- Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng –
Phong Trào Chống Ngoại Xâm Đầu Tiên
Của Phụ Nữ Việt Nam Vào Đầu Thế Kỷ I.



Tháng 3 năm 40 (sau Tây lịch), Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa sông Hát (khu vực sông Đáy và sông Hồng ngày nay). Những người yêu nước ở khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa ở Mê Linh. Từ Mê Linh, nghĩa quân tiến lên công kích Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) thủ phủ của chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ. Nhiều cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra, trước và sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở khắp bốn quận : Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (Trung Trung Bộ) và Hợp phố (nay thuộc tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc).

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã huy động được một lực lượng khá lớn nhân dân khắp đất nước ta lúc bấy giờ thuộc quyền cai trị của nhà Hán (nay là Trung Quốc) và nhanh chóng giành thắng lợi do hợp lòng dân vì đã “vì thù nhà, trả nợ nước” lãnh đạo phong trào kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập cho nước nhà sau trên 100 năm bị các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lăng (nhà Tần 214-208 trước Tây lịch), đô hộ (Nam Việt của Triệu Đà 179-111 trước Tây lịch). Tới phiên mình, nước Nam Việt của Triệu Đà trong đó có Giao Chỉ đã bị Nhà Hán đánh chiếm, sau đó cử Thái thú Tô Định sang cai trị áp dụng chính sách hà khắc để đàn áp nhân dân ta, cướp đoạt của cải, châu báu, trong đó có việc bắt dân Giao Chỉ lên rừng tìm sản vật quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, trầm hương và xuống biển mò ngọc trai khiến cho lòng dân ta thán, căm thù (110 trước TL tới 39 sau TL). Trong khi đó, bọn giặc lại đàn áp các phong trào kháng chiến nổi lên lẻ tẻ của nhân dân, trong đó Thái thú Tô Định gian ác đã bắt giam và sát hại một huyện lệnh yêu nước Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc, con trai của một Lạc tướng ở Châu Diên (dọc bờ phải sông Đáy, nay thuộc Phúc Thọ, Hà Nội).

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà xuất phát từ Mê Linh (giữa vùng núi Ba Vì và Tam Đảo, nay thuộc Thạch Thất, Sơn Tây-Hà Nội) và đóng đô nơi đây trong ba năm làm vua, quê hương của Hai Bà thuộc huyện Đường Lâm bên chân núi Ba Vì chớ không phải Mê Linh ngày nay ở Yên Lãng, Vĩnh Phúc. Theo các nhà nghiên cứu gần đây, để phòng hậu họa về sau, chính quyền đô hộ nhà Hán đã sát hại một số lớn cư dân tại đây và buộc một số khác di dời từ Mê Linh – Sơn Tây bờ nam sông Hồng lên phía bắc sông Hồng nên ngày nay huyện Mê Linh có vị trí ở vùng đất Yên Lãng thuộc Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc. Theo Viện sử học, “Biên niên lịch sử Cổ trung đại Việt “ ghi :”Hai Bà tập trung đánh trị sở các huyện ở Giao Chỉ, mũi chủ công nhằm tiêu diệt Đô úy trị Mê Linh cùng Quận trị Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc nay thuộc Bắc Ninh) và nhiều nơi khác (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1987,  trang 22). Nhiều nhà nghiên cứu thời nay đều xác định Hai Bà quê ở Mê Linh (vùng Sơn Tây) tiến quân đánh trị sở của Tô Định ở ngay cạnh Mê Linh và Châu Diên (quê của Thi Sách, nay là Quôc Oai – Hà Nội) thuộc huyện Liên Lâu (Luy Lâu, Thuận Thành - Bắc Ninh). Địa điểm này còn có tên Long Biên nên trong “Quốc sử diễn ca” của tác giả Lê Ngô Cát – Phạm Đình Toái có viết :

                         Ngàn tây nổi áng phong trần

                  Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên

                         Hồng quần nhẹ bước chinh yên

                  Đuổi ngay Tô Định dẹp yên Biên thành. 

Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em ruột, con gái Lạc tướng huyện Mê Linh thuộc dòng dõi vua Hùng. Trưng Trắc là một phụ nữ đảm đang, dũng cảm, mưu trí. Hai gia đình Lạc tướng, với sự ủng hộ của nhân dân, đang cùng nhau mưu toan sự nghiệp lớn thì Thi Sách bị viên Thái thú Tô Định giết chết. Hành vi tham tàn, bạo ngược của Tô Định không làm cho Trưng Trắc sờn lòng, trái lại càng làm cho bà thêm quyết tâm tiến hành cuộc khởi nghĩa đánh đổ chính quyền đô hộ, khôi phục nền độc lập, “đền nợ nước, trả thù nhà”.

Ba năm sau, nhà Hán cử tướng Mã Viện chức Phục Ba sang nước ta để tiếp tục cuộc xâm chiếm. Nhiều trận đánh nổi tiếng đã diễn ra ở nhiều khu vực khác nhau thuộc Vĩnh Phú, Phúc Yên, Yên Lãng… nằm phía tả ngạn sông Hồng và các vị trí nằm ở phía hữu ngạn sông này thuộc vùng Hà Nội và Sơn Tây ngày nay.

Căn cứ địa cuối cùng của cuộc kháng chiến chống quân Hán của Hai Bà là vùng núi Vua Bà thuộc  dãy núi Ba Vì gần nơi khởi nghĩa lúc đầu. Nơi đây đã diễn ra cuộc chiến không cân sức giữa quân Giao Chỉ với quân thù Đông Hán do Phục Ba tướng quân Mã Viện chỉ huy. Cuộc tiến quân xâm lăng nước ta của tướng Mã Viện đã không dễ dàng vì lực lượng dân quân khắp nơi đều dũng cảm ngăn chặn bước tiến của giặc. Theo di tích còn lưu lại tới ngày nay, Mã Viện với binh hùng tướng mạnh đã tiến qua Lạng Sơn tới Quỷ môn quan đã bị quân dân ta phục kích đánh tơi bời phải quay về Lưỡng Quảng lấy thêm quân và củng cố đội hình. Lần tiến quân thứ hai đi qua Cao Bằng tới nơi hiểm yếu có tên đèo Mã Phục ngày nay – dấu tích Phục ba Mã Viện bị dân quân của Hai Bà chặn đánh trước khi tới chiếm lại thành Luy Lâu, trị sở Giao chỉ (nay thuộc Bắc Ninh). Tướng Mã Viện đã điều động quân dân cả hai tỉnh Lưỡng Quảng để tiếp tục xâm lược và chiếm đóng nhà nước non trẻ ba năm của Hai Bà đi cả đường thủy lẫn đường bộ (Đề nghị bạn đọc xem lại bài “Nhà thơ yêu nước Nguyễn Du với bài thơ Quỹ Môn quan và Thử đi tìm vị trí cũ của huyện Mê Linh đã đăng trên Newvietart).

Nhưng dân quân của Hai Bà khó lòng giữ nổi nền độc lập trước sức mạnh áp đảo của quân nhà Hán lúc ấy đã làm chủ cả  đất nước Trung Quốc rộng lớn và hùng mạnh. Có nhiều giả thuyết nói về cái chết oanh liệt đồng thời ca ngợi tài thao lược chống giặc của Hai Bà. Nhà sử học Trần Trọng Kim viết :”Hai bà họ Trưng làm vua được ba năm nhưng lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời.” Lịch sử Việt Nam tập 1, 1971, viết về cuộc khởi nghĩa anh hùng của Hai Bà như sau :”Nó tiêu biều cho ý chí vươn lên của dân tộc ta, khơi màu cho xu thế phát triển của lịch sử Việt Nam. Nó có tác dụng mở đường, đặt phương hướng cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc về sau này : bất kỳ tình huống nào, nhân dân ta đều quyết giành độc lập hoàn toàn.”.

Chính vì lo sợ nhân dân Giao Chỉ tiếp tục nổi dậy chống lại nền đô hộ của đế chế phương Bắc mà theo truyền thuyết, sau khi đánh thắng Hai Bà, Mã Viện đã theo lộ trình xâm nhập Việt Nam trước đây bằng đường bộ về nước qua ngã Lạng Sơn nên đã cho trồng một trụ đồng nơi ải Nam quan với dòng chữ đầy hăm dọa để trấn áp tinh thấn bất khuất của dân Việt :”Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Người dân ở vùng này lo sợ nên đã ném đá đất quanh trụ đồng này khiến lâu ngày nó bị chôn lấp mất dạng. (Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim, NXB VHTT-1999, trang 51).

Trong cả nước từ sau cuộc khởi nghĩa năm 40 cho tới ngày nay, có rất nhiều nơi lập đền thờ Hai Bà ở vùng Hà Nội, có ba nơi thờ : 1-Đền Hạ Lôi do dân từ Hạ Lôi cũ quê gốc của Hai Bà ở Mê Linh (bên hữu ngạn sông Hồng) bị quan cai trị Hán ép buộc di dời sang đây cư ngụ, xây dựng từ thế kỷ XII. Do đó, Hạ Lôi và Mê Linh ngày nay lại thuộc Vĩnh Phúc (bên tả ngạn sông Hồng). 2-Đền Hát môn thuộc xã Hát Môn huyện Phúc Thọ (bên hữu ngạn sông Hồng) được lập từ thời Tiền Lê thế kỷ X. 3-Đền Đồng Nhân ở ngay trong nội thành Hà Nội do vua Lý Anh Tông năm 1142 cho lập theo huyền tích có hai tượng của Hai Bà trôi dạt đến ở bờ sông Hồng, rồi năm 1819 nơi đây bị sạt lở nên được người dân dời về chỗ hiện nay thuộc quận Hai Bà Trưng đặt tên mới phường Đồng Nhân.

Nhiều nơi trong nước có đền thờ Hai Bà như  ở quận Bình Thạnh trên đường Hoàng Hoa Thám do đồng bào miền Bắc di cư lập nên sau năm 1954.

Đặc biệt, ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc) có “Miếu Bà Trắc” nằm bên bờ hồ Động Đình. Danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746-1803) thời Tây Sơn – Nguyễn Huệ có thời gian đi sứ nhà Thanh năm 1793 khi đi ngang qua tỉnh này (ngày xưa, con đường từ Việt Nam đến kinh đô Trung Quốc đều theo lộ trình từ Lạng Sơn qua Quý Châu, Hồ Nam, Thiễm Tây rồi tới kinh đô Tây An hay Bắc Kinh. Đây chính là con đường di tản của các dân tộc bị đế chế Tần Thủy Hoàng đánh đuổi chạy về phương nam, trong đó có dân Việt (Xem lại bài Thử tìm lại vùng đất cổ của dân Việt qua Chinh phụ ngâm khúc, đã đăng trên Newvietart). Hồ Động Đình thuộc tỉnh Hồ Nam (Trung bộ Trung Quốc) có nhiều di tích cổ liên quan tới dân Việt : sự tích Tiên Rồng và sông Tiêu, sông Tương của nước Xích Quỷ (nước đất đỏ phương nam) theo sử gia Trần Trọng Kim chính là đất nước đầu tiên của dân Việt (rộng lớn từ vùng này tới vùng Bắc Bộ hiện nay). Điều kỳ lạ nhất, nơi đây chính là ranh giới giữa nước Sở và Việt xưa, Sở là khu vực tỉnh Hồ Nam và Việt là khu vực thuộc hai tỉnh Lưỡng Quảng, có dãy núi Phân Mao và có cỏ mao rẽ hai ngã Nam Bắc, trên đường đi có bảng đề “Phân Mão lĩnh”. Ngô Thì Nhậm đã có bài thơ ghi nhận địa danh này, trong đó có hai câu :

                      Nhất đái thanh sơn Sở, Việt giao

                      Hoàng mao dịch lộ nhận Phân mao…

Trong tập thơ Yên đài thu vịnh, Ngô Thì Nhậm ghi chú trong chuyến đi sứ :”Phía nam hồ Động Đình có miếu thờ Bà Trưng. Bà đã chống với Mã Viện ở Hồ Nam và giữ được vài tháng. Sau đó chiến đấu ở Khẩu Phong và thất bại lở Tương Âm rối mất. Nay ở đó còn có miếu thờ Hai Bà Trưng, tục gọi là Miếu Bà Trắc, rất linh ứng”. (Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở Hà Nội – Nguyễn Vinh Phúc, NXB Hà Nội 1983, trang 224).

Các sử gia đều nghi ngờ về trận chiến của Hai Bà với Mã Viện ở nơi đây vì  khu vực này thuộc miền Trung của nhà Hán, ở cách xa với biên giới Việt – Trung. Ngôi đền thờ Hai Bà thì chắc chắn có nhưng sự tích lại khác đi. Theo ghi nhận và nghiên cứu của các sử gia hiện nay, sau khi đánh thắng Hai Bà, nhà Hán đã thực hiện chính sách “trừ nhậu họa” đối với dân Việt :1-Sát hại nhiều đồng bào tại Mê Linh để trả thù, 2-Bắt số còn lại cùng gia đình đưa sang định cư bên phía bắc sông Hồng mà ngày nay có tên Mê Linh, Hạ Lôi…là tên cũ của địa danh mới, nơi quê hương, khởi nghĩa và đóng đô của Hai Bà, 3-Nhà Hán đã bắt nhiều tướng, quan của Hai Bà đi an trí ở Linh Lăng, chính là vùng đất phía nam tỉnh Hồ Nam. Chính các thủ lĩnh nghĩa quân yêu nước này (trên 300 người) đã lập “Miếu Bà Trưng” để tưởng nhớ thủ lĩnh của mình và đất nước mình. Dù được lập trên nước kẻ thù nhưng không một ai dám xâm phạm, phá hủy. Ngoài ra, nhà Hán còn cho lính, quan tới chiếm ngụ đất Mê Linh để định cư lập nghiệp lâu dài. Một thời trị sở đô hộ tại Giao Chỉ của nhà Hán đóng ở đây, về sau mới dời về Đại La (Thăng Long – Hà Nội).

Hàng năm, cứ tới ngày mùng 6 tháng 2 âm lịch nhân dân các nơi đều có giỗ trọng tổ chức nơi đền thờ. Say ngày thống nhất đất nước, Nhà nước còn kết hợp ngày kỷ niệm này chung với ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 dương lịch hàng năm là một nét văn hóa – lịch sử tôn vinh người phụ nữ Việt Nam rất đáng tự hào cùng với phụ nữ năm châu đã có nhiều cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ, giải phóng lao động nữ khỏi cảnh áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản.    


(Viết nhân kỷ niệm 1971 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng)
_____________________________________________________


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 16.03.2011 theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .