 2585. Điều này làm cho người đọc thắc mắc không ít.

Khi nói về thời vua Hùng Vương thứ 6 (1712-1632) xảy ra biến cố giặc Ân tới xâm phạm bờ cõi thì tác giả “Việt Nam sử lược” cho rằng chuyện Phù Đổng Thiên Vương dẹp giặc Ân thời vua Hùng Vương thứ 6 là không có. Ông đã giải thích : Giặc Ân là quân của nhà Ân bên Tàu sang đánh nước ta. Nói như thế thật là một điều lầm. Về đời nhà Ân nước Tàu chỉ ở vào mạn sông Hoàng Hà là đất tỉnh Hà Nam, Trực Lệ, Sơn Tây và Thiễm Tây bây giờ mà thôi. Còn những đất ở bên này sông Trường Giang là man di hết cả. Từ Trường Giang sang Bắc Việt ta cách bao nhiêu đường dài. Dẫu lúc ấy ở bên ta có họ Hồng Bàng làm vua nữa thì chắc cũng chưa có kỹ cương gì, có lẽ cũng giống như một người làm quan lang trên Mường mà thôi, thế thì đã có giao thiệp gì với nhà Ân mà đánh nhau.

Rất tiếc là tác giả “Việt Nam sử lược”  đã chép được chuyện về họ Hồng Bàng bao gồm 18 đời Hùng Vương và nước Xích Quỷ có được cương vực đất nước rộng lớn mà lại không nhìn nhận chuyện bị giặc Ân xâm chiếm với anh hùng Phù Đổng đánh thắng giặc ngoại xâm đầu tiên này.

Ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch sử đều cho rằng Xích Quỷ hay là Quỷ phương có nghĩa miền đất đỏ hay vùng nóng ở phương Nam so với các nhà Hạ khoảng thế kỷ XXI-XVII T.TL, Thương, Ân khoảng thế kỷ XVII-XI T.TL ở phương Bắc thuộc các tỉnh Hà Nam, Thiễm Tây ở mạn sông Hoàng Hà là vùng đất lạnh lẽo. Nước Xích Quỷ có địa bàn từ hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam) phía Nam sông Trường Giang. 18 đời vua Hùng kéo dài 2622 năm nối nghiệp nhau trên một đất nước rộng lớn Xích Quỷ (có thể là do các đời vua Hùng trước cai quản) và Văn Lang (của các đời vua Hùng sau).

Theo lịch sử Trung Quốc, nhà Ân, Thương có nền văn hóa của thời đại chiếm hữu nô lệ đang chuyển sang chế độ phong kiến nên bắt đầu gây chiến với các nước chung quanh, trong đó có Xích Quỷ - Văn Lang. Niên đại thời Thương, Ân phù hợp với niên đại của Hùng Vương thứ 6. Do đó, ta có thể khẳng định là có biến cố giặc Ân và anh hùng thiếu niên ở làng Phù Đổng đem quân chống ngoại xâm. Xích Quỷ - Văn Lang và Ân - Thương không có chiến tranh qua lại vì dân tộc Việt hay Lạc Việt thời ấy chưa mạnh, khi thấy bị tấn công thì tự ý rút lui nhường đất. Do đó, mặc dù chiến thắng nhất thời nhưng vua Hùng không thể trụ lại lâu dài mà rút lui, di tản chịu bỏ một phần Xích Quỷ - Văn Lang phía Bắc vùng hồ Động Đình. Sau đó, thời Tây Chu xảy ra chiến tranh Xuân Thu (770-475 T.TL) và Chiến Quốc (475-221 T.TL). Có thể khi xảy ra chiến tranh thời Xuân Thu thì dân Lạc Việt di tản xuống phía Nam rồi làm cho nước Xích Quỷ - Văn Lang bị thu hẹp ở phía Bắc mà mở rộng về phương Nam, chuyển dần xuống An Huy, Quý Châu, sau cùng chỉ còn lại khu vực Bắc Bộ như hiện nay và bao gồm 15 bộ như chúng ta đã biết.

Các nhà nghiên cứu phương Tây còn cho biết, chính vua Hùng Vương thứ 18 đã kéo quân đánh trống đồng đi chinh phục vùng đất phía Nam Bắc Bộ tức Nghệ An, Hà Tĩnh và đụng phải tộc Chăm đang cư trú vùng đất thuộc Quảng Bình. Ngày nay ở động Phong Nha trên vách đá có khắc nhiều chữ Phạn mà tác giả là tộc Chăm của thời ấy.

Theo sử ta, đời vua Hùng Vương thứ 6 (tức chi Ly thuộc đời Hùng Hồn Vương húy Long Tiên Lang 1712-1632 có giặc Ân tức nhà Ân, Thương gây chiến là chính xác và họ gọi ta là Kinh man hay Man di. Nếu tính từ Kinh Dương Vương (2879 T.TL) dân tộc Việt đã phát tích từ thời Nghiêu, Thuấn, Vũ thời đại trước Hạ, Thương, Ân, Chu của Trung Quốc. Theo Lịch sử Trung Quốc (NXB Giáo dục 1991), trong thời vua Vũ, liên minh bộ lạc do Vũ cầm đầu đã lập được nhiều chiến công lớn, đánh đuổi được các bộ lạc du mục chung quanh (bộ lạc Miêu, Lê ở miền Nam Hoàng Hà bị đánh bật xuống tận lưu vực Trường Giang) (trang 13).

Theo nhiều nhà khảo cổ, bộ lạc Miêu là Miêu tộc di cư tới thượng du Bắc bộ được gọi là Mán hay Dao và Giao (nên bị gọi là Giao Chỉ). Nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc tác giả bộ sách “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” nghiên cứu về thời thượng cổ nước ta 5.000 năm của dân tộc Việt Nam (NXB Bách Bộc, Sài Gòn 1971), cho biết chủng Mã Lai xuất phát từ Nam Á (Austro Asiatique) đã di cư nhiều đợt qua Đông Dương (có Việt Nam) lên Trung Quốc sang Tây Tạng ở chân núi Himalaya (Hi-Malaya có nghĩa Malaysia vùng núi) rồi Ấn Độ. Sau đó, do nhiều lý do về thời tiết, đất đai, đụng với dân tộc khác từ Trung Đông và Bắc Á tới nên đã quay trở lại Trung Quốc và Đông Dương cũng làm thành nhiều đợt và hợp chủng ở khắp nơi, trong đó có chủng Mông Cổ (Mongolics). Lạc Việt tổ tiên của Việt Nam đã từ Tây Tạng quay về chiếm vùng Hoa Bắc (phía trên sông Hoàng Hà) trước cả thời thượng cổ của Trung Quốc (Hiên Viên, Toại Nhân, Phục Hi, Thần Nông…). Sau đó, tộc chủng Mã Lai hợp chủng với Mông Cổ thành người Hán hay Hoa xâm nhập Hoa Bắc đánh đuổi Lạc Việt thành Bách Việt di tản khắp mọi miền Trung Quốc, kể cả đi tới Triều Tiên, Nhật Bản, trở xuống Đông Dương và Indonesia bằng đường biển…(Lịch sử sơ kỳ của Indoneisa ngày nay có ghi lại thời tiền sử của dân tộc mình, mô tả nơi sinh tụ ban đầu hao hao giống cảnh trí ở tỉnh Hòa Bình có núi đá vôi trong khi ở vùng đất hải đảo Indoneisa không nơi nào có núi đá vôi).

Từ Thương, Ân, Chu cho tới Tần (Tần Thỉ Hoàng) người Hán luôn thực hiện chính sách bành trướng, mở rộng đất từ sông Hoàng Hà xuống Trường Giang (Dương Tử giang) rồi Tây Giang để đánh đuổi các bộ tộc khác trong đó có Lạc Việt (để không muốn cho họ có dịp quay trở lại địa bàn cũ). Thậm chí từ Tần đến Hán, Tam quốc, Đường vẫn tiếp tục tiến đánh Việt Nam, cụ thể là thời kỳ Bắc thuộc ngàn năm, trong đó có Hai Bà Trưng và những cuộc xâm lăng khác suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân Lạc Việt thời kỳ phong kiến (nước Đại Việt). Cho nên chuyện giặc Ân đánh nước ta từ Hùng Vương thứ 6 là có thật.

Ở phần kết luận nghiên cứu của mình, Bình Nguyên Lộc viết như sau :

Cái tính cách cổ của dân ta quả không kém gì của Tàu :

2.000 năm cựu thạch (thời  đá cổ) ở Hi-Malaya (cao nguyên Tây Tạng)

5 năm tân thạch (thời đá mới) ở Hoa Bắc

2.413 năm tân thạch ở Cổ  Việt (Hồ Bắc, Hồ  Nam, hồ Động Đình )

2.587 năm kim khí ở Việt Nam

Tổng cộng : 7.005 năm..

Nhưng theo ông, thời cựu thạch và tân thạch tuy đã văn minh có văn hóa nhưng chưa gọi văn hiến được, như di chỉ ở hang làng Cườm (Bắc Sơn – Lạng Sơn) đã cho thấy “họ nằm hỗn loạn”, chẳng có mồ mả gì cả. Suốt thời gian 2.413 năm đó (thời tân thạch ở Cổ Việt) họ phải trải qua nhiều giai đoạn tiến hóa, hợp chủng, tranh chấp mà ta hoàn toàn chưa biết được (sđd trang 888-889). Như vậy, thời kỳ kéo dài trên dưới 2.413 năm là quá trình dân Việt (Lạc) di cư từ Bắc sông Hoàng Hà xuống Nam sông Trường Giang tức là từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam, phần nhiều là do bị các tiểu quốc đánh đuổi (gọi là nhà) và lấn chiếm địa bàn của mình đang định cư suốt trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc. Chỉ khi xuống tới Nam sông Tây Giang vùng đất thuộc Quý Châu, Lưỡng Quảng thì Lạc Việt mới hình thành nhà nước Văn Lang với một số đời Hùng Vương và sau đó hợp nhất với Tây Âu để chống các cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Chính vì vậy, dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc rất cao, ý chí chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ đất nước, biết đoàn kết với nhau và các bộ tộc cùng chủng Nam Á – Mã Lai và kiên trì giữ vững truyền thống văn hóa không hề bị đồng hóa, hay mai một.

Nói như nhà nghiên cứu Bình Nguyên Lộc, dân Lạc Việt có quá trình phát tích và tiến bộ dài không thua gì Hán tộc nhưng do bị đánh đuổi lấn chiếm địa bàn sinh tụ liên tục nên phải di cư dần xuống phía Nam trải qua hàng ngàn năm thì làm gì có điều kiện ổn định để an cư lạc nghiệp lâu dài ở một nơi. Khi chạy vũ khí cầm tay là chiếc việt (rìu có cán ngang) mà các triều đại phương Bắc đặt cho dân Lạc ghép với Việt (Từ Việt có nghĩa là Vượt). Chữ Hán viết cho Lạc Việt từ tượng hình cái rìu (việt). Loại rìu này đã được tìm thấy ở di chỉ Quốc Oai (Hà Nội ngày nay). Chỉ tới khi có điều kiện để lập quốc lâu dài thì hình thành nhà nước Văn Lang kéo dài 18 đời, có lẽ chỉ tới vài đời Hùng Vương sau mới định cư ở Bắc Bộ nên còn ghi nhớ một số truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa của mình. Làng Phù Đổng hiện nay cũng chỉ là nơi ghi dấu kỷ niệm chiến tích và người anh hùng tuổi trẻ Thánh Gióng, chớ không phải thời chống giặc Ân ở đây mà ở tận Hồ Nam, Hồ Bắc thời Hùng Vương thứ 6. “Kinh đô” Phong Châu (Vĩnh Phú) cũng chỉ hình thành từ vua Hùng thứ 17, 18.

Đền Hùng hiện nay là do các chế độ phong kiến về sau xây dựng như mỗi thời xây dựng một đền (đền Thượng, đền Trung, đền Hạ). Theo Ngọc phả Hùng Vương ở đền Thượng : Đương thời các vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính thiên tại đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Khi An Dương Vương nối ngôi (năm 258 T.TL) đã xây dựng đền thờ các vua Hùng. Hiện nay theo các tài liệu khoa học đã công bố : nền móng kiến trúc đền Hùng được xây dựng vào triều vua Đinh Tiên Hoàng (thề kỷ thứ X). Đến thời Hậu Lê được hoàn chỉnh quy mô như hiện nay. Có thể lúc sinh thời vua Hùng thứ 18 thường tới núi này để làm lễ tế trời, tế tổ tiên nên đời sau ghi nhận nơi đây để xây dựng đền thờ.

Đền Trung xuất hiện sớm nhất trên núi Hùng, kiến trúc buổi đầu xây dựng vào thời nhà Trần (thế  kỷ thứ XIII). Thế kỷ thứ XV, giặc Minh xâm lược nước ta đã tàn phá đền Hùng, triệt hạ làng Cả ở chân núi, bắt thanh thiếu niên đưa về Trung Quốc. Sau kháng chiến thắng lợi, triều đình nhà Lê đã xây dựng lại đền Hùng, soạn Ngọc phả, lập làng Cổ Tích, đặt quan trông coi đền thờ. Trước thời nhà Lê, đền Trung được gọi là Hùng Vương Tổ miếu. Đền được xây dựng theo kiểu chữ Nhất ( - ), có thớt đá kê cột, mái lợp ngói mũi. Nơi đây còn được Hùng Vương thứ 6 mở tiệc khao quân ăn mừng chiến thắng giặc Ân, dựng miếu thờ các thần linh và Phù Đổng đồng thời làm lễ truyền ngôi cho Hùng Vương thứ 7.

Đền Hạ xây dựng vào thời Lê (thế kỷ  thứ XVII). Đền làm thành hai lớp kiểu chữ Nhị  ( = ). Theo truyền thuyết, sau khi kết hôn, Lạc Long quân  đã đưa Âu Cơ về núi Nghĩa Lĩnh để sinh con. Chúng ta có thể suy ra rằng, thời đầu Hùng Vương chưa có tên núi Nghĩa Lĩnh này. Sau thời kỳ Lạc Việt di tản về Nam tới vùng này trụ hình lại để an cư lạc nghiệp thì nhớ dãy núi Ngũ Lĩnh ở địa bàn sinh tụ xưa nên đặt lại tên Nghĩa Lĩnh thay vì Ngũ Lĩnh ở Trung Quốc nằm phía dưới Hồ Nam và hồ Động Đình.

Phía trước đền Thượng có Lăng Hùng Vương mà  theo truyền thuyết phần mộ các vua Hùng đều an táng tại làng Khang Phụ xã Chu Hóa huyện Lâm Thao (Vĩnh Phú). Riêng vua Hùng thứ 6 đã hóa đá bên gốc cây Kim Giao trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh vào ngày 11 tháng 3 âm lịch. (Theo Sổ tay Báo cáo viên, sđd). Ngọc phả do Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố soạn năm Nhân thìn, Hồng Đức thứ 3 (1472) nên nội dung chỉ tập trung vào thời kỳ các vua Hùng sau, có thể từ Hùng Vương thứ 6 đã diễn ra cuộc chiến đấu với giặc Ân và từ đó đất Văn Lang bị thu hẹp. Đó là biến cố di tản sâu sắc nhất nên dân Lạc Việt nhớ mãi và được ghi trong Ngọc phả và xây dựng di tích vua Hùng trên núi này. Còn vùng đất Xích Quỷ hay chuyện xảy ra ở hồ Động Đình thì không còn nhớ, nhất là nơi phát tích ở Hoa Bắc. Nhưng tên nơi ở cố cựu lại nhớ như Hà Nam, Sơn Tây (Hoa Bắc), sông Tương, sông Tư (Hoa Nam) ở  hồ Động Đình.    

Vẫn theo Bình Nguyên Lộc, tổ tiên ta có địa bàn cũ ở Hoa Bắc nhưng chỉ lập quốc ở  bờ Nam sông Dương Tử (Trường Giang). Trí nhớ của dân ta chỉ có thể trở về nguồn tới thời lập quốc mà thôi, và truyền thuyết rằng thuở xưa ta có biên giới phía Băc là hồ Động Đình đúng sự thật. Truyền thuyết Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ cũng có sự thật trong đó, dĩ nhiên là một sự thật rất hạn chế. Địa bàn Lạc luôn luôn giáp ranh với địa bàn Âu (Quang Đông ngày nay) từ 5.000 năm trước. Sự kiện đáng để ý nhất là địa bàn của Lạc luôn luôn ở đầm lầy, hoặc gần biển (hồ Động Đình), còn địa bàn của Âu luôn luôn ở trong lục địa, núi rừng (dãy núi Ngũ Lĩnh). Bà Âu Cơ là tiên nên dẫn con lên rừng. Đó là Rồng (Lạc) và Tiên (Âu).

Truyền thuyết Phù Đổng Thiên vương cũng có phần nào sự thật. Chính sử Tàu chép : truyện nhà Ân của họ đánh giặc với nước Quỷ phương (hay Xích Quỷ) và đã chứng minh rằng nước Quỷ Phương là một quốc gia Lạc – Thái (dân tộc Lạc và dân tộc Thái) ở Nam Quý Châu.(Sđd trang 823-824).

Vẫn theo Sổ tay Báo cáo viên (sđd), nhà nước Văn Lang của thời đại Hùng Vương hình thành sau bốn giai đoạn kế tục nhau phát triển như sau :

1-Giai đoạn Phùng Nguyên (thuộc Phú Thọ tỉnh Vĩnh Phú) tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II trước công nguyên thuộc sơ kỳ thời đại đồng thau nhưng chưa có công cụ bằng đồng.

2-Giai đoạn Đồng Đậu (thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phú) ở vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ II trước công nguyên thuộc trung kỳ thời đại đồng thau, có lối 20% công cụ và vũ khí bằng đồng, biết luyện kim.

3-Giai đoạn Gò Mun (thuộc xã Tứ Xã huyện Phong Châu tỉnh Vĩnh Phú) tồn tại vào khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, đồ đá chỉ chiếm 48%, đây là giai đoạn hậu kỳ thời đại đồng thau.

4-Giai đoạn Đông Sơn (thuộc tỉnh Thanh Hóa) tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VII trước CN đến thế kỷ thứ I sau CN. Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của thời kỳ đồ đồng sang sơ kỳ đồ sắt, đã làm nên sản phẩm trống đồng nổi tiếng thế giới.

Theo đó, những nhà làm sử ngày nay chủ trương khoanh địa bàn cư trú của người Việt cổ của nhà nước Văn Lang trong vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của nước ta ngày nay và chủ yếu tập trung sống dọc theo châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Các di chỉ khảo cổ ở Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn cho thấy sự phát triển của cư dân sinh tụ ở đây từ khi định cư. Như vậy, đời sau không thấy hết nguồn gốc phát tích và đât Tổ cố cựu của dân tộc Việt cùng với 54 dân tộc khác đã chung lưng đâu cật suốt chiều dài lịch sử dựng nước và bảo vệ trên bốn ngàn năm văn hiến. Sử sách Trung Quốc và các tài liệu nghiên cứu, khảo cổ của nhiều nhà bác học Đông Tây trước và sau Cách mạng tháng 8/1945 đều đề cập tới nguồn gốc dân Lạc Việt trên địa bàn cư trú cổ đã bị đánh đuổi từ Hoa Bắc xuống Hoa Nam nhưng hoàn toàn không bị đồng hóa, không lai Tàu mà ngược lại Tàu lai Việt, theo nghiên cứu của Bình Nguyên Lộc.

Quý Châu, Lưỡng Quảng là địa bàn và có  thời gian gần nhất với Văn Lang, Hùng Vương nên dân  Đại Việt nhớ đã khiến cho vua Quang Trung Nguyễn Huệ  có dự tính đòi lại. Dạ Lang là một địa bàn của dân tộc Tày nằm giữa Quý Châu, Quảng Tây ngày xưa nên ở tỉnh Cao Bằng ngày nay có một huyện mang tên Hạ Lang giáp giới với Quảng Đông là do người Tày đặt ra để nhớ đất cổ của mình sau khi cùng dân Lạc Việt di tản xuống đất mới Cao Bằng. Tỉnh này còn có huyện Trùng Khánh do một dân tộc thiểu số ở đây nhớ tên nơi ở cũ của mình đặt ra. Tướng Mã Viện sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng ở Mê Linh (40-43 sau T.TL) không phải không có lý do mà bắt số lớn quan quân ở đây đưa về tận Linh Lăng (Quý Châu, Hồ Nam) để an trí.

Vua Thần Nông chỉ là thần của nông nghiệp do dân Lạc Việt có nền văn minh lúa nước đặt ra, không dính dáng gì tới Hán tộc (cổ Mã Lai hợp chủng với cổ Mông Cổ). Sau khi dân Lạc rời bỏ Hoa Bắc thì dân Hán bắt chước nghề nông của ta và tôn thờ Thần Nông của ta. Nghề trồng lúa nước dọc theo các sông lớn là của dân Việt nên dân Trung Quốc ở Hoa Nam sau này mới biết trồng lúa nước. Còn dân Trung Quốc ở Hoa Bắc chỉ trồng lúa mì, lúa mạch trên đất khô theo dân Bắc Á.

Thiết nghĩ, các nhà nghiên cứu và làm sử  mới nên tôn trọng tinh thần khoa học để ghi nhận lại nguồn gốc dân tộc, nơi phát tích và quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài lịch sử trên bốn ngàn năm văn hiến, chưa kể hơn ngàn năm của thời kỳ đồ đá cũ và mới. Nếu chỉ tính nhà nước Văn Lang với 18 vua Hùng từ thời điểm 600-700 trước Tây Lịch và sinh tụ trên địa bàn hẹp chỉ gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ là chưa đủ, chưa đúng theo thực tế lịch sử.


_____________________________________________________


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 27.03.2011 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .