TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN VĂN HOA


Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).









Tranh của họa sĩ Lê Đọi





GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM


. PHẦN THỨ 2 .




Thương nhân Hà nội là một bộ phận của dân cư Hà nội. Dưới đây chúng ta xem xét cách đánh giá thương nhân qua một số tiền nhân về nghề lái buôn :
Lê Quý Đôn ( 1726-1784 ) Theo cuốn Vân Đài loại ngữ Quyển 9 tập 3 Nhà xuất bản Văn Hoá Thông tin Hà nội 1995
Thời nhà Trần đã có nhiều sản phẩm cống lễ vật cho Nhà Nhuyên như :hòn giả sơn bằng gỗ trầm ,vật đè giấy bằng ngà voi ,cái giá gác bút bằng thuỷ tinh.
Ngày nay ,người ta thường buôn những loại đá quý để khảm vào chiếc nhẫn . Khoảng 1573-1619 kính viễn vọng được đưa vào Trung quốc. Đến nay chỉ vài phân bạc là có thể mua được 1 kính đeo mắt rồi. Thời nhà Minh đem con ngựa hay đổi với người lái buôn Tây vực mua được 1 kính đeo mắt rồi.
Thời nhà Mịnh cho rằng ở Giao châu ,người ta còn dùng tiền nhà Tống ,lấy 50 đồng làm 1 tiền.
Núi Phú Nhâm ở Cửu chân sản xuất khánh đá ,núi An hoạch ở huyện Đông Sơn nước Giao chỉ sản xuất thứ đá rất đẹp.
Quan Thương thư Lê Hữu Kiều trong những ngày trấn nhiệm ở Thanh Hoá đã từng vâng lệnh đi sứ sang Tầu mua được 2 cái khánh ,một mua ở Ngọc khánh ,một mua ở Phố Thiên tân hình con cá . Thợ đá bên Tầu ,tiền công rất rẻ ,1 tấm bia chi phí vài lạng bạc ,không phải như ở nước ta ,1 tấm bia phải phí hơn trăm quan tiền ( Liên hệ đến năm 2000 thì hàng Tầu rẻ là phải .)
Năm 1686 thì thuyền nước An Nam như cánh hoa sen ,chế tác rất tinh khéo chắc chắn ,tay chèo nai nịt hùng vĩ .
1660 Người Ai lao mới đem cây thuốc lá đến Việt nam,1665 nhà nước cấm mà không được" ban gày có thẻ không ăn nhưng hút thì không thể cấm ngăn 1 giờ.
Đã biết lấy sáp ong ướp bông hoa thơm sản xuất dùng trang điểm. Còn nước hoa thì đã biết hái hoa bưởi , theo phép nấu rượu ,nấu nước hoa .
Người Giao chỉ ở Phương Nam và người Chiêm Thành tiếp xúc với nhau ,cho nên thứ lúa chín vào mùa hạ phần nhiều gọi là lúa Chiêm.
Nước ta thời Lê Quý Đôn biết rằng ở nước Chân Lạp nửa năm có mưa ,nửa năm không mưa .Từ tháng 4 đến tháng -9 ,sau ngọ thì mưa ;từ tháng 10 đến tháng 3.,một giọt mưa cũng không có .(Đây là phần đất Nam Bộ bây giờ).
Người Nam kết cỏ lau làm bè chừa lỗ nhỏ cho nổi trên mặt nước ,rồi trồng hột rau muống ở trong bèấy như bèo nổi trên mặt nước . Khi rau muống lớn lên cây và lá đều mọc lên ở lỗ bè.Theo người Tầu thì đó là thứ rau lạ của người Phương Nam. Có thứ Củ mài do thuyền buôn người Tầu đem đến , đó là thứ sản xuất ở núi Hiểu Sơn phía Nam huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc cũng không tốt bằng . Thời Nhà Lỹ tại làng Cổ Pháp đã lấy giống ở bên Tầu về trồng ,củ nhỏ chỉ bằng ngón tay , da mịn và mỏng ,mùi vị ngọt ngon,
Sâm sản xuất ở làng Sóc sơn trấn Thanh Hoá thì hoa màu vàng trắng ,vị thơm ngọt ,nhưng niêm lục mỏng , không bằng sâm Nghệ an.ở Kinh Bắc và Phương Nhân cũng có sâm .Nhưng Sâm Nghệ an không quý lắm, một lượng chỉ trị giá 30-40 tiền . Sâm bên Tầu do khách thương đem đến hì khí chất hoàn toàn đã biến đổi , 1 lượng trị giá đến 80 quan , về sau lại lên đến 150-160 quan . Bậc công hầu hoàng tộc dốc tiền ra mua.
Lê Quý Đôn nhận xét rất hóm hính và sâu sắc về thói sùng bái hàng ngoại: Việc sản xuất nhân sâm lại ccó đáng gì là lạ đâu màcứ cho sâm bên Tầu là thứ thiệt , cỏn trầm hương , tốc hương , đàn hương và quế cũng phải đòi cho được thứ ở hải ngoại do thuyền Tàu chở sang nữa hay sao ? Và Lê Quý Đôn cũng thấy cảnh này ở Bên Tầu : Thứ sâm Tây dương do thuyền biển chở vào ,nay người Tàu cũng ưu thích một cân có khi giá đến 10 lượng bạc. Lê Quý Đôn không sùng bài hàng ngoại và đã khẳng định: Tôi đã từng uống sâm ấy ,thật đã thấy khô chát vô vị ,nào có ích lợi gì khí lục đâu.
Việc ăn uống mà người Nam thật có thể nói là không lựa chọn thật quá lắm. Dân Tàu cho rằng người ở Cửu Chân ở Giao chỉ người ta dùng vóc làm chén làm mâm ,đồ vật để uống như muỗng thìa.
Đồi mồi sản xuất ở Quảng Yên , con to giá không quá 5 tiền ( loại trên lưng có 12 cái vẩy ráp lại . Theo tôi cách nhìn nhận của Lê Quý Đôn đối với nghề lái buôn và có so sách với thương nhân người Tầu giúp cho chúng ta có cách nhìn nhận với thực tại : Hàng Tầu có khả năng cạnh tranh rất mạnh với hàng hoá Việt nam và thâm chí cạnh tranh làm cho lao đao cả Xe Máy của Nhật Bản như Hon đa sản xuất tại Việt Nam ( chủng loại Wave @). Gia bán FOB của xe Tầu cho các thương nhân Hà nội chí có 250 USD. Thương nhân Tầu vẫn là đối thủ cạnh tranh với thương nhân Hà nội không chỉ quá khứ hiện tại và lâu dài .
Theo Phạm Qùynh thì Hải phòng có 8 991 người khách ,mà Chợ lớn 75.000 khách với 4873 Minh hương ;Hà nội có 3377 người khách với 825 người Minh hương mà Sài gòn có 22079 người khách với 677 người Minh hương .Coi đó thì biết cái nguy cho Nam kỳ to dường nào .Song dù hơn dù kém ,dù ít ,dù nhiều ,cũng vấn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình ,quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi ,mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đua trên thị trường thế giới .(Phạm Quỳnh -Mười ngày ở Huế NXB Văn học năm 2001 trang 85-86 );
Nhân định của PQ:" tr,83 Hải phòng về đường buôn bán hơn Hà nội rồi ,mà cái tương lai xem ra còn có thể bành trướng hơn chốn cố đô; tr83.Hà nội về đưòng buôn bán thì không sao sánh nổi với Hải phòng. Hải phòng trước kia chỉ là một xóm nhỏ gần bể ,Triều đình mới đặt một toà thương chánh kiêm tra tàu bè cùng hàng hoá xuất nhập
Qua ý kiến của Phạm Quỳnh thì đã lộ rõ cái định kiến của ông với thương nhân Hoa kiều , ông cũng báo động cho thương nhân Hà nội và Sài gòn về cái hoạ mà thương nhân Tầu gây cho Việt nam chúng ta. Qua đó hy vọng thức tỉnh được lòng yêu nwocs và sức vùng lên trên thưong trường của thwong nhân Việt nam.
Theo Phan Kế Bính( 1875-1921 ): Hiệu Bưu Văn người làng Thuỵ Khê , huyện Hoàn long , tỉnh Hà đông; đỗ cử nhân Hán học khoa bính ngọ ( 1906 ) . Năm 1907 , ông coi phần chữ Nho cho báo Đăng cổ . Năm 1912 , ông vào Nam kỳ biên tập báo Lục tỉnh Tân văn . Năm 1914 , ông về Bắc làm biên tập viên cho đông Dương tạp chí . Năm 1918 , Đông dương Tạp chí đổi ra Trung Bắc Tân văn và học báo , ông lại phụ trách phần xã thuyết . Ông Phan Kế Bính nói về nghề lái buôn Việc buôn bán nước ta cũng suy đồi lắm .Bao nhiêu các mối lợi to như vận hàng hoá xuất dương , lập đại thương cục v.v...thì ở cả tay các người ngoại quốc ,chớ người mình thì chưa thấy mấy người dựng nên công cuộc nào hoặc hợp cổ mà làm nên việc gì to tát . Duy vài chục năm nay thì mới có mấy nhà phú thương gây dựng được vài việc như công ty tàu thuỷ , hiệu cầm đồ , hiệu nhà in, cửa hàng bán đồ thuêu đồ khảm v.v... Có việc vốn tới vài ba mươi vạn , kẻ làm công tới một hai trăm người , kể đã là to , song so với cách buôn bán của ngoại quốc thì vẫn chưa thấm vào đâu cả.
Dưới hạng này thì các nhà buôn bán ở các nơi thành phố , người thì mở hàng cân ngô cân gạo ,người thì buôn cất hàng tây hàng tầu ,hoặc người thì buôn hàng tơ lụa , hoặc người thì bán hàng tạp hoá , hoặc người thì cho vay đặt lãi , để tranh lợi với bọn Sắt Ty v.v... Những nghề này đến vốn nhiều ra độ một vài vạn ,ít nữa độ đôi ba nghìn ,cũng nên kể là nhà buôn bán to của An nam ta.
Lại còn các nhà buôn thuyền bán bè chỏ tỉnh này qua tỉnh khác , hoặc mắm hoặc muối , hoặc ngô hoặc gạo ,hoặc củi hoặc gỗ,hoặc nứa hoặc tre v.v... Hạng này cũng kể là việc buôn bán vật lực , cũng phải một vài nghìn vốn mới đủ dùng.
Dưới nữa thì là các nhà tư bản ít ỏi , đan lồng phất giấy , buôn chợ kia bán chợ nọ, buôn chiều hôm bán sớm mai . Nan người nứa người , nhờ cái tay khéo phất ,kiếm được đủ ăn tiêu đủ thuế má là tốt,mà không khéo vỡ nợ bỏ xứ mà đi cũng nhiều .
Còn về chốn nhà quê nơi nào không có ruộng nương, không có nghề nghiệp gì thì soay ra làm hàng xay hàng xáo ,lái trâu lái bò hoặc bán hàng quà hàng bánh kiếm ít lời đầu tôm, râu cá, về nhà cở mau cơm cháo cho qua đời . Nhà nào có được một vài trăm bạc bỏ ra vốn đông vốn để hoặc chứa thóc gạo , đong lúc rẻ bán lúc đắt , hoặc cầm bát bát hàng , đã kể là phong vân hơn người .
Xét ra việc buôn bán của ta không được thịnh vượng bằng các nước cũng bởi nhiều cớ :
Một là vì ta không biết trọng nghề buôn bán. Phần nhiều người chỉ nô nức về đường công danh sĩ hoạn mà coi nghề buôn bán là một nghề khinh thường . Người giàu có cho con đi học , mong cho con về sau nhất ra thì làm nên ông nghè , ông bảng , không nữa thì cũng phải làm được ông hậu ,ông hàn, chớ nào ai mong cho con mai sau làm nên bác lái này ông lái nọ.Người làm quan trở về thì lấy gió mát trăng thanh , cúc thơm lan tốt, chè chuyên thuốc quấn, đàn ngọt hát hay làm vui thú ,chứ nào ai thiết gì ông chủ cửa hàng nọ , ông quảnlý cửa hàng kia . Mà các bác nhờ tổ ấm đủ bát ăn thì cũng lấy sự thanh nhàn là thú ở trên đời , còn viêc buôn bán thây mẹ đĩ . Té ra bao nhiêu công việc buôn bán phần nhiều ở trong tay người đàn bà và ở trong bọn mấy chú laí thì mong sao mà mở mang ra to được.
Hai là vì nhát tính không dám đi xa .Người nhờ có dấn vốn chỉ ngồi phân phát một xó ,cái gì cũng chờ người ta mang đến tận nơi ,mua tranh bán cướp với nhau ,chớ một bước cũng không dám dời đi đâu cả.Ví dụ có đi chăng nữa thì chẳng qua Hà nội xuống Hảiphòng , Sơn Tây xuôi Nam định đã cho là xa xôi , ai bần cùng lắm mới lên đến Lào cai ,Yên bái , hoặc vào đến Bình Định , Sài gòn . Còn chỉ những lo nước độc ma thiêng , hoặc là phong ba bất trắc mà quanh năm chí tối , bán quẩn buôn quanh..
Ba là vì không có lòng thành thật ,nhất là những kẻ gian tham ,của một nói thách lên mười để lừa những người khờ dại , nhờ cái sự sơ ý của người ta mà kiếm ăn làm giàu làm có, thì cái tài ấy cũng đáng khinh bỉ lắm.Lại còn những kẻ giả dối điêu trác nói tốt bán của xấu , càng người quen càng nén đau thì cũng đáng khinh nữa . Đến như các nhà hợp cổ mở ra hội này hội khác , công việc chưa thành , đã đem lòng ngờ vực nhau rồi. Nào là chủ hội thì nghĩ cho người làm công ăn bớt , nào là người cổ phần thì nghi cho chủ hội hà lạm .Mà rồi thì ai ai cũng chỉ muốn giữ lợi riêng , chẳng quản gì đến hội nữa . Vì thế người có phần sinh chán , mà chẳng bao lâu phải tàn.
Bốn là vì ta không có lòng kiên nhẫn.Phàm làm việc vì , cóphải dễ dàng mỗi chốc mà thành hiệu ngay được đâu . Ta buôn bán động hơi thấy lỗ vốn một chút hoặc hơi vấp váp điều gì thì đã ngã lòng ngay . Hoặc người đóng cửa trả môn bài , hoặc người xin thôi cổ phần ,làm cho các việc có cơ tấn tới cũng phải tan không thành nữa.
Năm là vì ưa phù hoa ,lấy sĩ diện với ngoài . Ai buôn bán hơi được kha khá phát tài , đã vội vàng đổi ngay bộ dáng cũ. Cửa nhà trang sức rực rỡ , cỏia dáng đại phú gia rồi. Đi đâu thì quần nọ áo kia , xe xe ngựa ngựa , nghênh ngang lên mặt tưởng không ai phong lưu bằng ta , nhất là dư của mà mua được tiếng ông hàn ,ông bá thì lại coi ra dáng nữa . Chí khí nông nổi như vậy thì tích luỹ làm sao cho nên một vốn to, để mở mang cho mỗi ngày một phát đạt.
Vì các nỗi trên này mà đường buôn bán suy nhược ,trách nào mà bao nhiêu lợi quyền , chẳng vào tay người khác. ít lâu nay đã có người hiểu cách buôn bán là trọng ,lập nên công này việc khác cũng đã ra tuồng , và cũng đã được hưởng những lợi quyền sung sướng ở trong việc buôn bán . Song nghìn muôn người mới được một vài người , chớ phần nhiều thì vẫn u u mê mê như trước mà dẫu có muốn mở mang cũng không có lòng thành tín và lòng kiên nhẫn để cho nên một cuộc hay.
Than ôi ! Việc lý tài chung của một nước , trọng nhất là sự buôn bán . Đường buôn bán có thịnh thì nước mới thịnh , đường buôn bán mà suy thì nước cũng suy. Thử xem như các nước cường thịnh bây giờ nước nào là nước không có hiệu buôn lập nhiều chốn nào xuất dương , một cửa hàng nào ngoại quốc , vậy mà cứ muốn vinh dự như các nước , thì vinh làm sao được .
Về những ý kiến của tiền nhân về thương nhân Hà nội nói riêng và Việt nam nói chung thật đáng trân trọng . Theo tôi những người tham gia trên thương trường có hành vi mua, bán chuyên nghiệp thì gọi là lái buôn và phải công nhận ý kiến của Phan Kế Bính rất sâu sắc , nó như những mũi kim thọc thẳng vào trái tim ái quốc của các thương nhân Việt nam nói chung và Hà nội nói riêng. Qua đó mà suy ngẫm và hành động để giữ được mối lợi trên thương trường , không để nó tuột tay vào ngoại bang.
Vậy người nước ngoài nhìn nhận thương nhân Hà nội Thế Nào ?
Khi đi Hoa kỳ tôi có mua được cuốn sách : " Vietnam a travel survivat kit của Daniel Robinson và Robert Storey, xuất bản lần thứ hai , 1993 tại Úc .
Trong cuốn sách này hai tác giả nước ngoài đã giành từ trang 392 đến trang 422 để viết riêng về Hà nội , đây là cuốn sách tra cứu cho khách du lịch nước ngoài đến Việt nam . Nếu ai để ý thì hầu hết các nước nói tiếng Anh đều dùng cuốn sách của Họ để tra cứu khi vào Việt nam . Nội dung họ đề cập gồm có nhận xét chung Hà nội ,lịch sử , định hướng, thông tin văn phòng du lịch , công ty du lịch ,đồng tiền tiêu ở Hà nội , Bưu điện và viễn thông , hiệu sách ,thư viện,bản đồ , nhập cảnh ,các tổ chức quốc tế ở Hà nội, Hồ , chùa chiền ở Hà nội( chùa một cột, chùa Diên hựu , văn miếu,Hồ Hoàn kiếm ,Đền Ngọc Sơn ,Hồ Tây ,Hồ Trúc Bạch,Chùa Quán ú, Đền Hai Bà Trưng , Bảo tàng Quân đội ,Bảo tàng Hồ Chí Minh , Bảo tàng Mỹ thuật , Bảo tàng cách mạng , Bảo tàng Độc lập 48 Hàng Ngang phía Bắc Hồ Hoàn kiếm ở Khu Phố cổ , nơi Hồ Chí Minh dự thảo Bản tuyên ngôn độc lập của Việt nam năm 1945 , hai tác giả đặt tên là Bảo tàng Độc Lập ( tiếng Anh là Independence Meseum - trang 406 Hanoi- Things ro See).
Chưa thấy sách báo nào của Việt nam viết như họ . Lăng Hồ CHí Minh ,viết về Hồ Chí Minh ( trang 408 ). Khu Phố Cổ hai tác giả viết đây là khu phố không xa Hồ Hoàn kiếm , có thành cổ ( Citadel ), có chợ Đồng xuân ,và bên cạnh sông Hồ, Theo hai tác giả đây là những khu phố được hình thành từ thế kỷ 15 ( since the 15 th century) , đường phố đông đúc của Phố cổ( Old Quarter thường kinh doanh ( business) tập trung ở các Phố Hàng gai, hàng Gạo, Hàng Giấy ,hàng Chả Cá ( Broiled Fish) , hàng Bạc, , Hàng Mã ( Paper Votive Objects St. Hai tác giả viết về chợ Đồng Xuân như sau Chợ cách Hồ Hoàn kiếm 1,3 km , ở đây bán cây cảnh , thú vật bao gồm cả khỉ ( Monkeys) , chim ( birds) , gần đó còn có bán thực phẩm , rau tươi, cửa chính vào còn bán cả rượu thuốc truyền thống , nhà Thờ ở 40 Nhà chung , theo họ thì nhà thờ đầu tiên được xây ở Hà nội vào năm 1679 . Cửa chính nhà thờ mở cửa hàng ngày từ 5-7 giờ sáng và từ 5-7 giờ chiều . Họ viết về Hànọi Hilton họ cho rằng : " The " Hanoi Hilton is the Níckname given to a príson in which US POWS- mostly aircraf crew). tên này dùng trong chiến tranh Viet nam . Đây chính là Nhà tù Hoả lò được Pháp xây vào đầu thế kỷ 20 ( the early 20 th century . Tôi cũng xin nói thêm cuốn sách có nhiều thông tin đã lạc hậu , hai người này không biết rằng một phần nhà tù Hoả Lò đã trở thành ngôi nhà chọc trời Tháp Hà nội ( Hanoi Tower) ở mặt phố Bông Thợ Nhuộm - Hai Bà Trưng ,phần bảo tàng chỉ còn lạỉ phía phố Hoả lò . Về cầu Long Biên họ viết như sau; Cầu Long Biên vắt qua sông Hồng cách 600 m về phía Bắc cầu Chương Dương, họ viết: " is a fantastic hođgepodge of repairs dating from the Vietnam War) . Sau mỗi lần Mỹ ném bom , cầu lại được sửa chữa . Họ đưa ra một chi tiết mà Tôi ( NVH ) chưa bao giờ được biết : " It í said that when US POWs were put to work repairing the bridge ,the US military , fearing for their sàety , ended the attacks.Theo họ cầu dài 1682 mét cầu khai thông vào năm 1902 từ thời Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer( 1857-1932) . Họ còn viết về nhà khách Chính phủ, Công viên Thủ lệ và Sở Thú ( Thu le Park & Zoo , thành Cổ Loa, về Sân Golf , về các Lễ Hội: Theo họ Tết là năm mới Việt nam vào cuối tháng một và đầu tháng 2 . Tết có chợ Hoa , nó được mở trước Tết một tuần ở Phố Hàng Lược gần chợ Đồng Xuân , Triển lãm và thi hoa diễn ra hai tuần đặt ở công viên Lenin bắt đầu ngày đầu của năm mới ( a two- week flower exhibition and competition takes place in Lenin Park beginning on the first day of the new year ). Họ còn biết rằng On the fourth day of the new year , there is a firecracker fesstival in Dongky, avillage three km north of Hanoi ) . Họ còn biết pháo dài 16 mét Đây lại một thông tin mà họ đã không kịp cập nhật cho các khách du lịch đến Hà Nội sau ngày Chính phủ Việt Nam cấm đốt pháo vào Tết Nguyên Đán , Cả một làng nghề hình thành từ nghìn năm đã bị bị chết và những thưong nhân bán pháo đã mất nghề và những thương nhân buôn lậu pháo Tầu sẽ bị nghiêm trị theo Pháp luật . Hội đốt pháo Đồng kỵ chỉ còn là một hoài niệm trong tâm thức người Hà nội nay ( người Kinh Bắc xưa ). Ngày 13 tháng giêng tại làng Lim ở Hà Bắc ( nay - NVH là Bắc Ninh) Liền anh ( boys) và Liền chị ( girls) tham gia hát đối hay hát đôi ( vì Họ viết là hat doi ) , đây là một trò chơi truyền thống mà nhóm này hát đối với nhóm khác . Tại hội này còn có các hoạt động như đánh cờ tướng , thả chim và đốt pháo ( lại một thông tin đã lạc hậu ). Hai người còn đưa mộtthông tin rất quan trong về Giỗ trận Đống đa nhưng sai ngày : " on the 15 th day of the firt luna month at Dong Da Muond , site the uprising against Chinese invaders led by Empeorr Quang Trung ( Nguyen Hue in 1788) . Đọc đến đây bớt chợt tôi lại nhớ lại cái mốc mà Đề tài này chọn , Tức là sau một trăm năm vào năm 1888 thì Hà Nội lại trở thành " nhượng địa của Pháp !).
Trong cuốn sách của họ tôi chú ý phần Things to Buy ( trang 417-422). Họ rất thận trọng khi lựa chọn thông tin cho khách du lịch đến mua hàng ở Hà Nội , Theo tôi đây là một loại khách khách đặc biệt và càng mở cửa thì họ vào càng nhiều , thương nhân Hà nội càng có điều kiện tiếp xúc giao lưu bán nhiều hàng truyền thống Việt nam, quảng bá những đức tính tốt đẹp của thương nhân Hà nội ( về văn hoá về đạo đức, trình độ ,,,). Hai tác giả thông tin : Tại cửa hàng số 1 và 1 A Lý Quốc Sư có tên Bảo hung và Hai Van có cửa hàng bán áo sơ mi dài tay ,và quần áo cho Tây ( Lots of Westrn custommerrs trông giống như áo sơ mi của thành phố Hồ CHí Minh . Dọc phố Hàng Bông / Hàng Gai cũng có các cửa hàng bán sơ mi ,mũ của Việt công ( Viet Cong headgear), áo sơ mi giá 2 USĐ tới 3,5 USD và có nhiều hàng in và thêu khác . Những áo cộc tay và mũ Việt cộng đây là vật phẩm cần cho những ai là cựu chiến binh ở phương Tây . Nếu mặc những đồ lưu niệm thả bộ ở đường phố Los Angeles hoặc có thể nguy hiểm khi gặp những Overseas Vietnamese . Hai tác giả này thật là thâm thuý ,cũng giống tôi năm 1987 từ CHDC Đức về nước định mang cuốn sách hướng dẫn du lịch các bãi tắm trần truồng ( FKK văn hoá thân thể tự do ) và năm 1994 khi tôi sang Mỹ đến Siêu thị thấy Tạp chí Playboys ra sách kỷ niệm 40 năm , chọn những ảnh nghệ thuật rất đẹp , chần chừ không dám mua vì sợ về đến sân bay Mà Hải quan Việt nam " lập biên bản " cho là mang văn hoá đồi truỵ thì nguy hiểm về tính mạng chính ttrị của mình . Trong sách này Họ còn khen ngợi thương nhân Hà Nội có thể nói được tiếng Anh và tiếng Pháp lưu loat ( cửa hàng 96 Hàng Gai của Khaisilk). Họ khuyên mua tranh ,nhất là tranh sơn mai nên đến 51 Trần Hưng đạo Hội Mỹ thuật Việt nam ( họ viết nhầm thành 511 Trần Hưng Đạo ) hoặc 61 Tràng tiền .Họ khen Hà nội là thành phố của Hồ nước , có vườn hoa công cộng đó là nơi đang thực hiện : " Vietnams new economic reforrms" . Hai người này còn hưóng dẫn mua cờ đỏ sao vàng tại 13 và 40 Hàng Bông và khách mua có thể thuê thưong nhân ở đây may thuê họ tên và ngày tháng đến thăm Hà nội .Tại cửa hiệu 109 Hàng Gai là nơi rất tốt có thông tin về may đo quần áo .Quanh đây còn có cửa hàng bán đồ cổ/ cũ ( antique Shops).Cửa hàng tốt cho tơ tằm là Khaisilk -96 Hàng Gai . Quần áo ở đây rất hiện đại theo kiểu phương Tây không giống quần áo ở các cửa hiệu lân cận đó.Theo họ thì : " The proprietor is fluent in French and English". Theo họ ở Đông Bắc hồ Hoàn kiếm ở phố Hàng Đào có nhiều cửa hàng Giày nhưng không có cỡ cho chân người phương Tây .( It í difficult to find large sizzes for big Western feet". Họ còn khuyen nếu mua những mặt hàng truyền thống Việt nam nên đến 25 Hàng Khay ( họ viết nhầm thành Hàng Khai ) ngay trước mặt Hồ Hoàn Kiếm . và Stuđio 31 . Cửa hàng 31 Hàng Khay có bộ sưu tập về tranh vẽ ( has selection of paintíng . ở 51 và 53 Bà Triệu là hai cửa hàng nhỏ bán hàng thủ công .Họ còn biết ở góc phố Lý THường Kiệt cắt Hàng Bài cũng cócửa hàng bán đồ lưu niệm cho người nước ngoài ,giờ mở cửa từ thứ 3 dến chủ nhật từ 8 giờ 30 đến trưa và từ 1giờ 30 đến 5 giờ 30 chiều. Cũng theo họ mua băng nhạc Viẹt Nam thì nên mua ở 32 Hai Bà Trưng Múa thuốc tây thì nên mua ở góc phố Hàng Khay cắt phố hàng Bài . Họ còn biết quanh đó có nhiều cửa hàng chụp ảnh có thể rửa phim với giá rẻ ( cheap) . Nếu muốn mua tem chơi thì đến công ty Tem Việt nam ( Cotevina). Cửa hàng bách hoá lớn nhất Hà noi ( Bach hoa tong hop ) năm ơt Hàng Bai- Hai Bà Trung và phia Hồ Hoàn Kiếm , ( trang418 )Theo họ thì : " It í a good place to buy things ). Hàng hoá có thể mua đựoc như tranh sơn mài ( lacquerware , đồ mạ bạc, và theo họ thì : " It has a better selection than most shóp and há some of the cheapest prices in town .Nhưng nếu hai tác giả này đến Bách hoá tổng hợp suốt bao nhiêu nămcỏ mọc thì tâm thế - tâm thức của họ cũng không yên . Hoặc giả bây giời họ quay lại Bách hoá Tổng hợp mới thì chắc họ cũng phải viết lại điều trên.Theo họ cửa hàng bách hoá tổng hợp có bảng giá rất dài để trong tủ kính . ở đây cũng có Chocolaté của Indonêxia : "test like mud".
Nếu mua sơn màu nước thì đến 216 Phùng Hưng , Mua nhạc cụ thì đến 24 và 36 Hàng Gai , 76 và 85 Hàng Bông . Đồng hồ Nga và đồng hồ cổ / cũ hoặc trông cổ/ cũ ( có thể mua ở mấy nơi trung tâm Hà nội , ví dụ như phố Lương văn Can .
Qua cuốn sách này để thấy thương nhân Hà nội rất được khách du lịch nước ngoài quan tâm . Vào năm 1993 thì hầu hết thông tin của cuốn sách này đều đúng , nhưng có những nhận định đến nay không còn đúng ví họ cho rằng : "So với thành phố Hồ CHí Minh Hànội không tắc nghẽn giao thông , không ồn ào náo nhiệt , không bẩn thỉu ( les trafic ,less nose , pollution) Theo họ : " The people of Hanoi are known for being more reerved - and at sam time more traditional hospitable .
Theo hai tác giả nước ngoài này thì các nhà đầu tư nước ngoài cho răng kinh doanh ở Hà Nội khó khăn hơn phía Nam . Theo họ thì thế hệ trẻ không còn mơ mộng với quá khứ mà chỉ còn chăm chăm với sinh kế ( bread which is buttered). Sự tự do về kinh tế có thể thấy ở cáccửa hàng tư nhân , Màu sắc và sức sống trở lại trên đường phố ,những công trình đang sửa chữa và các công ty nước ngoài giờ đã đầu tư vào các khách sạn Hà nội.Hà nội và các tỉnh còn lạicủa phía Bắc có tiềm năng rất lớn để phát triển ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu nhưng theo họ : " a potential as yet unrealised ).Họ cho rằng Hà nội có dân cư từ thời kỳ đá mới ( Neolithic).Vua Lý Thái tổ chuyển kinh đô về đây vào năm 1010 AD và trở thành Thăng Long: Thành phố của Rồng Bay ( Soaring Dragon ) .Hà nội đã trở thành kinh đô của Triều vua Lê - Lê Lợi từ 1428 đến 1788 . Tiếp đó Nguyễn Huệ lập nên Triều đại Tây Sơn . Sau đó Vua Gia Long sáng lập nên Triều Nguyễn ở Huế và Hà nôi trở thành a regional capital . Trải qua nhiều thế kỷ đã mang nhiều tên như Đông Kinh ( Easterrn Capital , người châu Âu gọi là Tonkin và thành phố mang tên Hà nội Hà Nôi ( The City in a Bend of the River ) từ đời vua Tự Đức năm 1831 . Từ 1902 đến 1953 hà nội là :" the capital of French Indochina ). Cách mạng tháng Tám năm 1946 Hà nội tuyên bố là Thủ đô của Việt nam . Pháp tái chiếm Hà nội đến năm 1946 và trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ( tôi dịch như vậy NVH còn họ thì gọi là During the Vietnam War) Hà nôi bị bom Mỹ phá hoại một phần và đã giết chết hàng trăm dân thường ,nay đã được sửa chữa lại (repaired).Hà nội nằm men sông Hồng ,có hai cái cầu bắc qua sông này.cầu Long Biên sử dụng chho xe đạp , xe máy không được đi ( non -motorised( nhưng nay vì cấu Chương Dưong luôn bị tắc nghen nên từ tháng 10-2002 đã cho phép xe máy đi qua cầu Long Biên NVH ). Thời họ viết sách thì có 4 quận Hoàn kiếm ,Ba đình,Hai Bả Trưng Đống Đa. Họ nhìn nhận phố cổ là nơi đường phố đông đúc ( narrow streets ), những biệt thự thời Pháp nay làm đại sứ của các nước không phải Xã hội chủ nghĩa .
Từ trên các ý kiến trên , cá nhân tôi nhận thấy thương nghiệp- nghề buôn bán ở Hà nội nói riêng và Việt Nam nói chung là một nghề đã có từ lâu đời ở nước ta.
Có người thì cho Chử Đồng Tử ( một trong tứ bất tử ) là ông tổ nghề lái buôn của Việt nam .Ông xuất thân là người trong gia đình đánh cá nghèo gặp công chúa Tiên Dung đi du lịch trên sông Hồng rồi tắm không quần áo trên bãi cát, nước làm lòi Chử Đồng Tử cũng không quần áo trong tấm màn quấy .Từ con vua Hùng Vương đã trở thành vợ anh đánh cá nghèo . Người đánh cá thì phải buôn bán sớm nhất , vì lênh đênh " gạo chợ, nước sông "nên luôn phải bán cá để mua củi và gạo để lần hồi sống qua ngày . Coi Chử Đồng Tử là ông tổ nghề buôn bán Việt nam cũng có lý. Có lẽ Hậu duệ của ông sau đó đã lênh đenh ở ven sông Tô lịch, sông Lừ , sông Kim Ngưu và Hồ Tây là nội , Họ đã là những thương nhân đầu tiên ở Hà nội chăng ?
Có người theo truyện cổ tích cho rằng Mai An Tiêm là người bán dưa hấu cho thuyền buôn nước ngoài để mua các nhu yếu phẩm cần thiết giữa đảo hoang có lẽ là Tổ nghề ngoại thương của Việt nam. Ho địa lịch sử - văn hoá - Chính trị đã buộc Mai An Tiêm trở thành thương nhân ngoại thương sớm nhất trong lịch sử Việt nam. Và coi ông là ông tổ nghề ngoại thương cũng có thể chấp nhận được . Tất nhiên Hậu duệ của Mai An Tiêm ngày nay làm ngoại thương ngày nay đã ở tầm cáo mới.Họ phải thông thạo nghiệp vụ ngoại thương ,phải tinh thông ngoại ngữ - nhất là tiếng Anh và phải nắm vững tập quán quốc tế, thảo hợp đồng qua Internet, lưu hợp đồng trong máy vi tính sách tay trong buôn bán với nước ngoài . Dù sao cũng vẫn nên nhớ ông tổ nghề ngoại thương của mình .
Nhưng theo tôi có lẽ nghề lái buôn đã ra đời từ thời Hùng Vương.Kinh tế tự cung tự cấp thì cần gì đến nghề lái buôn . Hoặc giả nếu ngưòi sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dùng thì còn cần gì đến lái buôn chuyên nghiệp.
Nghề lái buôn Việt nam luôn phải chịu sự kiềm toả của cơ chế quản lý nghề lái buôn qua cảc triều đại.

2- Những nhân tố ảnh hưởng đến lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội:

2.1 Yếu tố thứ nhất sự chi phối của triều đình nhà Nguyễn :


Từ góc nhìn của Thương nhân tôi căn cứ theo Lê Hữu Trác viết cuốn Thượng kinh ký sự ( Bùi Hạnh Cẩn dịch và chú giải , Trần Nghĩa giới thiệu ) Nhà xuất bản Văn học Hà nội 2001 Chúng ta có thể thấy được Kinh thành Thăng Long thời vua Lê chúa Trịnh .
Trang 35 đi qua cửa Vũ Quan vào thành . Nhìn thấy một dãy thành đất không cao lắm ( NVH như vậy không có thành gạch , đá ong hoặc đá ).Bên cạnhlà một tường nhỏ , mặt trên là đường xe ngựa đi (chưa có xe đạp , ôtô NVH) ,mé ngoài có hàng rào tre dày kín ( nội thành nay hết tre NVH ). Người qua kẻ lại đông như mắc cưỉ , xe ngựa ồn ào .Trần Hữu Trác viết : trên đước đến dinh quan Chánh đường :Tôi vào hàng cơm nghỉ , tuỳ tòng sửa soạn áo mũ ". rồi lên kiệu vào chầu ( quan chánh đường đi kiệu chữ không phải đi taxi máy lạnh như bây giờ ). Ông tả cảnh ăn uống : Ông ( chỉ quan chánh đường ) ông chia phần cơm của mình cho tôi ăn . Mâm vàng chén bạc , thức ngon của lạ .Còn sánh sáng lúc đó chỉ là : " lớp lớp màn trướng, cứ mỗi một lần màn gấm lại có thấy có thắp một cây nền để soi đường . Về nội thất có " chiếc sập thếp vàng " chiếc kỷ chạm rồng , sơn son thếp vàng, đèn lồng , ghế rồng , hương thơm đầy nhà , quần áo thế tử thì có " mặc áo lụa hồng ", Khi ấy thuốc bắc đã có các vị như Bach truật, Thục địa, can khương ( gừng khô ). Lê Hữu Trác đi cáng ,bốn người lính khiêng ( chứ không phải đi kiệu). Tiền thưởng của thày thuốc là : " ban cho cụ hai chục suất lính hầu , hưởng lộc như chức Hộ phiên câu kê ( một chức quan nhỏ đời Lê ). Bố trí nơi chúa ở lâu dài đình gác rèm châu cửa ngọc , suốt lối đi toàn hoa kỳ cỏ lạ , chim quý nháy nhót bay hót , lan can cầu bằng đá màu. về chi tiêu Lê Hữu Trác viết : gạo củi các thức đều tốn ,mà thày trò lại đông hơn chục người , vậy lấy đâu ra để chi phí mãi. Cụ trọ ở trại lính . Người thì xin thuốc , người thì nhờ xem mạch kê đơn . Ngày đêm rất ồn rất bận .ông cũng ngạc nhiều : không ngờ lại kiếm được gấp bội . Thời ấy Trần Hữu Trác tiếp khách bằng nước chè : Nhà lúc nào cũng chật khách , ấm chén lúc nào cũng đầy chè,có nói đến rượu ( nhưng không nói tên rượu gì ,rượu nút chuối ư ? ( khác bây giờ ngoài chè năm 2002 tiếp khách ở các gia đình Hà nội còn có Bia Hà nội , tiger, nước ngọt cocacola , rượu Tây ). Phương tiện đi lại của các quan thời đó còn có Võng ( trang 83 ).Cách chào khách của Lê Hữu Trác : Tôi ra cổng đón( bạn hơn ông một tuổi , ông LHT 60 , ông kia 61 - là quan xa nhau 30 năm gặp lại NVH ) , vái nhau rồi cùng vào nhà ". Tả cảnh tiến sỹ Phạm Nguyễn Du đón LHT : đến cưủa , đã thấy ông ấy chắp tay đứng ở trước sân chờ đón .Tôi thấy vậy , vội vàng xuống cáng ,vái chào rồi đi vào .Có khách mới đến : Mọi người đứng dậy vái chào và mời ngồi . Tại trang 108 ông cũng có kể đến phương tiện thuỷ là thuyền : quan tôi có một chiếc thuyền nhẹ , khi đi trên mặt nước , lướt nhanh như ngựa chạy ( không hiểu chèo tay hay lắp động cơ gì NVH ). Tại trang 141 LHT viết : dinh bệnh nhân ở cạnh Hồ Tây ,nên ông xin một chiếc thuyền đưa về .
Hiện nay 2002 quanh ngoại thành nhà nào cũng làmnhà lợp ngói xi măng cho dân các tỉnh thuê để làm thợ xây , bán hàng rong , trọ chen chúc rất mất vệ sinh , nhưng thờ LHT một gia đình đã : Bây giờ nhà ngoài tôi cũng rộng rãi , xin mời cụ tạm sang ở đó , đợi vài hôm căn nhà bên hồ làm xong thì mời cụ chuyển đến . Hoặc LHT tả cảnh một gia đình bệnh nhân có nhà thuỷ tạ nhìn ra chiếc hồ rộng chừng nghìn mẫu , đàn ngan ngỗng qua lại đùa giỡn sóng nước , cá lội tung tăng . Ven để cổ thụ xum xê , hoa thơm ngào ngạt . Trước sân mấy gốc mai già nằm nghiêng bên tấm đá ( trang 106 ) Ngoài song mấy hàng trúc thắm nghiêng bóng chiếu vào án sách . Nhìn con dã hạc đứng một mình như thấy tiết trời lạnh lẽo .Về an ninh , thời LHT cũng có nhiều trộm cắp : một nhà trọ bốn bề không có tường dậu ,"nơi đây lại luôn có trộm cắp " nên chọn nơi trọ khác. Nhà trọ so với năm 2002 thì khác xa : ba gian nhà giữa,mái ngói tường vôi ( đã có ngói và vôi NVH ) , một gian nhà ngoài làm bếp , trước sân cây lạ đã đẹp , hoa cỏ tươi thắm.Thời LHT đã có cả Đông và Tây y : cảnh một bệnh nhân coi : Đông y hay như thần uống thử một thang , Tây y hay như thánh thì lại uống một tế . Có khi chỉ một ngày đêm thay tới bốn năm thày lang. ( trang 134). Theo LHT thì :" Ngôi bậc có tôn ti , thi lễ có đẳng cấp . nhưng : đối với người làm thuốc thì căn cứu vào bệnh nặng hay nhẹ mà định trước sau ( trang 139 ).Hồ Tây theo ông tả có núi đá giữa hồ ( nay không còn NVH ) và trên bãi , một dãy lâu đài (nay cũng biến mất NVH ).Cảnh Tết Trung thu LHT tả : Trong thành nhà nào nhà ấy sửa soạn cỗ bàn yến tiệc . Người nào người ấy quần hồng áo tía đây đó rong chơi . LHT cũng sửa mấy mâm cỗ mời hơn 10 người ăn cỗ uống rượu. LHT tự sự khi về quê lại bị gọi lại Kinh : Mình thực là làm đầy tớ cho hình hài vậy ( 193 ) .Thuốc đã có nhung hươu nhung bắc là loại máu còn đọng , nhân sâm loại to một cân bốn năm chỉ ( giá một đồng cân một trăm quan .

Tiếp theo tôi từ xem góc nhìn thương nhân xem Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tuỳ bút Nhà xuất bản Văn học Hà nội 2001 do Nguyễn Hữu Tiến dịch và chú thích , Lam Giang giới thiệu . Về ông Phạm Đình Hổ ( 1768-1839, sau 20 năm ông chết 1859 Pháp nổ súng xâm lược Việt nam ) , có nhà riêng ở phường Hà khẩu ( cửa sông ) , huyện Thọ Xương , phủ Hoài Đức , thành Thăng Long , phố Hàng Buồm Hà nội . Năm 1826 Minh Mệnh triệu ông vào Huế cho giữ chức Thừa chỉ Viện Hàn Lâm , kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu , được hơn một năm , ông lại cáo bệnh về quê. Cuốn sách của ông tai nghe mắt thấy phản ảnh nhiều mặt của đời sống xã hội nước ta vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Gia đình ông đã biết chơi cây , đá, hoa , chim.(1774- như chúng ta đã biết thì 1664 Hội truyền giáo nước ngoài Pháp đã được thành lập ở Paris 1664 ra đời công ty Đông Ấn của Pháp. 1669 xin lập thương điếm ở đàng trong ). Bố ông Hiến sát Nam Định Tuần phủ Sơn Tây có cái mũ với cái khăn ( ông không tả kỹ mũ và khăn màu gì , có thêu thùa gì không ). Khi ấy đã có " những trò thanh sắc ( chơi gái điếm ? NVH ) và nghề cờ bạc . " cờ bạc ăn tiền " ông không thích . ông nghiện chè tàu ( trang 10) , nhưng tội nghiệp khay chén không đủ , tiền không đủ mua chè . không hiểu : " chè tùng quế thơm tho "là loại chè gì " 13 tuổi mồ côi bố . 9 tuổi học chữ Hán . Thời ấy nhà ông đã trồng cây cảnh như nhài , hồng, ngâu ,mẫu đơn. (1782). năm 1775 theo PĐH thì khi Trịnh Sâm ra cung Thuỵ Liên trên bờ Hồ Tây thì các nội thần thì đầu bịt khăn ,mặc áo đàn bà ,bày bách hoá chung quanh bờ hồ để bán ( Trang 13). Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hỗ tung đại thần tuỳ ý ghé vào bờ mua bán các thứ ở cửa hàng trong chợ ( chợ nào không rõ ?NVH).Chúa Trịnh chơi: " loài trân cầm ?, dị thú ,cổ mộc ,quái thạch và chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian . ". Bọn hoạn quan cung giám ra ngoài dạo dẫm tống tiến , thậm chí hòn đá hoặc cây cối gì to lớn quá thì thậm chí phải phá nhà huỷ tường để khiêng ra. Nhà ông có hai cây lê cao vài trượng lúc nở hoa ,trắng xoá thơmlừng và hai cây lựu trắng ,lựu đỏ sợ quá cũng phải chặt đi (Phố Hàng Buồm ) .Theo PĐH thì Thăng Long chia 36 phường, đất kinh thành đông đúc , nhả liền nhau , thường có hoả hoạn ,lại nhiều đầy tớ nhà quan du đãng cờ bạc ,gây chuyện đánh nhau ,cãi nhau , cũng là những kẻ vô lại trộm cắp , nhiều lắm không kể xiết được , vật sản rất nhiều ," mà lại không thiếu một hạng người nào cả . ". Theo tôi (NVH ) nếu vậy thời ấy thương nhân chắc chắn bị bọn này nhũng nhiễu cũng nhiều . Lời ăn tiếng nói với loại này chắc không thể giống người lương thiện được . Bọn côn đồ nhẩy ra làm Khu trưởng hoặc Đoàn trưởng ( hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức chia thành tám khu ). 1788 theo ông đã có người xem tướng và vẽ chân dung rất giỏi , ông cho là ứng nghiệm .Thời ấy đã biết chơi lan cửu uyển lan , thạch lan, thanh lan,tố lan,đông lan,kiến lan,lan ngọc quế,ông còn mô tả cách chăm sóc lan : trồng vào chậu sứ Trung Hoa , bón bằng một thứ bùn đã phơi khô đốt ủ đi rồi , hoặc lấy những bã sừng hưu , bã chè khô phủ lên trên gốc , rồi lấy thứ nước ngâm cá ươn tưới cho nó, mỗi ngày phải cắt lá úa , rửa lá tươi vài bốn lần . mỗi giò có đến vài mươi cái hoa ,lúc thưởng hoa thì đốt hương tùng chi để trước gió mà thưởng ngoạn ( trang 27 ) . Thời ông người ta đã biết chơi cảnh : chơi hoa,chơi đá, ,nào rồng uốn , hổ phục , sư tử ngoảnh mặt lên trời , kỳ lân đạp chân xuống đất , biết bao nhiêu cách không thể nói hết được, hình long , hổ ngoằn ngoèo , sư, lân hống hách và những hình xà thần ,ngưu quỷ đầy cả nhà thì trông thấy , ai chẳng bịt mắt lắc đầu mà chạy . Thế những người đời lại lấy cách chơi ấy làm cao , và ông đã nhận xét : ta thực không hiểu ra làm sao cả.
PĐH cũng tự cho mình là : Ta từ nhỏ đã phải mồ côi thất học , đến khi lớn lên lại dùi mài về nghề học cửu nghiệp , thường bị những kẻ khinh bạc chê bai .( trang 33). ông nhận định : Nước ta đã có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa .(trang 37 ).Về uống chè PĐH viết : đời Cảnh Hưng các nhà quý tộc, các bậc công hầu , các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ ,có khi mua bộ ấm chén , phí tổn đến vài mươi lạng bạc .Thời nay Cà phê Trung nguyên , chè Dimal lipton tràn ngập , còn thời ông PĐH : Thường nhiều người đến chơi các hiệu chè thăm dò các phố buôn ,vác tiền hết quan ấy chục khác để mua lấy chè ngon , họ uống chè rồi : lại đánh cuộc giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị , kén hiệu trỏ tên , mua cho được chè ngon ,thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn ( Ta hay Tầu ? NVH ) , gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ , cách hiếu thượng đến thế là cùng cực . Lò ,siêu , ấm , chén lại chế ra nhiều kiểu thích dụng . Cuộc sống của PĐH : tuy cơm rau nước lã không được dư dụ cho lắm , nhưng chè tàu thì không lúc nào thiếu ( 41 ). Theo ông thơì ấy mới có siêu đồng , nhưng kim khí bị hoả khí nó hấp hơi , thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung , pha chè tốt hơn .( trang 42 ).Thời ông đã có bản đồ : ta thường xem bản đồ trong nội các ( trang 43 ). Thời ông hàng hoá đã có nhiều thứ : san hô , đồi mồi, hạt trai, nhục quế , trầm hương , hồ tiêu, ý dĩ , củ mài, hương phụ nhân sâm,sơn sống, củ nâu, gỗ lim sến , vải nhỏ ,lĩnh the ở La Khê sừng tê, ngà voi ,theo nhận xét của PĐH : Nếu người cầm quyền nước biết nhân cái sản vật tự nhiên mà khéo dùng nó , chế biến ra thành các thứ cần dùng thì so với Trung Hoa, ta cũng chẳng kém gì mấy ( trang 46 ).Năm 1774 theo PĐH thì mấy năm được mùa liền, các cửa hàng hoá , vật giá rất rẻ , một đồng tiền kẽm hai cái kẹo đường ,mà hai bát chè tươi ,hai miếng trầu , bánh điểm tâm cũng chỉ vài đồng . Ai vào hàng cơm , tuỳ thích ăn no hết sức , chỉ mất độ mười đồng kẽm mà thôi . Cũng theo tác giả thương nhân ở phố Hàng Ngang và hàng Đào phải chống chọi với nạn trộm cắp . đây là phố hàng áo ,bán các thứ lụa vóc nhiễu rất nhiều.phiên chợ là những ngày mồng một ,mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu , ba mươi. PHiên chợ hàng Buồm ( Bạch Mã ) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo .nên có nạn cướp giật , có khi thò vào túi người ta lấy hết cả. Cắp bọc áo hoặc khuân đồ vật hàng hoá,chúng tuyên truyền " voi lồng ngựa xô " khách và thương nhân sợ bỏ chạy thế là kẻ cắp phỗng hết hàng hoá . Bọn chúng còn đưa bà già mù cả hai mắt ,mặc áo nhiễu điều , ngồi trên võng ,rồi chúng đóng thành lính khênh để lừa người bán bạc ở phố Hàng Bạc.
PĐH cũng bài bạc thuyết phong thuỷ của Tầu trong chuyện một ông hoa kiều bỏ quên tiền ở một quán nước , quay lại vẫn nhận đủ iền , đưa tiền cảm ơn bà lão cũng từ chối , để cảm ơn ,ông thầy Tàu đã đặt ngôi mộ cho bà ,mà cháu ngoại làm đến Thượng Thư , nhưng vẫn bị chúa Trịnh sinh nghi , tay cầm giáo vàng đâm chết . PĐH đã về thăm ngôi mộ phát tích này nước chảy vòng hình chữ ất . đặt mộ để người ta bị tai vạ ,con cháu cũng suy , không có tiếng tăm gì , thế thì cái mẹo của con người cũng không bằng cái lẽ tự nhiên tạo hoá . Các thày địa lý hay đi bốc mả cho người , xem đó cũng nên tỉnh ngộ .
PĐh đưa ra một chuyện mà tôi đã nghe được nhiều lần hoặc đọc được nhiều lần qua các Gia phả : Khi xưa có một bà hoá chồng sớm , nhànghèo ,mở ngôi hàng nước ở bên đường .Một hôm , có người Hoa kiều đi đào của về , vào nghỉ , bỏ quên một gói bạc .Một lát , trở lại , bà lão đem đủ số bạc trả cho . Người Hoa Kiều chia một số bạc đền ơn ,bà không nhận. Người Hoa kiều ấy cảm cái cao nghĩa mà bảo rằng : : " chỗ này có một ngôi đất , đời đời có người làm nên chức công khanh . Tôi muốn lấy ngôi đất đó đền ơn cho bà . NHưng PĐH thì cho rằng : người ta sinh ra bởi tự đâu lại ,mà chết là bởi tự đâu đi chứ không phải cái thuật nhà địa lý có thể xoay chuyển được . PĐH đã đến thăm ngôi mộ mà Hoa kiều " đền ơn cho bà lão " thì thấy : ngôi mộ phát tích thì thấy một khu đất lớn thuỷ hình vòng quanh vài mươi mẫu , trên vùng đất ấy ,chỗ lồi , chỗ lõm , chỗ mở , chỗ khép , hình thế cũng đẹp , chính giữa nổi lên một gò kim hình , chừng độ hơn mười bước , có một ngòi nước hình chữ nhất chảy ngang , rồi chảy vòng lại hình như chữ ất . Kiểu đất Cao Vương nói : Thuỷ loạn ất tục ( nghĩa là nước chảy vòng hình chữ ất ). PĐH không tin hoa kiều trả ơn cho bà bán nước ( cũng là một dạng thương nhân NVH ) không tham tiền hoa kiều bỏ quên , đặt mộ cho cháu ngoại làm đến công khanh Thượng Tư rồi vẫn bị CHúa Trịnh sinh nghi tay cầm giáo vàng đâm chết .
PĐH còn kể rằng : Nước ta có nhiều chỗ khách (chắc đây chỉ người Tầu NVH) đào hầm để của . Ta thường đọc sách Thuyết Kiềm khoảng năm 1644-1661 quân Trung hoa kéo sang nước ta . , các quan thú lại phương nam thường vơ vét được nhiều của mà không mang về được , ý chừng họ để của từ bấy giờ . PĐH kể có người đàn bà nữa đi chợ sớm , thấy có nhà cửa chững chạc , đèn lửa sáng chưng , trong có người đàn bà đang ngồi dệt cửi . Thế thì truyền rằng chỗ ấy là nơi để của ,cũng không sai /( trang 161)

Triều đình nhà Nguyễn từng bước triệt hạ vị trí chính trị của Kinh thành Thăng Long . Đúng như Trần Quốc Vượng đã nhận xét :"Hà nội đã nhiều phen vị mất ( hay đe dạo bị mất ) vai trò Thủ đô ( như thời gian cuối XVIII - gần hết XIX ). Huế ,Sài Gòn đã từng có lúc đóng vai trò Thủ đô."
Về chính trị thì vậy nhưng theo tôi trung tâm thương mại của Hà Nội đối với cả nước chưa bao giờ bị mất.

 
Thời điểm
Quốc hiệu
Thủ đô
Dân số ( người )
-300
Văn lang
Phong châu
500.000
-180
Âu lạc
Phong khê
600.000
1
Giao chỉ
(thuộcHán)
Long biên
666.13
40
Trưng Vương
Mê linh
700.000
544
Vạn Xuân
Long Biên
1.000.000
968
Đại Cổ Việt
Hoa Lư
2.000.000
1054
Đaih Việt
Thăng Long
2.200.000
1407
Quận Giao chỉ
( thuộc Minh )
Đông Đô
3.129.500
1490
Đại Việt
Đông Kinh
4.000.000
1750
Đàng ngoài
Trung Đô
4.000.000
1750
Đàng trong
Thuận Hoá
1.500.000
1802
Việt nam
Huế
5.780.000
1840
Việt nam
Huế
7.764.128
1870
Việt nam( kể cả Nam kỳ thuộc Pháp)
Huế - Sài gòn
10.000.000
1901
Việt nam thuộc Phap
Hà nội - Huế
13.000.000
1943
Việt nam thuộc Pháp
Hà nội - Huế
22.000.000
1962
Việt nam ( Dân chủ cộng hoà )
Hà nội
17.000.000
1962
Việt nam Cộnghoà
Sài gòn
14.275.000
1976
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam
Hà nội
49.160.000
1994
CHXNCNVN
Hà nội
75.500.500
1999
CHXHCNVN
Hà nội
76.324.753

* Từ năm 2002 : Quốc hiệu : Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Thủ đô : Hà Nội - Dân số : 80.000.000( NVH)

Mặc dù bị mất tư thế Thủ đô cả nước , Kinh đô đã ở Huế .Nhưng năm 1841 Triều đình Nhà Nguyễn ở Huế vẫn giao cho Hà Nội cùng Bắc ninh ,Thái nguyên ,Sơn Tây ,Hưng yên ,Tuyên quang mỗi tỉnh mua 1 trăm lạng vàng .
Triều đình Nhà Nguyễn còn mua vàng bạc diệp ở xã Kiêu kỵ , huyện Gia lâm , cứ mỗi vạn tờ vàng diệp cấp cho 21 quan tiền ,mỗi vạn tờ bạc diệp cấp cho 6 quan 5 tiền.
Triều đình nhà Nguyễn còn sử dụng Hoa Kiều mua hàng hoá của Trung Quóc: 1820 sức cho thuộc khách phố Hàng Buồm sang Trung Quốc mua 32 "áo " gấm Tô châu các hạng; 8 áo đoạn gấm thượng hạng ; kiểu hoa , hồi văn chữ thọ , bằng vàng thật ; 10 áo đoạn gấm thượng hạng , kiểu hoa , thỏ tước dỡn sen , bằng vàng thật ; 10 " áo " đoạn gấm thượng hạng , kiểu , đào sen lồng cảnh , bằng vàng thật , 4 áo đoạn gấm thượng hạng , kiểu ,hoa chữ nhân như ý , bằng vàng thật . Các mặt hàng này gồm 32 áo giá tiền 879 lạng 4 đồng cân năm phân bạc , tính ra mỗi áo hơn 27 lạng 4 đồng cân 8 phân bạc.




( ĐÓN ĐỌC TIẾP THEO : PHẦN THỨ 3 )



T.S. NGUYỄN VĂN HOA

TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC