MỘT CÁI NHÌN VỀ THIỀN TRONG ĐẠO PHẬT





I .- Ý NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH

Không riêng người tu Phật mới nghe nói đến THIỀN, mà Thiền hiện nay hầu như phổ biến rộng rải khắp nơi. Để tĩnh tâm, để trị bịnh, luyện khí công, mở luân xa, xuất hồn… mọi người đều mượn phương tiện này. Những người hướng dẫn về Thiền ngày càng sáng tạo nhiều kiểu Thiền: Thiền Ngồi, Thiền nằm, Thiền chạy.vv…

THIỀN thật ra không phải do Đức Thích Ca sáng lập, mà trước đó do một người tên là PHẤT ĐANG LA. Lúc đó gọi là Tĩnh Lự hay Tư Duy Tu. Nhưng kể từ khi Đức Thích Ca trải tòa cỏ Ngồi dưới cội cây Bồ Đề trong 49 ngày rồi đắc đạo, thì Thiền Định là một trong LỤC ĐỘ mà Ngài áp dụng để hướng dẫn cho những người tu thực hành nếu muốn thành công trên con đường tu tập.

THIỀN ĐỊNH là một phương tiện của Đạo Phật, vì thế, trước khi sử dụng phương tiện người sử dụng cần biết:

l/- Cách sử dụng.

2/- Mục đích, vì dù là cùng một tư thế Ngồi xếp bằng Bán Già hay Kiết Già, giống nhau. Nhưng do điều khiển hơi thở hoặc tư tưởng mà cho ra nhiều kết quả khác nhau.

Thiền Định một trong 6 Phương tiện Đức Thích Ca dùng để hướng dẫn cho người tu Phật gọi là LỤC ĐỘ gồm có: BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, NHẪN NHỤC, TINH TẤN, THIỀN ĐỊNH, TRÍ TUỆ.

Lý do Đức Thích Ca đưa ra Lục Độ là vì Ngài quan sát thấy chúng sinh trong vũ trụ, cũng như chúng sinh trong Tâm của mỗi chúng ta đều xu hướng không ngoài Sáu Đường: ĐỊA NGỤC, NGẠ QUỶ, SÚC SINH, NHÂN, THIÊN, ATULA, nên Ngài đặt ra Lục Độ là để Độ thoát cho 6 đường này. Thế nhưng, người muốn thực hiện cho thành công thì phải hiểu rõ phương tiện. Tức là phải biết phương tiện đó dùng để làm gì? Sử dụng như thế nào? Để đạt được cái gì? Để biết được những điều đó thì cần có sự tập trung để Tư Duy gọi là THIỀN ĐỊNH. Do đó, Mục đích của THIỀN ĐỊNH là để tập trung tư tưởng rồi dùng đó mà Quán Sát, Tư Duy các pháp để sinh ra sự hiểu biết trên con đường tu hành gọi là Trí Huệ. Đó cũng là ý nghĩa của câu Phật Ngôn: "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".

II.- MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT

Mục đích của Đạo Phật là để "ĐỘ KHỔ". Hết Khổ gọi là ĐƯỢC GIẢI THOÁT hay là THÀNH PHẬT. Nhưng muốn Giải Thoát thì phải biết điều gì đã ràng buộc? Thào gở cách nào? Đó là những gì mà người hành THIỀN ĐỊNH phải dùng thời gian NGỒI để Tư Duy tìm cho ra. Đức Thích Ca nhờ NGỒI THIỀN nên đã tìm ra "Con đường giải Thoát khỏi Sinh tử Luân Hồi" gọi là "Đắc Đạo". Người sau chúng ta thì không phải khám phá thêm điều gì mới, chỉ là lần dò theo dấu chân của Phật và Chư Tổ để xác định lại cho mình mà thôi.

Tu Phật gọi là TU TÂM, tức là SỬA CÁI TÂM MÊ LẦM, để nó sáng suốt mà ngưng tạo Nghiệp. Theo Đức Thich Ca, sở dĩ chúng sinh phải luân hồi là vì những NGHIỆP đã gây tạo, mà những Nghiệp gây tạo không ngoài sự điều động của THAM, SÂN SI, THƯƠNG, GHÉT trong Tâm, nên con đường tu Phật được tóm gọn bằng 4 câu Kệ trong Kinh Viên Giác:

NẾU NGƯỜI ĐOẠN THƯƠNG GHÉT

CÙNG VỚI THAM SÂN SI

CHẲNG CẦN TU GÌ KHÁC

CŨNG ĐỀU ĐẶNG THÀNH PHẬT (Tr. 83)

Nhưng muốn đoạn Thương, Ghét, Tham Sân Si cũng không phải là điều dễ dàng, một sớm mội chiều mà có thể làm được. Vì thế Đạo Phật đưa ra GIỚI như một vòng đai để bảo vệ người trong đó dù chưa tu hành xong thì cũng không phải rơi vào đường ác.

Có 3 điều quyết định mà Kinh Lăng Nghiêm dạy là người muốn tu Phật phải thực hành: Đó là GIỚI-ĐỊNH-HUỆ. Thì ĐỊNH tức là THIỀN ĐỊNH. Cứ kiên trì hành như thế cho đến lúc độ thoát tất cả Chúng Sinh thì sẽ được hoàn toàn Giải Thoát.

III. - CHÚNG SINH LÀ GÌ? ĐỘ NHƯ THẾ NÀO?

Chúng ta nên hiểu lại cho đúng về nghĩa của PHẬT. PHẬT chỉ có nghĩa là "người đã được Giải Thoát", và Thành Phật là "Thành tựu Con Đường Giải Thoát", không phải là thành một Ông Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp có khả năng "độ" cho mọi người. Đức Thích Ca cũng không độ được cho ta, chỉ độ cho ta bằng giáo pháp mà thôi. Nếu độ được người khác thì gọi là Độ Tha, thì ý nghĩa Tự Độ của Đạo Phật không còn nữa. Cho nên những người cầu xin được độ là người đã hiểu lầm lời Phật.

Chúng ta cũng không phải là Chúng Sinh của Đức Thích Ca, vì Ngài đã " Độ Tận" Chúng Sinh, đã Thành Phật lâu rồi mà chúng ta vẫn còn ngụp lặn trong bể Khổ ở đây, chứng tỏ chúng ta không phải là Chúng Sinh của Ngài.

Chúng Sinh được Lục Tổ Huệ Năng giải thích trong Pháp Bảo Đàn Kinh như sau: "Chư Thiện tri Thức. Chúng sinh trong tâm mình là lòng mê, lòng giả dối, lòng bất thiện, lòng ghen ghét, lòng ác độc. Các tâm này đều gọi là chúng sinh. Mỗi người phải dùng Tánh mình mà độ lấy mình mới gọi là thiệt độ" (tr. 81)

ĐỘ được 1 Chúng Sinh cho nó được GIẢI THOÁT, hết KHỔ gọi là '"ĐƯA MỘT CHÚNG SINH QUA BỜ GIẢI THOÁT, hay cũng gọi là CÚNG DƯỜNG MỘT VỊ PHẬT. Trong cả một kiếp sống, chúng ta phải diệt độ vô lượng vô số chúng sinh để được Giải Thoát nên gọi là CÚNG DƯƠNG VÔ SỐ ỨC ĐỨC PHẬT để sau cùng chính người cúng dường sẽ được THÀNH PHẬT.

IV.- VÀI PHƯƠNG PHÁP TU THIỀN.

Đạo Phật gọi con đường tu hành là phải "lâu ngày cần khổ". Người muốn tu trước phải Có GIỚI, phải Quán sát, Tư Duy để nắm vững phần LÝ, sau đó đưa Lý vào áp dụng gọi là "Lý Sự viên dung" thì mới thành công trong đạo. Nhưng càng về sau thì nhiều người tu lại muốn tu tắt, tới mau. Biết rằng Đức Thích Ca đã thành đạo nhờ 49 ngày đêm Thiền Định nên họ bỏ hết mấy Độ kia, chỉ chuyên chú hành THIỀN ĐỊNH và lập ra những pháp môn chuyên tu THIỀN, lấy Khai Công Án làm mấu chốt để tập trung vào đó mà thôi. Người chỉ chuyên tu Thiền không biết có chứng đắc hay không, nhưng những môn phái Thiền thì rầm rộ quảng cáo, người đời chẳng biết thực, hư, nên nhiều người rất ngưỡng mộ, và cũng mong đắc đạo nhờ Thiền, vì thế, các Thiền Đường ngày càng nở rộ.

Nói đến THIỀN là phải nói đến những phương pháp đào tạo. Pháp môn Thiền thì chắc chắn phải có nhiều tài liệu, Kinh sách. Nơi đây tôi chỉ xin đề cập đến 2 quyển: CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA của Thiền Sư Nguyệt Khê do Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch, được THÀNH HỘI PHẬT GIÁO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH xuất bản năm 1994 được ghi là "PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA THIỀN TÔNG", và quyển VÔ MÔN QUAN được VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM ấn hành năm 1996 được dịch giả ghi là: "đóng góp vào công cuộc chấn hưng Thiền Học Việt Nam" vì những sai lầm được viết trong đó, rất nguy hiểm cho những ai bắt chước theo. Đầu tiên xin nói về Thiền Đả Thất.

a)- Về THIỀN ĐẢ THẤT

Có một hiện tượng về Thiền được xem là nổi bật trong thập niên 50, gọi là THIỀN ĐẢ THẤT được Thiền Sư Nguyệt Khê ghi lại trong THIỀN THẤT KHAI THỊ LỤC. Xin trích một vài trang nói về phương pháp "Thiền Đả Thất" do Tông Cảo Thiền Sư hướng dẫn ở Đài Loan tại Chùa Cao Mân được Hòa Thượng Thích Duy Lực dịch.

Bài Khai Thị đầu tiên, ta thấy ghi Phật lịch năm 1942 tại Chùa Cao Mân, Sông Tam Xoa, Đất Dương Châu, Tỉnh Giang Tô. Sư cầm hương bảng và và thuyết giảng trong đó có những câu mang tính chất rất ư là kiêu mạn và bạo lực mà nếu ai không tận mắt đọc hẳn khó lòng tin rằng giữa thời buổi được cho là đã văn minh tiến bộ mà còn có lối dạy tu đánh chết người như thế. Trong đó có đoạn để giải thích về "Đả thất" như sau:

"Đả thất là làm việc gì sao làm bao nhiêu người bận rộn như vậy? Cái đó còn chẳng kể làm gì. Ngay cả thập phương chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Hộ Pháp, Long Thiên so với ta lại còn bận rộn hơn nữa. Bận rộn việc gì vậy? Các ông có người nào biết được không? Đả thất là làm việc gì? Có lẽ có người còn chẳng hiểu được. Trong lòng các ông nói rằng: Những cực khổ lúc bình thường đã là quá lắm rồi, nay lại còn phải đả thất. Thầy nói thì nghe hay đấy, vì chúng tôi đả thất, lại nói thập phương Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Lịch Đại Tổ Sư, Hộ pháp Long Thiên đều vì chúng tôi mà bận rộn. Bận rộn là bận rộn việc gì? Chẳng qua là đem đến thêm chút khổ nữa cho chúng tôi phải chịu đựng chứ có việc gì khác nữa đâu!… Đúng, thật đáng thương xót. Thương xót không thể nói được. Các ông tuy ngu mê như thế nhưng ta vẫn chiếu theo quy củ của nhà chùa đề làm việc. Các ông phải hiểu được là: Quy củ nhà chùa rất nghiêm khắc, khác với ngày thường. Ấy là ngay này các ông xin phép sanh tử ở các vị Tổ quá khứ và cũng xin phép sanh tử với ta. Ta hứa cho phép sanh tử, vậy sanh tử các ông nằm trong tay ta, ta muốn cho các ông sống thì sống, muốn cho chết thì chết. Đúng ngay chỗ này chết. Lúc bình thường thân các ông giao cho nhà chùa, còn tính mệnh phó cho Long Thiên. Trong thời kỳ đả thất thì không như vậy. Sắc thân, tính mệnh đều giao trọn trong tay ta. Quy củ nghiêm khắc là như thế nào? Ta đại khái đem ra nói lại cho các ông nghe. Từ nay về sau, trong thời kỳ đả thất, tăng chúng và các vị hành đơn đểu không chắp tay chào các vị Duy Na, không hỏi thăm Ban Thủ cũng không chắp tay hỏi thăm ta. Trong thời kỳ đả thất Phật cũng không lạy, hương cũng chẳng đốt thì các ông chắp tay hỏi thăm để làm gì. Ta vì các ông mà nói trước thế này. Việc lớn hơn hết là bệnh nặng. Việc lớn nhất đã không có rồi, nói gọn lại là bệnh. Một khi có bệnh là chẳng phải chắp tay xin phép Duy Na cho nghỉ sao? Vị Duy Na không dám cho nghỉ có phải chắp tay xin phép Ban Thủ không? Không được, Vị Ban Thủ lại dám cho các ông nghỉ bệnh ư? Chẳng những là phép nghỉ bệnh, nghỉ chạy hương, nghỉ kinh hành cho đến hết thảy các việc nghỉ phép. Ban Thủ, Duy Na đại khái không dám to gan thế đâu. Vì sao vậy? Các ông xin phép sanh tử không phải xin Ban Thủ, Duy Na, mà phải xin ta, các vị kia dám thay ta cho phép ư? Vậy khi nào có bệnh thì làm cách nào? Chẳng có cách nào hết. Sống cũng đả thất, chết cũng đả thất, đau cũng đả thất, chung quy là đả thất... Các ông bệnh cũng được, sống cũng được, chết cũng được, đợi sau khi giải thất thì mới đưa đi chôn, dù năm người hay ba người cũng quẳng xuống đáy quảng đơn. Đây là cách giải quyết kẻ có bệnh. Lại nữa, trong thời kỳ đả thất, đi hương, ngồi hương, quả đường, cho đến đại tiểu tiện mà quay đầu một cái, hoặc cười đùa, như thế, ta bảo cho các ông biết: Các ông phải mất mạng đó. Thế là sao? Một khi các ông đã đến Thiền Đường thì hương bảng của các vị Ban Thủ, Duy Na đều quay về các ông mà đập xuống. Một, hai chục hương bảng chẳng kể đầu, mặt, tai.. cứ đánh hết, đánh rồi mà không chết thì vẫn phải đả thất. Nếu như đánh các ông bị thương thì làm cách nào? Thì cũng phải liệng các ông xuống đáy quảng đơn. Sau khi giải thất rồi thì đem chôn một lượt.

…. Đoạn khác:

Thời kỳ đả thất thì không như thế. Vậy thì Chùa Cao Mân đánh chết người chẳng coi việc đó ra gì sao? Những năm qua trong thời kỳ đả thất cũng có mấy người bị đánh chết. đây là việc bình thường chẳng có gì là lạ… Ta nói gọn lại một câu: Có bệnh gần chết không được xin nghỉ bệnh, chết rồi liền đem quăng xuống đáy quảng đơn. Phạm quy củ đánh chết rồi cũng quăng xuống đáy quảng đơn… Các ông dù có ỉa ngay ra quần hay ỉa trên nệm ngồi cũng không quái lạ gì các ông cả, ỉa ra trên nệm thì có thể được chứ mở cửa thì không thể được.."(175-177).

Khai thị và hướng dẫn Thiền bằng bạo lực như thế, Tánh mạng của người chấp nhận Nhập Thiền coi nhẹ như không. Cứ hương bảng mà giáng xuống bất kể, chết thì bỏ. Nhưng đọc đến Thất thứ 8 ngày thứ Sáu lại thấy sư nói: "Ta thật tiếc cho các ông trong thời kỳ đả thất chẳng có người nào công phu được chút tiến bộ sâu xa nào, chẳng từng có

được người nào công phu khai được tiểu ngộ, đó là điều ta thật tiếc vô cùng ! " (tr.389)

Không biết luật pháp của Đài Loan nghĩ sao mà để cho thiền sư như thế lộng hành. Chùa như vậy lại được tồn tại! Điều đáng lo ngại và đáng buồn là "THIỀN TÔNG" của nước ta lại lấy "Thiền Đả Thất" như trên làm "Phương Pháp tu trì của Thiền Tông". Nếu thật sự họ cũng bắt chước nguyên bản như Thiền Sư Tông Cảo đã làm thì chắc cũng nên xét lại về cái hiểu Thiền của những người đánh giá và phổ biến phương pháp đó, bởi hoàn toàn không giống một chút nào so với Thiền được hướng dẫn trong chính Kinh!

Trong Đạo Phật, Giới nặng nhất là Giới SÁT, ngay cả đối với con sâu, cái kiến còn không được giết, để thể hiện Tâm Bình Đẳng, Tâm Từ Bi của người tu Phật. Chính Thiền Sư Tông Cảo cũng đã rất mâu thuẫn, vì cũng biết rằng Thân người rất quí. Ngay trong bài khai thị ngày đầu tiên ông ta đã phát biểu: "Hôm nay đến được nơi này quả không phải là dễ đâu, ấy là do sự bồi đắp từ kiếp trước. Cái thân người này không dễ gì có được, phải trải qua bao đại kiếp ở trong các loài khác đến nay mới có được cái thân người này. Ta lại để thân này trôi qua há chẳng phải là để phí phạm đi mất sự vun trồng của đời trước sao? (tr. 179). Vậy mà còn dám đánh chết người với lý do "Đả Thất"!

Người đời phạm tội tày trời, luật pháp còn phải lập tòa án, cho người bào chữa, xem đi, xét lại rồi mới xử tử hình, nếu thấy là đáng tội chết. Luật pháp và xã hội chỉ dùng án tử hình để loại trừ những kẻ nào đó thấy rằng nếu để họ tiếp tục sống sẽ gây nguy hại cho xã hội. Những người vào nhập thất chỉ có cái tâm muốn chứng đắc thôi, mà Thiền Sư Tông Cảo coi còn hơn tội phạm. Chỉ cần cười hay quay đầu một cái là phải mất mạng! Do đó, theo tôi, nên gọi ông này là "Thiền Tặc" mới đúng vì phá Giới, thiếu Hạnh và thật sự không hiểu biết gì về phương pháp Thiền Định của Đạo Phật.

b)- SỰ HIỂU LẦM VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỐN NGỘ

Tất cả những cách đánh, quát của những người thầy dạy tu Thiền xuất phát từ việc hiểu lầm, cho là Thần Hội nhờ bị đánh 3 gậy mà sau đó "hoát ngộ" nên có thể đứng ra chấn hưng đạo pháp của Lục Tổ!. Có lẽ những người nghĩ như thế không đọc hết quyển Pháp Bảo Đàn Kinh để thấy là trước khi đến với Lục Tổ thì Thần Hội đã là Sa Di bên Chùa Ngọc Tuyền, ít nhiều cũng đã được nghe giảng pháp, biết rằng Ngồi Thiền thì Thấy Tánh, nên mới hỏi Lục Tổ: Hòa Thượng Ngồi Thiền Thấy hay chẳng thấy? Sau khi bị đánh 3 gậy thì Thần Hội còn tiếp tục học với Lục Tổ 16 năm dài, cho đến khi Lục Tổ viên tịch mới đứng ra chấn hưng Phật Pháp. Đâu phải bị đánh 3 gậy đã lập tức Thấy Tánh ngay! Ngài Ca Diếp mỉm cười khi Đức Phật đưa cành Sen lên rồi được truyền Y Bát đâu phải gặp Phật tuần trước hay tháng trước, tháng sau đã cười để được truyền Y Bát? Cũng đâu phải Phật truyền Y Bát chỉ vì Ngài cười để Ngài Vô Môn bàn là: "Nếu cả đám đều cười thì Chánh Pháp Nhãn Tạng làm sao truyền được?" Những người tu Thiền quá nôn nóng chứng đắc đến độ không đọc kinh để hiểu thế nào là Phương Tiện của Đạo Phật và để thấy Phật dạy:

"Phật Tánh tuy sẵn có

Phải tu mới hiển hiện

Cũng như vàng sẵn có

Phải lọc quặng mới thành!"

Tức là dù Phật Tánh nơi mỗi người đều sẵn có, nhưng phải qua quá trình tu tập, trừ bỏ Tham, Sân Si... thì mới hiển lộ. Đâu phải cứ vác gậy đập thì sẽ Thấy nó? Cũng giống như vàng, dù nằm sẵn trong quặng, nhưng muốn lấy được vàng thì phải lọc quặng mới lấy được. Phải đâu đập cục quặng cho tan nát mà lấy được vàng ngay? Chuyện sơ đẳng như vậy mà nhà Thiền cũng không nhận ra!

Trong khi Tổ Đạt Ma dạy trong SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT, Phẩm Huyết Mạch Luận trang 130 như sau: "Trời tây 28 Tổ Sư Thiền đều lần lượt Truyền Tâm Ấn cho nhau. Ta nay đến xứ này cũng chỉ truyền một Tâm ấy, không luận về Giới thí, Tinh Tiến, Khổ Hạnh, cả đến việc vào nước lửa, lên vòng gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm (Thiền). Thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo".

Rõ ràng Ngài nói rằng 28 Tổ Sư đều lần lượt TRUYỀN TÂM ẤN cho nhau, và Ngài sang Trung Quốc cũng chỉ để TRUYỀN cái TÂM đó, không cần đến những pháp khác- KỂ CẢ THIỀN ĐỊNH - vì tất cả đó chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo. Nhưng phía Thiền Tông chỉ nhìn 9 năm diện bích của Ngài, rồi phong cho Ngài là TỔ SƯ THIỀN, cho rằng thời gian đó là Ngài Ngồi Thiền. Quên rằng Ngài đã được truyền Y Bát và sang Trung Quốc để phổ biến Phật Pháp, không phải nhờ diện bích mới đắc đạo.

c) MỘT SỐ CÔNG ÁN TRONG QUYỂN VÔ MÔN QUAN

Thay vì trong Đạo Phật, THIỀN được xem như một phương pháp để tĩnh tâm để tập trung tư tưởng mà quán sát các pháp, thì qua các nhà Thiền, Thiền đã trở thành thứ gì đó bí hiểm, thâm sâu, không giải thích được, nên có nhiều người chấp nhận "Thiền là Thiền, không cần phải giải thích hay nói gì thêm nữa".

Các Thiền Sư thời xưa thường đưa ra Công Án để Thiền Sinh Tham. Các Thiền Sinh không còn nghĩ đến những vấn đề khác của Đạo Phật nữa, mà chết sống chỉ biết cố gắng Tham Công Án để "Ngộ" thôi! Sự ham mê khám phá Công Án làm cho người hành trì mê mẩn đến độ như người trong mơ. Như trường hợp Ngài Vô Môn Huệ Khai, sáu năm công phu chỉ để khai thông một chữ VÔ, thề quyết không ngủ. Thế rồi lúc trình kiến giải cũng chỉ đọc lên 4 câu Kệ:

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Vô vô vô vô vô

Mỗi câu là 5 chữ Vô, chẳng có nghĩa lý gì cả, thế mà cũng được ấn chứng! Có lẽ nhà Thiền cũng quên là liên quan đến chữ VÔ còn có HỮU, RỒI PHI HỮU PHI VÔ... gọi là Tứ Cú rồi còn BÁCH PHI và rất nhiều chữ khác cần khám phá nữa. Có thấy được chữ VÔ cũng chưa có nghĩa là hiểu hết, huống chi câu Kệ bằng 20 chữ Vô càng chứng tỏ là người làm chưa thấy gì về nó! Được ân chứng dễ dàng như thế, nên sau đó ông đã sưu tập được 48 Công Án viết ra quyển Vô Môn Quan. Ngay lời đề tựa cũng đã thấy ngạo mạn, coi Phật Tổ chẳng ra gì: Gọi Đức Thích Ca là "Lão Cồ Đàm mặt vàng", gọi Tổ Đạt ma là "Lão già Hồ sún răng" "truyền thụ cho một người lại không đủ Lục Căn" mà người đó là Nhị Tổ, vì cầu pháp mà sẵn sàng chặt tay!. Trong đó có Công Án "Nam Tuyền chém mèo" cho ta thấy người Thiền sư sát sinh mà chẳng mảy may thấy đó là phạm Giới, hay người thầy ruợt đổi chặt ngón tay học trò vì dám bắt chước mình trong Công Án "Ngón tay của Câu Chi"! Chưa hết, có những Công Án xem Phật là "Que cứt khô", là "Ba cân mè", dạy người tu nếu giữa đường gặp người đắc đạo thì cứ tống cho một đấm vào mặt! Thậm chí có Công Án: "Thích Ca, Di Lặc còn là tôi đòi của kẻ ấy"… Đó là những lời xúc phạm Phật của những kẻ ngông cuồng mà lẽ ra nếu là một con người bình thường, với người khác cũng chưa bao giờ nói nhưng lời thô lỗ đến như thế. Rõ ràng Thân, Khẩu Ý của các Thiền Sư đó 3 Nghiêp chưa thanh tịnh.

Việc khám phá được Công Án không thể xem là sự chứng đắc của Đạo Phật. Bởi chứng đắc của Đạo Phật là phải Thấy Tánh, trong khi mỗi Công Án chỉ nêu ra một trong vô số vấn đề mà người tu Phật cần khám phá. Hơn nữa, mục đích của Đạo Phật là để giải quyết vấn đề Sinh Tử, trong đó bao gồm rất nhiều pháp như Vô Thường, Vô ngã, Có, Không, Trung Đạo, Bát Nhã, Tử Diệu Đế, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Nhiếp, Luân Hồi, Nhân Quả vv… Người tu nào cũng cần phải hiểu cho rõ ràng để đưa vào hành dụng. Nhiều Công Án của nhà Thiền đôi khi rất vu vơ, chẳng đưa người Tham mở mang trí huệ gì liên quan đến con đường hiểu biết Đạo Phật, thí dụ như: "Tiếng vỗ của bàn tay". "Tên Hồ không râu". "Hề Trọng tạo xe" "Triệu Châu khám phá bà lão"… Thì giờ bỏ ra để suy nghiệm những Công Án đó chỉ phí phạm, và theo Đạo Phật thì đó gọi là TÀ QUÁN.

Vì sao gọi là Tà Quán?

Vì người tu Phật được xem là người đang bị chìm đắm trong bể Khổ, đang tìm mọi cách để Thoát ra. Muốn Thoát được nó thì phải có những sự tìm tòi liên quan đến điều gì để ràng buộc? phương pháp nào để tháo gỡ? Theo Đạo Phật, sự ràng buộc đó ở nơi Tâm của mỗi người, nên phải quay vào Tâm mình để tìm, gọi là "Nội quang phản chiếu". Tất cả thì giờ và những trăn trở phải tập trung vào đó. Đâu phải để làm thơ, làm Kệ, hay để xét coi tại sao tên Hồ không râu? Triệu Châu rửa bát. Vân Môn sẩy lời... Toàn là quay ra. Toàn xét việc phàm tục, chẳng dính líu gì đến việc tu hành!

Trong khi người tu Phật sở dĩ khác với người phàm phu là bởi GIỚI, HẠNH, bởi CHÁNH NGỮ, bởi Tứ Đại Giai Không, bởi Lục Căn Thanh Tịnh… thì ngôn ngữ của Thiền Sư trong Vô Môn Quan thật hết sức là cao ngạo. Thế mà các Chùa vẫn xem quyển đó là một trong những tài liệu để "Chấn Hưng Thiền Học"!

Tưởng tượng các Thiền Sinh sau khi học thì bắt chước những ngôn ngữ, thái độ ngông nghênh như thế thì người đời sẽ nhìn các bậc tu hành ra sao. Chẳng lẽ càng tu Thiền nhiều thì lại càng trở thành kiêu mạn, tự phụ? Như thế là hoàn toàn trái ngược với Hạnh của người tu Phật!. Đọc suốt quyển sách không hề thấy các vị khuyên nhau bắt chước Hạnh của Đức Thích Ca trong Kinh Kim Cang: Sau khi đã thành Phật, đã giảng dạy, có đông đảo đệ tử, Ngài vẫn theo thứ tự mà đi khất thực, không đòi ưu tiên, không bắt đệ tử phải khiêng, không hề đòi ngồi kiệu… vẫn tự cất y bát, tự trải tọa cụ mà ngồi, không đòi được phục vụ!

Các Tông phái Thiền ngày xưa do được ngưỡng mộ, kính trọng nên các Thiền Sư cũng tự cho mình là ghê gớm, không thể hiện những tính chất Chân, Thiện, Mỹ của người tu Phật. Cách truyền đạt cũng mơ hồ. Không thật sự có Chánh Pháp. Chính vì vậy mà không tồn tại được lâu dài. Từ buổi đầu rầm rộ, chia ra đến 5 TÔNG, là PHÁP NHÃN TÔNG, VÂN MÔN TÔNG, TÔNG QUY NGƯỠNG, TÀO ĐỘNG, LÂM TẾ, nhưng khi Thiền Sư Nguyệt Khê liệt kê lại thì: PHÁP NHÃN TÔNG truyền sang Cao Ly. VÂN MÔN TÔNG thất truyền đã lâu. chỉ còn 3 Tông: Quy Ngưỡng, Tảo Động Lâm Tế, nhưng con cháu của các Tông chỉ lấy cội nguồn gia phổ để truyền thừa với nhau, ghi tên trên pháp quyển là Thiền Sư đời thứ mấy mà thôi. Nếu hỏi về gia phong Tông chỉ thì ngơ ngác chẳng thể trả lời! (Cội Nguồn Truyền Thừa của Thiền Sư Nguyệt Khê tr. 53).

Lẽ ra những vị tự xưng là Thiền Sư phải là người như Đức Thích Ca, "đắc đạo" nhờ Thiền, và hướng dẫn cho các Thiền Sinh cũng đắc đạo như mình. Và một điều quan trọng mà lẽ ra người tu Thiền nào cũng cần biết là: Đức Phật Thích Ca được xem là người đầu tiên đắc đạo nhờ Ngồi Thiền thì chỉ mất có 49 ngày đêm. Tại sao người thời nay ngồi mãi, làm đủ cách, Thiền nằm, Thiền chạy, kể cả chấp nhận bị ăn hương bảng chết bỏ như ở Chùa Cao Mân, thế mà cũng không đắc đạo? Vậy thì sự khác biệt đó ở chỗ nào trong khi cùng một kiểu NGỒI xếp tay chân, mắt khép hờ trong tư thế Kiết Già hay Bán Già như nhau? Chúng ta thử nhìn một vòng qua một số cách hành Thiền bị quở trách trong Kinh xem sao.

V.- MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THIỀN SAI ĐƯỢC CHỈ RA TRONG CHÍNH KINH:

1)- Trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA: Ngồi xếp bằng Thân và Tâm không động.

Kinh viết về Phật Đại Thông Trí Thắng "Đức Phật đó khi trước lúc Ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp đặng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng chánh giác mà Phật Pháp chẳng hiện ra trước. Như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp ngồi xếp bằng, thân và tâm không động mà Phật pháp còn chẳng hiện ra trước" (tr. 206)

2.- Kinh DUY MA CẬT : Ngồi sững ở đó

Ngài Xá Lợi Phất kể lại: "Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng, ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây. Khi ấy Ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: "Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bất tất ngồi sững ở đó mới là Ngồi Thiền! Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi mới là ngồi yên lặng, không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu mới là ngồi yên lặng. Tâm không trụ ở trong, cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết Bàn mới là ngồi yên lặng. Nếu Ngồi được như thế mới là chỗ Phật ấn khả vậy: (tr. 36)

3.- PHÁP BẢO ĐÀN KINH: Ngồi xem cái Tâm, quán tưởng tâm cảnh vắng lặng

Lục Tổ dạy: "Chư Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi xem cái tâm, quán tưởng tâm cảnh vắng lặng, ngồi yên chẳng dậy, bảo y theo đó mà lập công phu. Người mê chẳng hiểu, cố chấp làm theo rồi thành điên dại. Số người như thế chẳng phải là ít. truyền dạy nhau như vậy thiệt là lầm to. (tr. 72)

Trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi không nằm

Khi Chí Thành vâng lệnh Sư Thần Tú đến trộm pháp ở Chùa Bửu Lâm của Lục Tổ bị Ngài phát hiện và hỏi về phương pháp dạy Ngồi Thiền của Sư Thần Tú thì Chí Thành nói: Thường chỉ dạy đại chúng "trụ tâm quán tịnh ngồi mãi không nằm". Lục Tổ bảo: "Trụ tâm quán tịnh ấy là bịnh chẳng phải Thiền. Thường ngồi là câu thúc cái thân, đối với đạo lý có ích chi đâu" và Ngài đọc Kệ:

Khi sống ngồi chẳng nằm

Thác rồi nằm chẳng ngồi

Thiệt đồ xương thịt thúi

Sao luống lập công phu" (tr. 111)

Tu Phật được gọi là TU TÂM,vì thế,người tu học cần tìm cho được CÁI TÂM để sửa, Thiền chỉ là phương tiện buổi đầu mà thôi. Vì vậy, nếu đã không hiểu Thiền, thì Ngồi chỉ là "câu thúc cái thân", chẳng sinh được ích lợi gì dù có Ngồi lâu bao nhiêu.

VI.- LỤC TỔ GIẢI THÍCH VỀ THIỀN

Lục Tổ giải thích trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH: "Chư Thiện tri thức, sao gọi là THIỀN ĐỊNH? Ngoài lìa tướng là THIỀN, trong không tán loạn là ĐỊNH. Nếu ngoài trước tướng thì trong tâm tán loạn. Bằng ngoài lìa tướng thì trong tâm không tán loạn. Bổn tánh vốn tự Định, chỉ vì thấy cảnh rồi nghĩ cảnh nên mới tán loạn. Nếu thấy các cảnh giới mà tâm chẳng tán lọan thế mới là thiệt ĐỊNH".

VII - GIAI THOẠI VỀ THIỀN TRONG MÃ TỔ BÁCH TRƯỢNG NGỮ LỤC

Lúc Mã Tổ Bách Trượng còn là Thiền Sinh, đang Ngồi Thiền, thì Hòa Thượng Hoài Nhượng lượm một viên gạch mang mài trước am của Ngài.

Mà Tổ lấy làm lạ hỏi:

- Mài gạch để làm gì ?

- Đáp: Để làm kính

- Hỏi: Gạch mài sao thành kính được?

- Đáp: Gạch mài không thành kính được, tọa Thiền há thành Phật được sao ?

- Hỏi: Vậy sao mới phải ?

- Đáp: Như bò kéo xe, xe không đi thì đánh xe hay đánh bò là phải? Ông học tọa Thiền hay tọa Phật? Nếu học tọa Thiền thì Thiền không dính chi tới chuyện nằm ngồi. nếu học tọa Phật thì Phật vốn không có tướng nhất định. Cái pháp vô trụ không nên buông bắt. Nếu chấp cái tướng Ngồi thì không đạt được lẽ đó.

VIII.- KINH VIÊN GIÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ THIỀN ĐỊNH

BIỆN ÂM ÔNG NÊN BIẾT

CÁC TRÍ HUỆ THANH TỊNH

CỦA TẤT CẢ BỒ TÁT

ĐỂU DO THIỀN ĐỊNH SANH

THIỀN ĐỊNH LÀ CHỈ QUÁN

VÀ CHỈ QUÁN SONG TU

THIỀN ĐỊNH được Kinh VIÊN GIÁC giải thích: là CHỈ QUÁN và CHỈ QUÁN SONG TU.

CHỈ tức là dừng lắng những tạp niệm. QUÁN là tư duy kỹ càng về một Pháp nào đó của Đạo Phật để nhận rõ giá trị của nó. Muốn CHỈ, QUÁN thì phải nhờ phương pháp NGỒI THIỀN. Đó là bắt cái Thân ngồi một chỗ, trói tay chân lại nên nó không còn hoạt động, mắt không nhìn ngó tứ phương, tám hướng nữa. Khi Ngồi yên một chỗ, tay chân không hoạt động mắt không nhìn thấy cảnh vật ta mới thấy cái TÂM nó nhảy nhót tứ tung. Do đó, giai đoạn đầu người Ngồi Thiền được hướng dẫn kềm cái Tâm bằng cách SỔ TỨC tức là đếm hơi thở, để bắt Cái Ý tập trung ở đó. Khi nó đã bớt chạy nhảy rồi thì sau đó từng bước tìm cách điều phục nó, bắt nó phải tìm hiểu, Soi, Quán, xét những vấn đề trong Đạo mình cần hiểu theo bốn giai đoạn KHAI, THỊ, NGỘ, NHẬP trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

THIỀN ĐỊNH được xem là phương tiện tối cần cho người tu Phật, bởi nếu không có Trí Huệ thì làm sao biết muốn tu hành cho thành công cần phải làm gì? Làm như thế nào? Nghĩa của TU PHẬT tức là SỬA CHỮA BẢN THÂN MÌNH ĐỂ THÀNH PHẬT. THÀNH PHẬT cũng có nghĩa là được GIẢI THOÁT. Như vậy, nếu ta muốn "Thành Phật" thì phải hiểu Phật là gì? Làm thế nào để Thành Phật? Thành Phật để làm gì? Ngồi Thiền bao lâu thì thành Phật? Đương nhiên, Phật không thể hiểu đó là Đức Thích Ca. Bởi làm sao ta tu làm sao cho thành Ngài được? Do đó, ta nên hiểu Phật là một tình trạng, một địa vị nào đó mà mọi người có thể hành trì theo những phương pháp được Đạo Phật hướng dẫn thì cũng sẽ đạt tới một kết quả giống như Đức Thích Ca đã đạt. Vi thế, nếu ta muốn "Tu Phật" mà ngay nghĩa Phật và cách thức nào để "Thành Phật" chúng ta chưa nắm được thì tu cách nào? Kết quả về đâu?

Chính vì vậy mà rất cần đến TRÍ HUỆ. Muốn có TRÍ HUỆ thì không có cách nào khác hơn là phải nhờ phương pháp THIỀN ĐỊNH.

IX.- ĐỨC THÍCH CA ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ ĐẮC ĐẠO QUA PHƯƠNG PHÁP THIỀN ĐỊNH?

Chúng ta đều biết: Đức Thích Ca bỏ ngai vàng đi tu hành vì trông thấy cảnh SINH, LÃO, BỊNH, TỬ đang hoành hành trên cái Thân con người. Suốt Sáu năm dài, Ngài theo học với Lục Sư ngoại đạo để hy vọng tìm lời giải đáp: "Làm sao để thoát được những nỗi Khổ vì SINH LÃO BỊNH TỬ đang đè nặng trên cái thân người, nhưng họ chỉ dạy cho Ngài những thần thông, phép mầu, làm cho Ngài thất vọng. Cuối cùng, Ngài bỏ họ và tự trải tòa cỏ, ngồi dưới cội cây Bồ Đề với lời phát nguyện: "Chỉ đứng dậy khi nào tìm ra nguyên nhân của Sinh Tử Luân Hồi". Rạng sáng đêm thứ 49 thì Ngài tìm ra, nên đứng dậy hân hoan tuyên bố: "Ta lang thang trong vòng luân hồi qua bao nhiêu kiếp, tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Hỡi kẻ làm nhà, từ đây ta đã gặp được người rồi. Ngươi không được làm nhà nữa. Bao nhiêu cột kèo của người đã gảy vụn cả rồi. Rui mè của ngươi đã tan nát cả rồi. Trí ta đã đạt đến vô thượng Niết Bàn. Ta đã hoàn toàn giải thoát".

Hành trình Sáu năm trăn trở của Ngài được kết thúc sau 49 ngày đêm NGỒI THIỀN cho ta thấy: Thời gian NGỒI THIỀN là thời gian Ngài tập trung để tìm thủ phạm đã gây ra SINH TỬ LUÂN HỒI và cuối cùng Ngài đã gặp. Lời tuyên bố lúc xả Thiền cho ta thấy là Ngài không "ngồi sững ở đó", hoặc thả hồn đi các cõi, hay chỉ đếm hơi thở hoặc xem cái bụng mình phồng, xẹp như thế nào? Bởi nếu chỉ làm các động tác đó thì chắc chắn không thể có cái kết quả GẶP CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT hay là ĐẮC ĐẠO được, vì Nhân Quả đương nhiên: Đếm nhiều thì được nhiều số. Xem cái bụng phồng xẹp thì xả thiền vẫn là phồng, xẹp... làm sao GẶP được CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT? Có TÌM CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT thì mới GẶP được nó. GẶP CON ĐƯỜNG là dịch từ tiếng Tàu: ĐẮC ĐẠO.

X.- CÓ BAO NHIÊU LOẠI THIỀN?

Đạo Phật phân ra nhiều loại THIỀN, nhưng theo tôi, chúng ta chỉ cần phân biệt một số như sau:

1)- Thiền ngoại đạo là sử dụng phương tiện Thiền để xuất hồn để luyện khí công, mở luân xa vv... Gọi là ngoại đạo vì không đưa lại kết quả Giải Thoát như Đạo Phật dùng phương tiện Thiền để hướng tới.

2)- Thiền Chánh Đạo hay là CHÂN THIỀN. tức là Người Ngồi Thiền sử dụng phương tiện Thiền để đạt kết quả: tìm được Con Đường Giải Thoát như Đức Thích Ca đã làm.

3)- THIỀN CÓ TƯỚNG tức là phải NGỒI đúng theo hình thức Bán Già hay Kiết Già.

4)- THIỀN VÔ TƯỚNG là như Ngài Huệ Năng, dù thân lo việc giả gạo, chẻ củi, nhưng cũng tập trung tâm ý để tìm cái BỔN TÁNH và Ngài cũng đã thấy được nó qua bài Kệ:

"Bồ Đề Bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhá trần ai"

5)- NHƯ LAI THIỀN tức là dù Thân có đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng, họat động đủ thứ nhưng vẫn là THIỀN vì vẫn an nhiên, tự tại.

XI.- NHỮNG HIỆN TƯỢNG NGƯỜI THIỀN ĐỊNH CÓ THỄ ĐẠT ĐƯỢC

Theo Đạo Phật, người NGỒI THIỀN với cái Tâm an định có thể có được những hiện tượng:

l)- Mở được thần thông, Tức là có thể biến hóa, lớn, nhỏ, chui xuống nước, xuống đất vv…

2)- Thiên nhĩ thông. Là nghe được tiếng của các cõi.

3)- Tha Tâm thông. Là biết được sự suy nghĩ của người khác

4)- Túc mạng minh. Là biết kiếp trức, kiếp sau của mình

5)- Thiên nhãn minh. Là thấy được cõi Thiên

6)- Lậu tận minh.

Chính cái LẬU TẬN MINH là cái sáng suốt, để Biết rõ về KHỔ và con đường DIỆT KHỔ. Đó mới là CÁI BIẾT mà Đạo Phật muốn người tu đạt tới qua phương pháp THIỀN ĐỊNH.

XII.- ĐỂ NGỒI THIỀN THÀNH CÔNG THEO ĐẠO PHẬT THÌ NGƯỜI NGỒI CẦN LÀM NHỮNG GÌ ?

Mọi người đều biết mục đích của Đạo Phật là để "Độ Khổ" hay còn gọi là "Giải Thoát". Nhưng đa phần chúng ta chưa hiểu thế nào là KHỔ, vì sao mà có Khổ, thì đâu có muốn Thoát? Đức Thích Ca trước khi Ngồi Thiền đã biết trước mục tiêu của Ngài cần tìm, là thủ phạm đã gây ra SINH TỬ LUÂN HỒI nên Ngài đã dùng THIỀN ĐỊNH làm phương tiện để tìm Phần chúng ta chỉ nghe nói Đạo Phật, nghe ca tụng Phương tiện Thiền của Đạo Phật là cao, là siêu, nên mến mộ rồi cũng muốn Ngồi Thiền thử cho biết. Vì thế nên không thành công được.

Muốn tìm gì thì cũng phải biết cách thức, phải có đối tượng. Phải có đề tài. Phải biết mình tìm cái gì? Đâu phải cứ NGỒI THIỀN là "đột nhiên hoát ngộ". Đâu phải cứ tập trung cái Ý. rồi suy nghĩ lung tung, thấy được cái gì đó cũng là "đắc đạo"? Bởi các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, họ cũng tập trung, nhưng cái họ tìm không giống mục đích của Đạo nên kết quả họ đạt được đâu thể nói là "đắc đạo"?

Suy nghĩ, Quán Sát, tư duy trong lúc Ngồi Thiền gọi là THIỀN MINH SÁT. Người muốn hành THIỀN MINH SÁT lại cần có đề tài liên quan đến Đạo Phật gọi là CHÁNH TƯ DUY để phân biệt với những người cũng tập trung, nhưng suy nghĩ những việc không liên quan đến Đạo Phật, gọi là TÀ TƯ DUY.

Đức Thích Ca đã có những bức xúc về SINH TỬ LUÂN HỒI, cho nên bằng đủ mọi cách Ngài phải tìm cho ra. Người hành Thiền như chúng ta, có người còn không biết mình muốn gì? Cần tìm gì? Chỉ NGỒI khơi khơi thì gặp cái gì? Làm sao gặp? Do chỉ bắt chước được cái TƯỚNG THIỀN mà không nắm được nội dung, không biết NGỒI rồi làm gì nữa, thì chắc chắn là sẽ không đi đến đâu. Kể cả cái thanh tịnh - nếu không khống chế được cái Tâm - cũng chưa chắc sẽ có được. Ngồi Thiền như thế thì suốt cả đời cũng chẳng "Được Đạo", bởi có TÌM ĐẠO đâu mà Được Đạo?

Không thể có một người phạm đủ thứ GIỚI rồi chỉ cần NGỒI THIỀN là có TRÍ HUỆ. Người muốn hành THIỀN trước hết phải GIỮ GIỚI, nhờ GIỮ GIỚI mới có sức ĐỊNH. Nhờ sức Định như người tập trung được đèn rồi dùng đó để soi mọi vật. Soi kỹ chứng nào thì thấy rõ chừng đó. THiền Định là "Độ" thứ 5 trong Lục Độ, vì thế, không thể bỏ qua mấy độ khác, chỉ chọn riêng Thiền, mà phải làm đầy đủ các độ kia để hỗ trợ cho Độ Thiền thì người Ngồi Thiền tiến bộ được.

Có Sức Định, nhưng nếu không Quán sát, tư duy thì cũng không hiểu biết được gì. Hoặc như người Ngồi Thiền rồi nghĩ lung tung, không biết hôm nay giá vàng, giá đô bao nhiêu? thị trường chứng khoán lên xuống thế nào? thì có ngồi cả đời cũng chẳng được lợi lạc gì. Hoặc Ngồi đó rồi ý thức bẳng đi mất thì đâu có khác gì người ngủ ngồi. Xả Thiền ra có biết được chi.

Muốn biết nên làm gì trong khi NGỒI THIỀN thì trước hết chúng ta phải biết rõ mục đích của mình muốn tìm gì trong pháp này. Muốn mở luân xa, muốn xuất hồn, muốn luyện khí công thì mỗi môn có phương pháp khác nhau. Tốt nhất là nên tìm người thầy có kinh nghiệm đối với phương pháp mình muốn học để nhờ hướng dẫn, đừng tự Ngồi rất nguy hiểm, vì dễ bị "tẩu hỏa nhập ma" trở thành điên loạn. Nếu muốn NGỒI THIỀN theo Đạo Phật thì buổi đầu cũng phải có người hướng dẫn, để cho biết ta cần tư duy cái gì trong lúc cái Thân Ngồi yên, không họat động, không suy nghĩ đến chuyện được thua của đời kia. Không phải cứ Ngồi là Thiền, và Ngồi lâu thì thành Thiền Sư!

XIII.- SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI TU PHẬT VÀ NGƯỜI TU THIỀN

Theo như hướng dẫn của 2 quyển sách dẫn chứng ở phần trước, ta thấy người tu THIỀN chỉ chú trọng THAM Công Án. Khai được 1 Công Án thì xem đó là sự chứng đắc. Không thấy nói về GIỚI, không thấy đề cập đến Hạnh của người tu. Không thấy nói đến TÂM, đến TÁNH là hai môn chính mà người tu Phật phải Thấy mới bước sang giai đoạn điều phục, gọi là "Kiến Tánh khởi tu".

Mục đích của Đạo Phật là để THOÁT KHỔ, không phải là để Chứng Đắc. Người phát tâm chân chính vào tu Phật vì muốn Thoát Khổ, không phải để tìm quả vị, chứng đắc. Phương pháp của Đạo Phật là Tứ Nhiếp (Bố thí, Lợi Hành, Ái Ngữ, Đồng Sự) để hướng dẫn. Cái chứng đắc của Đạo Phật là "Không còn Mình", tức là thấy cái Thân này là giả tạm, nên không còn vì nó mà Tham, Sân, Si, mà tiếp tục tạo Nghiệp.

Một bên Phát Tâm chân chánh là muốn Thoát Khổ, rồi dùng GIỚI ĐỊNH HUỆ như phương tiện để thấy cái VỌNG TÂM rồi cố gắng sửa nó. Tập xả bỏ Tham, Sân, Si. Càng tu càng mài mòn Ngã Chấp. Một bên phát tâm mong cầu chứng đắc - đó là đã dùng Vọng tâm mà phát.- rồi cố gắng đi tìm nghĩa của Công Án để chứng đắc. Càng thấy mình chứng đắc thì Ngã chấp càng to. Thậm chí còn thấy mình hơn các vị Phật, Tổ! Như thế, hai bên khác nhau rất xa dù xuất phát từ một Gốc là Đạo Phật.

XIV.- KẾT LUẬN:

THIỀN là phương tiện của Đạo Phật dùng để sinh TRÍ HUỆ. Có Trí Huệ mới chiếu phá được VÔ MINH. Mục đích THIỀN của Đạo Phật nhằm tập trung Thân và Tâm. Khoanh chân lại, ngoài hình tướng cũng mang một ý nghĩa là DỪNG, không chạy theo các pháp. Khoanh tay cũng có nghĩa là không chụp bắt, không ôm giữ các pháp. Thân ngưng chạy theo trần cảnh. Mắt cũng không thu trần cảnh vào để cái Tâm được an tịnh mà suy nghĩ những vấn đề cần hiểu trong Đạo. Với những ai buổi đầu vào Đạo Phật một cách mơ hồ, chưa xác định được mục tiêu thì cần nương hướng dẫn của Thầy hay của Kinh để biết bắt đầu như thế nào?. Còn muốn Ngồi Thiền để xuất hồn gặp Tiên, gặp Phật, thì những cảnh đó trong Kinh đã cảnh báo là: Ma cảnh. Người tin theo những gì được thấy, được nghe giảng dạy trong lúc thiền đa phần lần hồi trở nên bất thường và trở thành điên loạn, chúng ta nên cẩn thận.

Người đã nắm được mục đích, hiểu rằng Thiền là phương tiện, bước đầu để Quán soi các pháp. Hiểu được như vậy thì không cần phải Thiền bằng Tướng, mà có thể Thiền Vô Tướng, như trường hợp của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài vẫn giả gạo, chẻ củi mà vẫn Quán Soi, vẫn Thiền. Chủ yếu là tập trung được cái Ý rồi dùng nó mà tư duy, quán sát. Có rất nhiều Pháp cần phải Soi, Quán, và người đã đi trước, có kinh nghiệm sẽ chỉ cho ta biết nên quán pháp nào trước, pháp nào sau. Đừng tham vọng biết được nhiều thứ qua Thiền, bởi Thiền là tĩnh lặng, là lóng cái Tâm. Khi cái Tâm đã thanh tịnh rồi thì có thể có được những cái Thông như Kinh đã nói. Tuy nhiên, người tu Phật đã biết được mục tiêu mình cần đạt thì không chú ý đến những thứ thần thông đó làm gì. Cũng giống người đi đào vàng, đã biết mục đích của mình, biết giá trị của vàng rồi, thì nhắm thẳng nơi cần đào mà tiến, không dừng lại giữa đường để hái hoa, bắt bướm vì chỉ mất thì giờ! Lo tu hành để Thoát Khổ, Thoát Phiền Não, Sinh Tử, thì giờ đâu còn ham đọc được tâm địa người khác hay biết chuyện gì sắp xảy ra? Muôn biết kiếp sau mình sẽ như thế nào thì cứ nhìn kiếp hiện tại mình sống ra sao? Không Sát Sinh thì sẽ được sống lâu. Không làm ác thì sẽ không gặp ác. Không dối lừa người thì sẽ không bị lừa dối. Giúp người thi người sẽ giúp lại. Cuộc sống cứ huân tập theo các đường nào thì chắc chắn khi bỏ cái thân sẽ theo thói quen đó mà đầu thai, cứ thế mà suy ra, chẳng cần phải có túc mạng minh gì cả. Hơn nữa, nếu cái Tâm cứ móng khởi, thì như nước càng khuấy càng đục thì càng không thấy gì.

Dù ai cũng biết rằng Đức Thích Ca đắc đạo nhờ THIỀN ĐỊNH, nhưng đừng quên rằng Ngài đã từng làm bao nhiêu Hạnh khác, cũng như đã như biết rõ mục tiêu của mình trước khi NGỐI THIỀN. Phần những người chuyên tu THIỀN về sau, do muốn tu tắt, tới mau mà không quan sát kỹ. Cũng giống như người thấy người khác dùng ghe máy để qua sông nên họ quan sát rất kỹ, thấy là bộ phận chính để vận hành chiếc ghe là cái Máy, nên họ bỏ hết thân thuyền, tay lái, bánh lái, cho là dư thừa, chỉ ôm chiếc máy, là chỉ "NGỒI THIỀN" mà thôi, còn Bố Thí, Trì Giới vv... thì họ không thèm quan tâm tới. Liệu như thế thì cái Máy dù mạnh đến mấy có giúp họ qua sông được hay không thì chắc ai cũng có thể tự kết luận được Có vị ngày trước đã dùng các bức tranh gọi là "Thập Mục Ngưu Đồ" để mô tả những giai đoạn của công việc tu hành. Thoạt đầu, người chủ phải tìm con trâu, lần theo từng dấu vết của nó. Cho đến lúc gặp được nó, khống chế được nó. Sau đó thì thỏng tay vào chợ, không phải kềm chế con trâu nữa, vì nó đã được thuần hóa. Cuối cùng là cả trâu và người chăn đều không còn. Con Trâu tượng trưng cho cái VỌNG TÂM mà mỗi người tu hành cần tìm, cần thấy và điều phục nó. Phải đâu chỉ cần nghe nói đến Cái Tâm hay vô chùa, cạo tóc, đắp Y thì làm gì thì cũng đắc đạo!

Tóm lại, muốn tìm vật gì thì ít ra trước đó cũng phải hình dung nó ra sao? Phải tìm ở đấu? Tìm cách nào? Bởi vì không ai có thể tìm được vật mà anh ta chưa từng biết bao giờ? Hơn nữa, chúng ta có thể dựa vào Nhân Quả để biết rằng Thiền mà nhiều người đang dạy có đưa đến kết quả của Đạo Phật hay không: Mục đích THIỀN ĐỊNH của Đạo Phật là để sinh TRÍ HUỆ để thấy công việc cần phải làm trong con đường tu hành, cũng như biết kết quả về đâu. Vì vậy:

- Nếu chỉ ngồi bất động và diệt hết mọi tư tưởng thì cỏ cây, gỗ đá cũng đã thành Phật!

- Nếu ngồi xem bụng mình phồng xẹp như thế nào thì xả ra nó vẫn phồng xẹp, làm sao có thêm hiểu biết gì có ích lợi cho đường tu tiến?

- Nếu chỉ đếm hơi thở thì cột được cái tâm trong thời gian Ngồi, nhưng xả Thiền ra nó vẫn trở lại đường cũ. Mê vẫn hoàn Mê!

- Đức Thích Ca đã bức xúc về cảnh sinh lão Bịnh tử đè nặng lên kiếp người và đã dùng thời gian THIỀN ĐỊNH để tập trung tư tưởng để tìm cách Giải Thoát. Cuối cùng Ngài đã gặp, gọi là Đắc Đạo. Vì thế, nếu ta dùng thời gian THIỀN ĐỊNH như Ngài, thì mới có thể có kết quả giống như Ngài.

- Có TÌM ĐẠO thì mới có thể ĐƯỢC ĐẠO. Không biết mình muốn tìm gì mà hy vọng "đột nhiên hoát ngộ" là chuyện của những người không hiểu về Thiền đã tưởng tượng. Điều đó cũng chứng minh vì sao người thời nay ngồi mãi mà không thấy có ai đắc đạo. Phần những người hướng dẫn Thiền, ai đến cũng cứ dạy Ngồi, không cần biết họ muốn tìm gì? không cần biết họ có Giới hay không, chứng tỏ người dạy cũng chưa hiểu rõ về THIỀN ĐỊNH.

Trên đây là chút nhận định và hiểu biết của tôi về Thiền. Có thể chưa đầy đủ, nhưng cũng hy vọng nêu ra một cái nhìn khái quát về Thiền của Đạo Phật, để thấy rằng tại sao người thời nay Ngồi Thiền mãi, Thiền đủ cách mà không thấy có ai Đắc Đạo, có chăng là chỉ được an ổn, thanh tịnh trong giờ Ngồi mà thôi.

Xin nói thêm là tôi sẽ cho bài này vào trang Web www.giaimakinhphat.com, nếu quý vị có cần để nghiên cứu thêm thì có thể thể tải về để xem. Tôi cũng rất mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp, để việc nghiên cứu của tôi thêm sáng tỏ.

Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe.

Trân trọng.

______________________________________________

(Thuyết trình tại CUNG VĂN HÓA LAO ĐỘNG ngày 1/11/2009)





© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 11.03.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .