" NHÀ TÂY SƠN "

của Quách Tấn - Quách Giao,

NXB Trẻ - 2000




Mùa xuân mới đang đến, mọi người trong chúng ta đang tận hưởng biết bao cảm xúc tràn ngập niềm vui lâng lâng cùng với Trời đất, cỏ cây, hoa lá... Chúng ta cùng nhau điểm sách "Nhà Tây Sơn" để tưởng nhớ tới Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử, dân tộc ta nhớ lại chiến công oanh liệt của nghĩa quân Tây Sơn với Quang Trung bách chiến bách thắng.

ẤP TÂY SƠN.

Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của Bình Định tam hùng: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi Ba anh em là Nhà Tây Sơn. Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn họ Hồ, ở làng Hương Cái, Hưng Nguyên, Nghệ An, vào lập nghiệp ở Quy Nhơn, Bình Định thời Lê. Ông Hồ Phi Phúc mang họ Nguyễn từ lúc sơ sanh: Nguyễn Phi Phúc, sinh 3 con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ tức Nguyễn Bình, Nguyễn Lữ.

Ba anh em lớn lên đều thọ giáo ông Trương Văn Hiến tục gọi là Giáo Hiến ở An Thái (An Nhơn) cả văn lẫn võ, nhưng nặng bên võ hơn bên văn. Ông Nhạc chuyên học kiếm, ông Huệ chuyên học đao, ông Lữ chỉ học quyền.

TÂY SƠN KHỞI NGHĨA.

Cơ sở đã vững vàng, quân sĩ, vũ khí, lương thực tạm đầy đủ, Nguyễn Nhạc xuống An Thái thỉnh giáo thầy, Trương Văn Hiến đáp: "Khởi sự được rồi". Ông bái tạ về. lo chỉnh đốn quân ngũ, sắm kỳ hiệu, đặt quan chức, tự xưng là Tây Sơn Vương, quân chia làm 3 đạo.

Đại kỳ thêu kim tuyến 3 chữ Tây Sơn Vương. Mọi việc an bài, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo Trời Đất, tế cờ xuất quân.

>- Đạo quân Nguyễn Huệ kéo về chiến khu

>- Đạo quân Trần Quang Diệu theo đường núi ra hướng bắc

- Đạo quân Tây Sơn Vương kéo thẳng xuống hướng đông

Đó là ngày rằm tháng 8 năm Quý Tỵ (1773)

Thành Quy Nhơn là thành cũ Đồ Bàn của Chiêm Thành. Quân Tây Sơn vây đánh 3 ngày mà không lấy được, Tây Sơn Vương bèn dùng mưu bằng cách cho đóng 1 chiếc cũi thật kiên cố, bên trong có máy mở đóng, rồi tự mình vào ngồi trong cũi, bảo khiêng đem nạp cho Tuần Phủ chỉ huy thành Quy Nhơn. Cũi vừa qua khỏi thành, cánh cửa chưa kịp đóng Tây Sơn Vương liền mở cũi chạy ra, rút kiếm giấu sẵn trong người, chém chết viên đội trưởng giữ cửa, 8 nghĩa quân khiêng cũi, lớp côn lớp quyền, đánh tan đội giữ cửa, mở rộng cửa thành và đốt pháo hiệu truyền lệnh. Quân Tây Sơn liền ùa vào thành một cách thần tốc, Tuần Phủ khiếp đảm chạy trốn, quân lính và quan lại trong thành như rắn không đầu, đều quy hàng Tây Sơn Vương.

Mặc dù thành Quy Nhơn đã trở thành căn cứ chiến đấu, chiến khu Tây Sơn vẫn giữ y nguyên và vẫn tiếp tục phát triển kinh tế và quân sự.

ANH HÙNG NGHĨA SĨ GIÚP NHÀ TÂY SƠN DỰNG NGHIỆP.

Vừa dựng cờ khởi nghĩa, nhà Tây Sơn đã được nhiều anh hùng nghĩa sĩ xa gần phò tá.

Bên võ có 7 người: Võ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết, Lý Văn Bưu, Lê Văn Hưng, Nguyễn Văn Lộc, danh truyền là Tây Sơn Thất hổ tướng. Tất cả đều là tướng tài, mỗi người có 1 môn sở trường vô địch.

Bên văn có 6 người: -Nguyễn Thung, Võ Xuân Hoài, Trương Mỹ Ngọc, La Xuân Kiều, Triệu Đình Thiệp, Cao Tắc Tựu, người đương thời gọi là Lục kỳ sĩ. Tất cả đều đức cao học rộng.

Nữ tướng có 5 người: Bùi Thị Xuân, Bùi Thị Nhạn, Trần Thị Lan, Nguyễn Thị Dung, Huỳnh Thị Cúc, danh truyền là Ngũ phụng thư.

Thất hổ tướng, Lục kỳ sĩ và Ngũ phụng thư hợp thành Tây Sơn Thập bát cơ thạch, nghĩa là 18 tảng đá làm nền móng của Nhà Tây Sơn.

NHÀ TÂY SƠN ĐÁNH NHÀ NGUYỄN Ở MẶT BẮC.

Trong khi Tây Sơn Vương lo củng cố nội bộ, chiêu mộ hào kiệt thì Trấn thủ Quảng Nam sai quân vào đánh.

Đất nhà Nguyễn lúc bấy giờ từ Hoành Sơn đến Hà Tiên, Quy Nhơn nằm khoảng giữa, phía nam giáp Phú Yên, có dãy núi Cù Mông làm ranh giới, phía bắc giáp Quảng Ngãi, có dãy Bình Đê làm ranh giới. Nam cũng như bắc đều có đèo mở lối ra vào, nhưng địa thế rất hiểm trở.

Được tin quân nhà Nguyễn kéo vào Quy Nhơn, Tây Sơn đem quân chống lại, toàn thắng, đắp 1 lũy cát tại Bến Vân (Bình Sơn, Quảng Ngãi). Qua tháng chạp năm 1778, nhà Nguyễn lại cử 2 đạo binh vào đánh Tây Sơn Vương. Hai bên kịch chiến, quân Tây Sơn lại thắng và chiếm phủ lỵ Quảng Ngãi.

Qua mùa thu năm 1774, Hoàng Ngũ Phúc vâng lệnh Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đem quân vào đánh lấy Phú Xuân. Chúa Nguyễn cùng đình thần chạy vào Quảng Nam. Quân Tây Sơn kéo đến đánh, Chúa Nguyễn chống không nổi, cùng Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy vào Gia Định.

Tiếp đó quân Ngũ Phúc vượt Hải Vân vào đánh Tây Sơn. Nhận thấy quân Ngũ Phúc đã đông lại mạnh, Tây Sơn Vương bèn rút hết quân về Quy Nhơn, và làm kế hoãn binh, cho người mang thư và vàng lụa ra dâng cho Ngũ Phúc, xin nạp Quy Nhơn và Quảng Ngãi, cùng xin làm tiền khu đi đánh Họ Nguyễn. Ngũ Phúc bèn xin Chúa Trịnh phong cho Vương làm Tướng quân Tây Sơn Hiệu trưởng. Tây Sơn Vương không lo mặt Bắc nữa, chuẩn bị đánh lấy mặt Nam.

ĐÁNH VỚI NHÀ NGUYỄN Ở MẶT NAM.

Đi đánh mặt Bắc, Tây Sơn Vương không quên mặt Nam. Vương cử Nguyễn Lữ vào Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận để xem xét tình hình, nên binh Tây Sơn cứ thẳng tiến vào Nam, đi tới đâu được hoan nghênh tới đó và lấy 3 thành dễ dàng như trở bàn tay, nhờ vào Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân. Đến cuối đông năm 1774, Vương sai Nguyễn Lữ và Phan Văn Lân đem thủy quân vào đánh Gia Định, chiếm được Sài Côn (tức Sài Gòn), sang năm 1776, Đỗ Thành Nhân dấy binh giúp nhà Nguyễn, kéo đánh Sài Côn. Nguyễn Lữ không chống cự, bỏ thành rút quân về Quy Nhơn. Đến năm 1777, Vương sai Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đem thủy binh vào đánh Gia Định, hạ thành Sài Côn, các quan võ nhà Nguyễn đều quy hàng. Sau đó, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ kéo binh về Quy Nhơn, giao cho đám hàng thần là Tổng đốc Chu trấn thủ đất Gia Định.

TÂY SƠN VƯƠNG SỬA THÀNH ĐỒ BÀN VÀ XƯNG ĐẾ HIỆU.

Sau khi mặt Nam tạm yên, tháng chạp năm 1775, Chúa Trịnh cho rút quân về Thuận Hóa, nên Quảng Nam lại thuộc về Tây Sơn.

Bắc Nam được yên ổn, Tây Sơn Vương đổi làm Minh Đức Vương và cho sửa lại thành Quy Nhơn, thành sửa từ năm 1776 - 1778 mới hoàn tất, tráng lệ nguy nga, nhà vua xưng đế hiệu Minh Đức Hoàng Đế, niên hiệu Thái Đức. Thành Quy Nhơn đổi tên là Hoàng Đế thành.

Nhà vua rước thầy Trương Văn Hiến về làm Quân sư, phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhương Tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết Chế.

TÂY SƠN PHÒ LÊ DIỆT TRỊNH.

Bình xong phía Nam, nhà Tây Sơn lo đến phía Bắc. Thành Thuận Hóa, do Phạm Ngô Cầu trấn thủ, là người vô mưu, vua Thái Đức biết Thuận Hóa không phòng bị, bèn sai Nguyễn Huệ, Võ Văn Nhậm, Nguyễn Văn Chỉnh đem binh ra đánh Thuận hóa. Chiếm được thành dễ dàng, Nguyễn Huệ bèn treo bảng phủ dụ nhân dân. Sau, nghe lời khuyên của Chỉnh, Nguyễn Huệ ra đánh lấy Bắc Hà.

Nguyễn Huệ một mặt truyền hịch đi khắp nơi, nói là lấy nghĩa phò Lê diệt Trịnh, một mặt kéo quân lên lấy Thăng Long.Tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ vào Thăng Long mở kho phát chẩn cho người nghèo, ngày hôm sau, vào cung Vạn Thọ yết kiến vua Lê, và tâu rằng đem binh ra Bắc Hà không còn mục đích nào khác hơn là diệt Trịnh, phò Lê, vua Lê Hiển Tông mừng rỡ, tạ ơn, phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên soái Uy Quốc công và gả con gái là Ngọc Hân Công chúa.

Vua Thái Đức được tin Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà, sợ em ở ngoài lâu sinh biến muốn gọi về, nên phải thân hành đem binh theo đi thẳng ra Thăng Long. Đến nơi, Nguyễn Huệ cùng tướng sĩ ra ngoài thành nghinh đón. Lễ tương kiến của hai Vua tổ chức tại phủ Chúa Trịnh. Vua Thái Đức ngồi giữa, vua Chiêu Thống ngồi bên tả, Nguyễn Huệ ngồi bên hữu, các quan văn võ đứng chầu hai bên. Một tuần nhật sau vua tôi nhà Tây Sơn rút quân về nước.

Dẹp yên chúa Trịnh ở Thăng Long, đánh đuổi chúa Nguyễn ra khỏi Gia định. Vua Thái Đức phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương thống trị đất Thuận Hóa từ Hải Vân Sơn đến Hoành Sơn, phong cho Nguyễn Lữ là Đông Định Vương coi đất Gia Định, còn mình thì xưng Trung Ương Hoàng đế chăm lo phần đất từ Quảng Nam đến Bình Thuận. Nhân dân an cư lạc nghiệp và mong hưởng thái bình được lâu dài.

BẮC BÌNH VƯƠNG ĐỐI PHÓ MẶT BẮC.

Nguyễn Hữu Chỉnh lộng hành ở Bắc Hà, tháng 12 năm 1787 Bắc Bình Vương sai Võ Văn Nhậm ra Thăng Long đánh Chỉnh. Thua trận, Chỉnh bị bắt giải về Thăng Long còn Lê Chiêu Thống trốn thoát. Nhậm kể tội Chỉnh rồi đem giết và nói "việc an dân đã có ta làm chủ". Được tin, Bắc Bình Vương truyền lệnh xuất binh ra Thăng Long, bất ngờ, bắt được Võ Văn Nhậm, truyền đem ra giết. Để Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhậm... cùng vua Lê lo việc nước, tháng 5 năm 1788, Vương trở về Phú xuân đem theo Phan Huy Ích.

Ngô thời Nhậm, theo chính sách đoàn kết rộng rãi của Bắc Bình Vương, đã góp phần lớn lao vào việc củng cố an ninh và chính trị ở Bắc Hà.

CHIÊU THỐNG RƯỚC TÀU VỀ ĐÁNH TÂY SƠN.

Lê Chiêu Thống tới Kinh Bắc, cho người cầu viện Thanh triều. Vua Càn Long chuẩn y và sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn binh sang VN, mượn cớ giúp vua Lê đánh Tây Sơn để đặt nền đô hộ lên đất Việt.

Được tin, Ngô Văn Sở dùng kế hoãn binh, Ngô Thời Nhậm nói: "Rút hết thủy bộ vào đóng giữ từ Tam điệp ra đến biển, để bảo toàn lực lượng, rồi báo cấp về Phú Xuân, lúc đó ta sẽ quyết chiến cũng không muộn". Vào thành Thăng Long như vào chỗ không người, Sĩ Nghị nghĩ rằng đánh dẹp Tây Sơn sẽ dễ dàng như lấy đồ trong túi, nên lơ đãng việc binh, ngày ngày lo hưởng lạc thú, rồi truyền ba quân đóng trại nghỉ ngơi để qua Tết chiến đấu.

Cảnh nước loạn dân đau khổ đến thế là cùng cực.
Người người đều trông mong cuộc đời đổi thay.

VUA QUANG TRUNG ĐẠI PHÁ QUÂN THANH.

Được tin quân Thanh sang chiếm đóng Thăng Long, Bắc Bình Vương lập tức hội các tướng đến bàn việc dẹp giặc. Các tướng xin Vương trước nên chính vị hiệu để ràng buộc lòng người Nam Bắc rồi sau sẽ khởi binh.

Theo lời, Vương sai đắp đàn ở Bàn Sơn (tức Núi Bân, gần núi Ngự Bình, Huế). Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), làm lễ cáo Trời Đất, lên ngôi Hoàng Đế, đặt niên hiệu là Quang Trung. Ngay hôm đăng quang, vua Quang Trung tự thống lĩnh thủy đại bộ binh, đốc suất tướng sĩ ở tế đàn, kéo rốc ra Bắc. Để quân sĩ đi cho chóng và khỏi mệt, nhà vua cấp cho 3 người một cáng tre, 2 người khiêng 1, luân phiên nhau đi gấp ngày đêm ra Nghệ An.

Đến nơi ngày 29/11. Nhà vua mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đến vấn kế, Cụ đến ngay và nói "Quân Thanh ở xa mới tới không biết tình hình quân ta mạnh yếu thế nào, địa thế nước ta hiểm trở ra sao, không biết nên đánh hay giữ. Chúa công ra đây nên đánh gấp thì không quá 10 ngày nhất định tiêu diệt được địch". Vua Quang Trung mừng rỡ: "Thật hợp ý ta".

Sau khi chuẩn bị với hơn 10 vạn, trên 200 thớt voi và 500 ngựa, nhà vua hạ lệnh trẩy quân. Ngày 20 tháng chạp (1789) đại binh tới Tam Điệp, Ngô Văn Sở, Ngô thời Nhậm ra chịu tội. Nhà vua cười: "Ta biết đây là kế của Ngô Thị lang. Chúng nó sang chuyến này là mua cái chết đó thôi. Ta đã định mẹo cả rồi. Dẹp yên giặc chỉ trong mươi ngày là xong". Mọi việc cụ bị, nhà vua cho mở tiệc linh đình vào ngày 29 tháng chạp để thết đãi tướng sĩ. Trong bữa tiệc nhà vua nói:

- Bữa nay ta hãy ăn Tết Nguyên đán trước, sang xuân ngày mồng 7, vào Thăng Long, sẽ mở tiệc ăn Tết Khai hạ.

Ai nấy đều hớn hở vui mừng. Sáng hôm sau, 30 tháng chạp, nhà vua truyền lệnh xuất quân. Quân Tây Sơn đến đâu cũng được dân địa phương hoan hô đến đó. Mồng 3 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1780) lúc nửa đêm nghĩa quân vây đồn Hà Hồi, quân Thanh đang ngủ, nghe tiếng reo hò, tiếng trống trận vang rền như sấm ngoài chiến lũy, khiếp sợ, không còn gan chống cự, vội vã kéo cờ hàng.

Nhà vua cưỡi voi, thúc quân tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Voi trận đi trước quân lính theo sau, đi như gió cuốn. Quân Thanh bị rối hàng ngũ, không dám giao chiến, phải rút vào giữ đồn. Đồn này giữ vị trí quan trọng nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, lực lượng có trên 3 vạn quân tinh nhuệ. Đồn bị tiêu diệt, quân tử trận và bị bắt hơn 2 phần, còn lại chừng 1 phần sống sót kéo nhau chạy ra ngả Thăng Long, sau bị bao vây, quân địch không còn 1 tên sống sót. Đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt toàn bộ. Sau đó, đồn Khương Thượng, nằm phía tây nam thành Thăng Long cũng bị tiêu diệt luôn, tướng chỉ huy là Sầm Nghi Đống khiếp sợ, trốn ra gò Đống Đa thắt cổ tự tử, binh sĩ trong đồn bị giết toàn bộ và bị chôn vùi tại đây.

Tại bản doanh, Tôn Sĩ Nghị nghe tin đồn Ngọc Hồi rồi đồn Khương Thượng bị tiêu diệt và binh vua Quang Trung đương kéo đến Kinh thành, Nghị sợ quá không kịp mặc áo giáp, không kịp thắng yên ngựa, hớt hãi cùng toán hầu cận bỏ cung Tây Long, vượt cầu phao chạy qua sông Nhị, tướng sĩ thấy chủ tướng bỏ chạy, rùng rùng chạy theo, cầu không chịu nổi sức nặng bị đứt, ném tung hàng vạn quân địch xuống sông. Vua Chiêu Thống cũng chạy theo Tôn Sĩ Nghị. Quân Thanh bị quét sạch, Bắc Hà hoàn toàn được giải phóng.

Chiều mồng 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (30/1/1789) Vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long trong không khí tưng bừng. Chiến bào của nhà vua đỏ thắm, đã bị thuốc súng nhuộm thành màu đen. Nhà vua vào thành Thăng Long trước kỳ hẹn 2 ngày. Theo đúng hẹn, vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn Tết một lần nữa. Nhân dân trong và ngoài thành cũng đua nhau mở tiệc vui, tưng bừng, nhộn nhịp. Và trên kỳ đài thành Thăng Long, ngọn cờ đỏ mặt trời vàng bay phấp phới.

VUA QUANG TRUNG VÀ ĐỐI NỘI, ĐỐI NGOẠI.

Về Đối nội, Vua Quang Trung có ý đóng đô tại thành Phượng Hoàng ở Nghệ An, nhưng thành chưa xây xong, nên nhà vua về ngự tại Phú Xuân suốt thời gian trị vì. Tổ chức lại quân đội. Đúc tiền mang danh hiệu Quang Trung thay thế cho tiền Cảnh Hưng, Chiêu Thống. Nhà vua lập Sùng Chính Viện, thỉnh La Sơn Phu Tử làm Viện trưởng để dịch những tác phẩm có giá trị về đạo đức và văn chương ra chữ Nôm để phổ biến trong toàn quốc.

Về Đối ngoại, vua Quang Trung sai Ngô Thời Nhậm thảo thư "xin tạ tội" và xin giảng hòa, sai sứ mang thư sang Tàu và nhờ chính sách bang giao khôn khéo nên vua Càn Long thuận cho giảng hòa và sai sứ sang phong vua Quang Trung làm An Nam Quốc vương, truyền sang năm Canh Tuất (1798) sang chầu. Nhà vua chọn Phạm văn Trị làm "Giả vương" sang chầu, vua Càn Long vui nhận cống phẩm, cho người vẽ chân dung Quang Trung làm kỷ niệm. Vua Quang Trung muốn xin lại đất Lưỡng Quảng, nên lo dưỡng uy sức nhuệ để rồi đòi lại đất đai của tổ tiên.

VUA QUANG TRUNG BĂNG HÀ.

Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình vua Quang Trung băng hà. Vua băng hà ngày 29/7 năm Nhâm tý (15/9/1792)." - Sách "La sơn Phu tử" của Hoàng xuân Hãn đưa ra 2 nhân chứng người Âu là Guerard và Labousse đều nói rằng vua Quang Trung chết vào tháng 9/1792 nhằm 15/7 - 15/8 năm Nhâm Tý. Vậy vua băng hà vào tháng 7 năm Nhâm Tý.

Nguyên nhân gây ra cái chết của vua Quang Trung đã trở thành 1 nghi án lịch sử.

- Đại Nam Chính biên Liệt truyện của sử gia nhà Nguyễn bịa ra: "Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú xuân có mạo phạm lăng tẩm của liệt thánh

- Có người bảo nhà vua bị "thượng mã phong", đó chỉ là chuyện hài hước.

- Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu, rõ là lời vu cáo giữa trời!

Thiết tưởng vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên.

Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Định và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: "Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài!"

Liền chuẩn bị đại binh vào đánh, thì nhà vua bị cảm, bệnh mỗi ngày một nặng, nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: "Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Ta chết rồi, các khanh phải đồng lòng phò Thái tử còn nhỏ và sớm lo việc chống giặc, nếu không vậy binh Gia định kéo đến, các khanh không có đất chôn thây..."

Nói rồi băng hà ngày 29/7 năm Nhâm Tý, thọ 40 tuổi, ở ngôi 5 năm. Triều đình mai táng Vua tại phía nam sông Hương.

Thái tử Nguyễn Quang Toản, mới 13 tuổi, lên ngôi là vua Cảnh Thịnh. Cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên quyết đoán.

Vua Thái Đức ở ngôi được 16 năm (1778 - 1793) thọ 52 tuổi.

Nguyễn Phúc Ánh chiếm thành Phú Xuân tháng năm Tân Dậu (1801) và ra Thăng Long bắt vua Bửu Hưng (tức Cảnh Thịnh), Nguyễn Quang Thùy tuẫn tiết. Nhà Tây Sơn mất tháng 6 năm Nhâm Tuất (1802)

Tháng 7 năm Nhâm Tuất Nguyễn Phúc Ánh xưng đế, niên hiệu Gia Long, sau đó đem vua tôi nhà Tây Sơn ra báo thù rất khắc nghiệt và dã man.

LÒNG DÂN ĐỐI VỚI NHÀ TÂY SƠN.

Danh người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ, người đã 2 phen thắng quân xâm lược do Chiêu Thống và Nguyễn Ánh "cõng rắn cắn gà nhà" (Quân Thanh và quân Xiêm), cứu nhân dân Việt Nam thoát vòng nô lệ của ngoại bang, cùng mặt trăng, mặt trời rạng rỡ trên sông núi Việt Nam. Và người Bình Định ghi nhớ cả 3 anh hùng áo vải: Vua Thái Đức, vua Quang Trung và Đông Định Vương.

Bởi vậy, sau khi ngôi từ đường của nhà Tây Sơn ở Kiên Mỹ bị nhà Nguyễn phá hủy thì ngôi Đình làng thay thế vào, dân đem sắc thần để một ngôi miếu khác, còn Đình thì bí mật thờ Ba vua Tây Sơn. Xuân kỳ thu tế, nhưng chỉ vái thầm chớ không đọc văn. Ngoài xuân kỳ thu tế, còn ngày kỵ của Ba Vua vào ngày rằm tháng 11 Â.L. để che mắt vua quan nhà Nguyễn, ngày Kỵ gọi trại là ngày "cúng cơm mới".

VÀI CẢM NGHĨ VỀ "NHÀ TÂY SƠN".

1/ Đồng thời với vua Quang Trung tung hoành, lẫy lừng từ vùng Tây Sơn, Bình Định vào Nam đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm, đuổi Nguyễn Ánh chạy trốn hết Phú Quốc, đến Côn Đảo, ra Bắc diệt chúa Trịnh phò vua Lê, tiêu diệt quân Thanh, ta thử so sánh:

- VIỆT NAM: Quang Trung lên làm vua (1778-1793), đánh quân Xiêm năm 1785, đánh quân Thanh năm 1789

- PHÁP: Napoleon Bonaparte lên làm vua (1804-1815), Cách mạng Pháp phá ngục Bastille ngày 14/7/1789, làm đại úy năm 1793, xâm chiếm gần hết Châu Âu, bị đày 2 lần, mất năm 1821.

- HOA KỲ: George Washington , lãnh đạo Cách mạng Mỹ (1775-1783), Tổng thống đầu tiên (1789-1797).

2/ Chiến thắng Đống Đa chiến thắng quân Thanh rất quan trọng vì các lý do sau đây:

- Đập tan nạn "Rước voi, cõng rắn": lần này thắng quân Thanh, lần trước thắng quân Xiêm.

- Chấm dứt vĩnh viễn sự đô hộ của Trung Hoa.

- Xác định cương vực lãnh thổ của nước VN độc lập, giáp biên giới với Trung Hoa, trước khi các Đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa trên thế giới.

3/ Nhân ngày đầu Xuân, chúng ta cùng nhau thắp nén nhang thơm để tưởng nhớ tới công lao của Tam Kiệt Tây Sơn, nhất là vua Quang Trung Nguyễn Huệ, cùng cất tiếng hát vang lừng các bài Sử ca nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Cao:

- "Thăng Long Hành khúc ca" với câu: Nhị Hà còn kia, Nhị Hà còn đó, lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông.

- "Gò Đống Đa" với câu: Ta đi đi đi đi thăm Gò xưa chất thây, Đống Đa còn chốn đây, Nhắc xương đầy máu xây...


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 06.03.2011 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvwietart.com