TÀI HOA MỆNH BẠC:

ALEXANDER PÚSHKIN

(1799-1837)



    (Kiến Thức Văn Học Nga)


 

Bài 4 .

 

XI
(Tháng 10/1830–Tháng 1/1831)

      Những sáng tác trong mùa thu 1830 gồm rất nhiều bài nổi tiếng như Bi Ca, Lìa Xa Vùng Đất Lạ, Những Vần Thơ Viết Ra Trong Một Đêm Mất Ngủ, Mùa Thu, Những Ác Thần.

Bệnh dịch tả hoành hành khắp vùng khiến Púshkin bị  cầm giữ ở Boldino cho mãi đến đầu tháng 12/1830. Điều ấy hóa ra lại hay. Ông tiếp tục sáng tác Evgény Onégin, kết thúc chương 7 và 8 với những cảm xúc hoàn hảo, rồi lại bắt đầu một chương mới khác. Thi sĩ cũng hoàn thành Căn Nhà Nhỏ Ở Kolóma, một tác phẩm trào phúng diễn tả cuộc sống của tầng lớp dân chúng nghèo trong tỉnh.

Kết quả trong mùa thu 1830 ở Boldino cũng gồm luôn cả  bốn vở kịch ngắn: Buổi Lễ Hội Trong Mùa Dịch Hạch, Gã Keo Kiệt, Mozart và Salieri, Người Khách Lạnh Lùng.

Được viết năm 1830 nhưng xuất bản sau khi tác giả đã qua đời, bi kịch Người Khách Lạnh Lùng (Kamenny Gost’) đã chiếm giữ trong văn chương Nga thế kỷ 19 một chỗ đứng quan trọng. Nó được xếp vào nhóm “những bi kịch nhỏ”, kể lại huyền thoại Don Juan nhưng kết thúc theo chiều hướng vở đại nhạc kịch Don Giovanni của Mozart(9), nghĩa là khác hẳn với cái kết thúc truyền thống của câu chuyện Don Juan. Ở đây, cả hai Mozart và Púshkin đều diễn tả cái chết Don Juan như là kết quả trộn lẫn giữa lòng đam mê và sự gan lì của chính nhân vật.    

Câu chuyện như sau:

Dù  rằng tính mạng đang trong vòng nguy hiểm, Don Juan cũng quyết  định trở lại thủ  đô Madrid với người hầu trung thành Leporello để tìm gặp nàng Laura xinh đẹp mà chàng từng không thành công trong việc đeo đuổi quả tim nàng. Khi đi vào trong một nghĩa địa tại Madrid, chàng nhận biết ra bà quý tộc Anna, vợ góa đang còn trẻ đẹp của một lãnh chúa, hằng ngày vẫn đến khóc lóc bên nấm mộ chồng. Don Juan bèn nẩy ra ý muốn chinh phục bà, nhưng anh hầu Leporello can ngăn chàng không nên làm điều đó.

Trong khi ấy, tại bữa tiệc nhà  Laura có hiện diện Carlos, người ái mộ nàng. Sau khi các vị  khách đã ra về, chỉ còn mỗi Carlos thì  lại là lúc Don Juan xuất hiện. Chàng bèn giết chết địch thủ và buông lời tán tỉnh Laura. Ban đầu Laura cự tuyệt, nhưng cuối cùng cũng chịu khuất phục trước những thệ ước tình yêu của Don Juan và ôm lấy chàng.

Quá  kiêu hãnh với sự chiến thắng mới này, Don Juan đã bỏ đi ra ngoài nghĩa địa và gặp lại bà quý tộc tại đây. Bà này, để kết thúc những tỏ bày dâm dật, đã cho chàng một cuộc hò hẹn tại nhà bà, xa khỏi nấm mộ chồng. Một cách tự mãn, Don Juan quay về phía bức tượng đặt trên mộ vị lãnh chúa và ngỏ lời giễu cợt mời ông ta cùng đến nhà bà quý tộc. Một điểm lạ lùng xảy ra là bức tượng đột nhiên làm dấu hiệu đồng ý nhận lời mời của Don Juan.

Ngày kế tiếp, trong khi Don Juan đang ở trong phòng bà  quý tộc và bà này thì  đang bị rối loạn bởi những lời tán tỉnh của Don Juan để sắp sửa ngã vào tay chàng, đột nhiên cả hai nghe tiếng gõ cửa: bức tượng vị lãnh chúa xuất hiện. Anna ngã ra ngất lịm, còn Don Juan thì kinh hãi tìm đường trốn chạy, nhưng vô hiệu. Bức tượng giữ chàng lại, hỏi rằng có phải chàng đang sợ hãi? Don Juan tìm lại nhanh chóng sự kiêu căng và can đảm của mình, đưa tay ra bắt tay bức tượng. Bức tượng xiết chặt lấy tay chàng cho đến khi chàng chết hẳn.  

Gã  Keo Kiệt (Skupoj rycar), kịch thơ trào phúng ba màn được viết vào năm 1830. Trong màn đầu, chàng trẻ tuổi Albert phàn nàn với ông thầy dạy cưỡi ngựa về tính bần tiện keo kiệt của người cha khiến chàng thiếu thốn những nhu cầu cần thiết và không thể giữ cho xứng đáng địa vị của mình ở cung điện nhà một vị Công tước. Ông thầy bèn giới thiệu với chàng một người Do Thái cho vay nặng lãi. Gã này cho lời khuyên rằng muốn có tiền, Albert nên tìm cách đánh thuốc độc người cha. Tức giận, Albert rượt đuổi gã Do Thái và quyết định thưa kiện lên vị Công tước sự xúi giục này của gã Do Thái.

Trong màn hai, người ta thấy người cha đi xuống hầm tòa lâu  đài để bỏ thêm một nắm vàng vào trong cái tủ  sắt của ông. Cũng nơi  đây, ông già tự ngồi  độc thoại, bộc lộ nỗi lòng mình. (Đó là một trong những trang hay nhất Púshkin đã viết ra). Ông tự nói về cái quyền lực đã được tạo ra từ những bạc vàng châu báu; một thứ quỷ nào đó mê đắm theo cái hầm nhỏ này, đã chế ngự mọi người. Sự ý thức về quyền lực thống trị chi phối ông, sai khiến ông, đã làm ông đau khổ. Trong khi đó, có một mối lo lắng ưu tư gậm nhấm con người ông: “Ông có được tiếp tục giàu có nữa không sau khi đã chết? Con trai ông, gã trai trẻ dại khờ ấy, sẽ làm tiêu tán tất cả tài sản bởi vì nó không biết thế nào là giá trị của sự nắm trong tay mọi vàng bạc ấy, những điều mà ông đã phải trả giá bằng những kiêng cữ mọi thú vui nhục thể, mọi cay đắng khó nhọc, những ý nghĩ thống khổ và những đêm vật vờ trong trạng thái mất ngủ.”

Cuối cùng, ông già hà tiện  ước nguyện, bao giờ chết  đi, linh hồn ông sẽ  lẩn quẩn canh gác trên những cái rương của cải của mình!

Trong màn ba, Albert được tiếp đãi bởi vị  Công tước; vị này hứa với chàng sẽ  cố gắng cảm hóa người cha. Chàng tuổi trẻ  ngồi lùi vào một vị trí  gần đó lúc vừa xuất hiện hình ảnh người cha. Sau khi lắng nghe những lời nằn nì  của vị Công tước xin cho Albert được lui tới cung điện nhà ông ta, thì thoạt đầu, người cha hứa sẽ tìm phương hướng thực hiện điều đó, xong đột nhiên kết thúc bằng những lời tuyên bố rằng con trai ông không xứng đáng với sự quan tâm của Công tước bởi vì đó là một kẻ tồi kém và cũng là một kẻ phạm tội trong việc ước muốn cái chết của cha để hòng chiếm đoạt tài sản.

Với những lời này, Albert đột nhiên xông vào trong phòng và  gọi cha là kẻ nói dối. Người cha bèn ném cái bao tay vào con trai mình. Albert vội vàng nhặt nó  lên, nhưng Công tước giật trở  lại và hạ lệnh cho chàng bước ra khỏi phòng. Cũng cùng khoảnh khắc đó, ông già keo kiệt ngã ra chết ngay.

Mozart và Salieri (Mozart i Sal’eri) là kịch thơ viết năm 1830, xuất bản tại Nga năm 1832, và tại Pháp 1857. Giống như trong những đoản hài kịch khác của nhà thơ, Púshkin miêu tả ở đây một trong những tính chất nổi bật của con người: Lòng ganh tị.  

Dựa theo huyền thoại Mozart đã bị đầu độc bởi Salieri, một nhà soạn nhạc cùng thời, bản kịch thơ tự  nó trở thành một kiệt phẩm trong sự hoàn hảo của thể thức cấu trúc và cũng của sự phân tích tâm lý nhân vật. Nhà thơ không miêu tả lòng đố kỵ theo tính cách thông thường vẫn thấy nơi con người, mà là đưa ra một bi kịch không thể so sánh giữa “tài năng được rèn luyện bằng trọn cuộc đời cần cù siêng năng”, với “thiên tài, điều gợi nên cảm hứng sáng tác cho một con người nhẹ dạ, vô tư”.

Salieri, nhạc sĩ triều đình Áo thời bấy giờ, tài năng tầm thường, đã lợi dụng quyền thế  riêng mà “xem xét kỹ  càng âm nhạc Mozart giống như  đang mổ xẻ khám nghiệm một xác chết” và “kiểm tra từng hợp âm trong các bản đại hoà tấu của nhạc sĩ bằng tính cách khó hiểu của một nhà toán học.” Ông không ganh tị với con người, nhưng là với sự hiện hữu trên thế gian của Mozart mà ngay từ lần đầu gặp gỡ, thứ tình cảm đố kỵ ghê gớm đó đã chiếm cứ lấy ông. Ông kêu gào Chúa, đặt câu hỏi với Ngài: “Công bình ở đâu khi mà với một kẻ thường nhiệt tâm cầu nguyện Chúa và từng hy sinh quên mình cho tình yêu âm nhạc (như ông) vẫn không được Chúa đền bù cho một tài năng vĩ đại, trong khi Ngài lại soi sáng thiên tài ấy trong cái đầu của một kẻ ngây cuồng?… Ôi! Mozart! Mozart!”

Những thế hệ sau, hời hợt vô  tư, đã không biết được giá  trị tài năng của ông thì  hình ảnh Mozart lại càng là  một sự lăng nhục sống động nhất đối với Salieri. Trong khi khúc nhạc Don Juan (của Mozart) bị làm hư đi bởi một tay vĩ cầm già trong một gánh hát rong, thì Mozart cả cười giống như một gã phóng đãng; và khi một kiệt tác mới (của Salieri) được xướng lên cho Mozart nghe thì Mozart lại đàn lại bản ấy một cách say mê, thể như đó chỉ là một bản nhạc nhỏ, không có gì khó khăn cả.

Salieri đau khổ quá độ, nỗi oán hận tuyệt vọng chiếm cứ trái tim ông. Ông nghĩ,  “Mozart phải chết”. Thế  là trong cơn cuồng nộ  của lòng ganh tức, Salieri đã tìm  đến Mozart (khi ấy đang sống trong cảnh cực kỳ nghèo khó, lại bệnh rất nặng), đặt túi tiền trước mặt Mozart để thuê Mozart viết cho ông một bản Requiem Mass (Kinh Cầu Hồn). Mục đích Salieri là muốn rút tỉa hết năng lực sau cùng của Mozart để du nhạc sĩ đến gần cái chết nhanh hơn. Ông ta không bao giờ trở lại nhà Mozart nữa, nhưng cái bóng âm u đó cứ theo đuổi Mozart những đêm ngày tiếp theo.

Bản Kinh Cầu Hồn là kết quả  của một bi kịch định mệnh bị  bao vây bởi lòng ganh ghét. Ngoài ra Mozart, đã gián tiếp xúi giục khêu tức hành động Salieri bởi những lời nói của chính Mozart trong lần gặp gỡ với Beaumarchais: “Salieri là một kẻ có tài, giống như ông và tôi: vàng bạc, tài năng và tội ác đều là những điều làm tổn hại cho con người.” Những lời đại lượng này đã gióng lên như một hình phạt âm thầm cho Salieri. Ông này, (trước đó đã bỏ thuốc độc vào ly nước Mozart) lắng nghe bản Kinh Cầu Hồn với những giòng lệ cứu trợ an ủi: Bây giờ ông có thể khâm phục Mozart mà không còn phải đau khổ nữa; Mozart đã vĩnh viễn ra đi. Tuy nhiên sau cái chết Mozart, có một tư tưởng cứ mãi dày vò tâm hồn Salieri: “Có thể Mozart có lý và chính ta đã không biết ta cũng là một thiên tài? Thiên tài và Tội ác…”.  

Được viết ra trong khoảng thời gian cô đơn trước khi thành hôn với Nathalie, bi kịch Mozart và Salieri đã chứng thực được rõ ràng tư cách ngoại lệ và sức tự chủ vô địch của Púshkin trước những rối loạn tâm tình và ngoại cảnh đang đưa đến với nhà thơ .   

Từ  thuở nhỏ, Púshkin đã luôn luôn tỏ ra thích thú  với những bài ca và các câu chuyện kể từ  các người nông dân mù chữ. Nhà thơ cũng có một cái tai rất thính để nhận định được sự kỳ diệu trong các đoản khúc dân ca. Những Câu Chuyện Kể Của Belkin (Povesti Belkina) (xuất bản năm 1831, nhưng không đề tên tác giả), tác phẩm văn xuôi gồm năm mẩu chuyện: Một Phát Súng, Cơn Bão Tuyết, Người Bán Quan Tài, Ông Chủ Nhà Giây Thép Gió, Cô Gái Nhà Quê, là kết quả của đặc tính này trong con người Púshkin. Những câu chuyện do một vị quý tộc lui về sống trong vùng đồng quê, tên gọi Ivan Petrovich Belkin ghi lại từ những mẩu chuyện rời từ những người kể khác nhau, được Púshkin thuật lại bằng giọng văn đơn giản, trong đó không có các vấn đề thuộc về tâm lý, không có những miêu tả và không cả điều gì có tính chất đáng lưu tâm hay quan trọng. Chúng hoàn toàn bình dị, trong sáng, xuất khởi từ các câu chuyện vặt trong dân gian nhưng được đưa lên hàng nghệ thuật tuyệt mỹ bởi tài năng của một nghệ sĩ bậc thầy. Những câu chuyện kể, cho dù không là tác phẩm hay nhất thì cũng đã chứa chất được rất nhiều nét đặc biệt của Púshkin. 

Chuyện kể  thứ nhất: Một Cuộc Đấu Súng.

Sylvio, nhân vật chính của câu chuyện thứ  nhất là một sĩ quan trẻ, kiêu hãnh, ngạo mạn và có tài thiện xạ. Sự  dũng cảm của anh đã chinh phục  được tình cảm tất cả  trung đoàn nơi anh trú đóng. Tuy nhiên, vào một ngày, sau khi từ chối một cuộc thách đấu, uy danh anh bị sút giảm. Sự thật, Sylvio có một tâm sự bí ẩn: anh né tránh cuộc thách đấu chỉ vì muốn giữ cho tròn mạng sống để thực hiện cuộc trả thù riêng: Trước kia, có lần đối đầu trong một cuộc đấu súng, thái độ hết sức lãnh đạm một cách rất quý phái, sự khinh thường cái chết của địch thủ đã làm tổn thương sâu xa tâm hồn Sylvio. Vì thế khi đến phiên mình bắn, trong giây lát chọn lựa, Sylvio bèn đưa ra đề nghị dành lại phát súng ấy vào một ngày khác. Và bỏ đi.

Thời  gian trôi, khi biết được kẻ thù cũ vừa mới lập gia đình, Sylvio quyết định tìm đến.

(Phần hai của mẩu chuyện được kể lại bởi Bá tước B., kẻ thù cũ của Sylvio).  

Một buổi chiều, Sylvio, súng đã cầm tay, bất thần xuất hiện trước mặt Bá tước tại căn nhà  nghỉ mát ở đồng quê của người này. Lo sợ sự trở về của người vợ, vị Bá tước van nài Sylvio trả thù nhanh lên. Người vợ xuất hiện. Trước mắt nàng, Sylvio nhắm mũi súng vào kẻ thù, tâm trạng thích thú vì đã làm cho nàng đau khổ. Nàng phục xuống chân anh ta, đôi mắt đầy lệ, cất tiếng van nài tha cho mạng sống của chồng. Thế rồi, khi tự xét đoán rằng đã đủ để trả thù cho sự sỉ nhục trước kia, Sylvio hạ súng xuống và biến mất hẳn từ đó. 

Chuyện kể  thứ hai: Cơn Bão Tuyết.

Marie Gavrilovna, một cô gái 17 tuổi, con nhà giàu, tâm hồn lãng mạn. Mặc dù với sự phản đối dứt khoát của cha mẹ, nàng vẫn yêu say mê Vladimia Nicholaivich, một sĩ quan trẻ không có tài sản. Hai kẻ tình nhân đồng ý trốn đi rồi âm thầm làm lễ cưới cùng nhau tại một ngôi làng hẻo lánh tên Gradinov. Vào đêm khởi hành dự định, một cơn bão tuyết dữ dội kéo đến: chàng tuổi trẻ lạc lối. Mãi cho đến gần sáng, chàng mới tìm ra con đường đi đến ngôi nhà thờ ở Gradinov. Cô dâu không xuất hiện. Chàng đâm ra tuyệt vọng, nên đăng ký trở lại trung đoàn chiến đấu biên phòng của chàng, sau đó bị thương nặng trong trận Borodino và chết tại Moscow trước khi quân Pháp dẫm gót giày xâm lược trên đất Nga.

Nhiều năm trôi qua, Marie vẫn sống một mình với mớ  kỷ niệm về Vladimia một cách trân quý. Nhưng cuối cùng nàng cũng chấm dứt sự cô đơn để chấp nhận tình yêu của Đại tá kỵ binh Bourmine, người vừa bị thương trở về sau cuộc thắng trận vẻ vang đẩy lui quân đội Napoléon ra khỏi đất Nga. Song le, vị này luôn luôn có vẻ trầm tư như thể đang ôm trong lòng một điều bí mật nào đó. Cho đến một lúc, anh ta phải thú nhận cùng nàng rằng anh ta đã có vợ… Và anh ta kể, ngày xưa vào một đêm bão tuyết, chiếc xe đưa anh ta và người hầu lạc đến một ngôi nhà thờ. Tại đó, anh ta thấy có một đám cưới đang sắp cử hành, chỉ còn chờ sự xuất hiện của chú rể. Người chung quanh tưởng lầm anh ta là chú rể, kéo ngay vào cuộc lễ. Anh ta cũng không từ chối. Khi vị linh mục bảo hai người hôn nhau, cô dâu bật la lớn: “Không phải anh ấy!” Và ngã ra ngất xỉu. Nhiều năm trôi qua, anh ta cũng không biết cô gái kia là ai, lại cũng chẳng nhớ tên cái làng có ngôi nhà thờ cũ. Người hầu thì đã chết ngoài mặt trận. Vậy là câu chuyện đùa ngày cũ, mãi mãi vẫn là một bí ẩn không giải tỏa được của anh ta.

Nghe xong chuyện, Marie kêu lên: “Anh không nhận ra em là  cô gái ấy sao?” Bourmine vụt quỵ xuống dưới chân nàng. 

Chuyện kể  thứ ba: Người Bán Quan Tài.

Adrien Prokorov, một người khí  chất u sầu buồn thảm, chủ  một cửa hàng chuyên bán quan tài, mới dọn sang một ngôi nhà hắn vừa mới mua. Trong buổi lễ  cưới ở nhà một người hàng xóm, vợ chồng và hai cô con gái của Ariend được mời tham dự. Tại đây, khách khứa nâng ly chúc mừng nhau, rồi lại chúc cho tất cả mọi người mọi thứ khác. Có một vị khách bảo Adrien: “Ông hãy nên uống rượu mừng các khách hàng đã chết của ông đi.” Nổi giận bởi lời đề nghị mà anh ta cho là sỉ nhục mình, Adrien bèn bỏ trở về nhà, định tâm sẽ không mời bất cứ người hàng xóm nào đến dự buổi lễ mừng tân gia sắp tới của anh ta. Thế vào đó, lại chỉ mời “những khách hàng đã chết”. “Các ngài hãy đến cho kịp thời, hỡi các ân nhân của tôi, mời các ngài chiều mai đến dự tiệc ở nhà tôi, nhà có gì, tôi sẽ đem thết đãi hết cho các ngài.”

Ngày kế tiếp, sau khi đóng cửa hiệu, trở  về nhà đương lúc  đêm xuống, gã gan dạ  kia nhận biết trong căn nhà  tầm thường của hắn có  rất nhiều bóng ma kinh khiếp ùa tới vây chung quanh. Tất cả những con ma này gã đều quen mặt vì từng là “khách hàng” của gã. Có một con ma Đại tá vừa mới chết, nói với gã: “Thấy không bác Prokorov, theo lời mời của bác, tất cả chúng tôi đều trỗi dậy để đến đây…”

Khi bình minh đến, gã bán quan tài thức giấc. Nhìn thấy người hầu đang bình thản dọn bữa  ăn sáng, gã mới hay rằng cuộc phiêu lưu với những người chết kia chỉ là  một giấc mộng dữ. 

Chuyện kể  thứ tư: Người Gác Trạm.

Một người đàn ông làm nghề  gác trạm ngựa, đã lớn tuổi, từ khi góa vợ, chỉ sống với đứa con gái, nàng Dounia xinh đẹp. Hạnh phúc cha con kéo dài cho đến một ngày, có một gã Đại úy Khinh Kỵ binh xuất hiện nơi trạm, quyến rũ Dounia bỏ trốn theo gã.

Sau khi theo dấu và tìm ra được kẻ  quyến rũ con gái mình, ông già đã bị gã này la mắng một cách hung dữ. Từ đó, ông sống một mình, gậm nhấm trí óc bởi tư tưởng rằng cô con gái yêu một ngày kia sẽ phải bị gã Khinh Kỵ binh bỏ rơi và tự buộc phải sống một cuộc đời ô uế mất sĩ diện. Cuối cùng, vì buồn sầu mà ông uống rượu nhiều quá, nên chết đi. Theo điều này, người kể chuyện thêm rằng, người dân trong tỉnh đã thấy có một phụ nữ xinh đẹp, ăn vận sang trọng, một lần đến ngồi khóc bên mộ ông già. 

Chuyện kể  cuối cùng: Cô Tiểu Thư Nhà Quê mang tính cách giản dị trong sáng.

Lise, con gái độc nhất của một vị  quý tộc nhỏ trong một tỉnh nọ, tính nết nghịch ngợm hiếu động, ưa bày ra những trò  chơi độc đáo. Nàng phải lòng Alexis, một người cùng tỉnh. Cá tật đặc biệt của Alexis là  mê gái và cứ ưa theo đuổi chòng ghẹo các cô gái nhà quê. Một buổi, để gặp được Alexis, Lise hóa trang thành một cô gái nhà quê, đón đường Alesix. Hẳn nhiên, gặp nàng, Alesix mê tít. Lise bịa tên mình là Akoulina, con gái của một lão thợ rèn.

Như  đã hẹn, ngày hôm sau họ  lại gặp nhau trong cánh rừng. Nhưng do bởi áy náy lương tâm theo hành vi không đoan chính của một cô gái con nhà lành, Lise tuyên bố sẽ không dám đến gặp Alesix nữa. Phần Alesix, thái độ đoan chính của cô gái nhà quê khiến chàng ngạc nhiên nhưng đồng thời lại càng mê mệt theo nàng hơn. Tuy nhiên, cả hai chẳng ai dám nghĩ đến điều kết nghĩa trăm năm; Alesix, do bởi ý nghĩ “dù gì thì chàng cũng không thể cưới một cô gái quê làm vợ.” Lise: bởi biết rõ sự xích mích của hai gia đình và không hy vọng một sự hòa giải.

Nhưng một buổi sáng, tình cờ mà hai ông già –bố của Alexis và của Lise-- chạm trán nhau và hi hữu trở thành bạn của nhau. Cha Lise quyết định mời hai cha con Alesix đến dùng cơm để kết tình thân. Điều này khiến Lise phát hoảng. Nàng xin cha cho nàng được hóa trang trong cuộc tiếp khách ngày mai. Biết tính ưa nghịch của con gái, cha nàng bằng lòng.

Ngày kế tiếp, dù trái tim đã trao cho cô gái nhà  quê Akoulina, con gái bác thợ  rèn, thì trong óc Alesix vẫn mong gặp  được cô Lise mà tiếng đồn về cô đã làm gợi tính hiếu kỳ của chàng. Nào dè xuất hiện trước mặt chàng chỉ là một cô tiểu thư xấu xí, rất đỏm dáng, đeo tóc giả, mặt trét đầy phấn. Alexis không thể nhận ra nàng chính là Akoulina.

Sáng hôm sau, Lise đã có mặt  ở nơi hẹn với Alexis, gợi cho Alexis nói về  tiểu thư Lise; nhưng Alexis chỉ một luận điệu giễu cợt cô ta.

Phần hai ông già, tình bạn ngày càng thêm thắt chặt; và  họ bắt đầu nghĩ  đến điều làm suôi gia của nhau. Một bữa, cha của Alexis nói thẳng ý nghĩ muốn, hoặc là  cưới cô tiểu thư Lise cho làm vợ  chàng, hoặc sẽ truất quyền thừa kế gia sản của chàng nếu chàng từ chối.

Quả  thật Alexis từ chối. Rồi chàng tự  nghĩ đến điều cưới cô  gái nhà quê Akoulina làm vợ  và sẽ cùng nàng tạo dựng bằng chính sức lao động của hai người. Chàng viết thư  cho Akoulina hay quyết định này. Ngày hôm sau, chí đã quyết, chàng hăm hở đến nhà cha của Lise với mục đích từ hôn, định bụng giải thích cho ông rõ ý muốn của chàng. Bởi vì chàng đến bất ngờ không báo trước nên ông chủ nhà không biết, đã bỏ đi chơi từ sáng. Bất thần chàng đối mặt với Lise (nàng Akoulina nước da bánh mật của chàng!) đang ngồi bên thềm cửa sổ đọc lá thư chàng vừa gửi hôm qua, chăm chú đến nỗi không nghe ra tiếng chân bước vào nhà của chàng…

Độc giả có thể tưởng tượng được cái kết cuộc của câu chuyện. 




... CÒN TIẾP ...

_________________________________________________










© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 24.02.2011.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .