MÙA XUÂN BẤT TẬN CỦA ĐẠO PHẬT





Trong các mùa thì Mùa Xuân là mùa đẹp nhất. Không chỉ là thiên nhiên với hoa tươi đủ màu khoe sắc, mà còn là môi trường cũng được giữ cho trong lành, sạch sẽ nhất. Cảnh vật cũng được chăm chút hơn, và hơn hết là những ngày đầu Xuân thì con người với trang phục sang trọng nhất, cung cách cũng lịch lãm hơn, chào đón nhau bằng những nụ cười thân thiện và những lời chúc tốt đẹp nhất dành cho nhau… Mọi người tạm dẹp qua một bên những tính toán hơn thua, những mua bán lời lỗ, bắt tay trang hoàng nhà cửa để cùng nhau chào đón những ngày khởi đầu cho một năm mới. Hầu như tất cả những gì tốt đẹp, trang trọng nhất, mọi người đều dành cho những ngày đầu Xuân. Trong 3 ngày Tết, mọi người đều hài lòng thấy mình được thực sự nhẹ nhõm, an lành bởi mọi việc làm, lời nói đều được thận trọng, tránh để xúi quẩy cho cả năm… Không phải mỗi người không đủ khả năng diện cho mình bộ cánh mới hay không thể tự dọn dẹp trang hoàng nhà cửa trong những ngày khác. Nhưng vì đó là những ngày mà theo tập tục từ ngàn đời, cả nước, cả dân tộc đồng lòng hưởng ứng nên trở thành một ngày mang ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt, mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.

Rõ ràng, với một chút cố gắng, mọi người đều được hưởng những ngày Xuân trong no ấm, hạnh phúc, vui vẻ, hòa đồng với nhau. Chỉ cần sợ "rông" cho 365 ngày thôi mà mọi người đều đối xử với nhau một cách hòa nhã, lịch sự mà ở ngày thường rất hiếm gặp! Trong khi đó, cách đây đã hơn 2.550 năm, Đạo Phật đã gióng lên hồi chuông cảnh báo là với những gì mỗi người suy nghĩ, nói năng, hành động, không chỉ theo ta một hay nhiều năm, mà là vô lượng đời. Đó chính là Nhân Quả luôn theo dõi con người như bóng theo hình, có trốn đi sang kiếp nào khác cũng không thoát.

Chúng ta đã hết sức nhiệt tình để chuẩn bị ba ngày Xuân cho gia đình, còn để chuẩn bị cho kiếp sau thì ít người nghĩ tới, nên vì thế đôi khi đã hành động bất chấp Nhân Quả chỉ vì những món lợi nhất thời trước mắt mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao, đến khi bị giáng trả mới giật mình thì đã quá muộn!.

Thật vậy, còn sống là còn phải đối mặt với những cái Vui, Cái Buồn. Tâm lý chung là mọi người đều muốn kiếm cái Vui, tránh cái Buồn, và cái Vui thường gắn liền với cái vừa ý, cái ĐƯỢC, cho nên đôi khi nhiều người chỉ nghĩ đến cái Được của bản thân mình mà quên đi đã làm tổn hại cho người khác, để rồi sau đó, dù cho không ai biết, trong sâu thẳm nhiều khi họ cũng tự dày vò, ăn năn, hối hận! Những cái VUI này không ngoài thỏa mãn Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý là những thứ Có Tướng, nên theo quy luật, nó đến rồi sẽ đi, dù có cố giữ đến mấy cũng không tồn tại mãi được. Nó lại luôn thay đổi tùy theo từng giai đoạn của cuộc đời mỗi con người. Lúc còn trẻ, sức khỏe dồi dào thì có thể là bộ cánh đẹp, những phương tiện vật chất, những cách thể hiện bản thân "sành diệu", ít nhiều mang tính chất hơn thua!. Hoặc là những chuyến đi phiêu lưu mạo hiểm để thử thách bản thân và chinh phục thiên nhiên. Càng khó khăn càng thấy hứng thú. Những cuộc vui trong tiếng nhạc rộn ràng, sôi nổi. Những chốn đông người với nhiều màu sắc. Nhưng khi tuổi đã nhiều thì chuyển về những niềm vui tao nhã, trầm lặng, hướng về tinh thần nhiều hơn, như chơi hoa kiểng, hội họa, thơ văn, sưu tầm sách vỡ, cổ vật vv... Tóm lại là những thứ thỏa mãn cho nhu cầu của con người. Càng có được nhiều thì càng thấy niềm vui nhân lên. Nhưng cứ mỗi lần có được thì lại muốn có thêm, nên cái Vui chẳng bao giờ trọn vẹn!

Chính vì vậy mà khi nghe trong Đạo Phật nói có cái THƯỜNG LẠC nhiều người không thể hiểu nổi. điển hình là Trong PHÁP BẢO ĐÀN KINH, có Thầy Tăng tên Chí Đạo đã hỏi Lục Tổ:

"Kẻ học này từ khi xuất gia xem Kinh Niết bản có trên 10 năm mà chưa hiểu ý, xin Hòa Thượng chỉ dạy". Lục Tổ hỏi: "Có chỗ nào mà người chưa hiểu"? Ông ta trả lời: "Bạch , Các sự hành động của tâm đều vô thường, ấy là pháp sanh diệt. Sanh diệt diệt rồi, vắng lặng là vui". Trong các điều ấy đệ tử có chỗ ngờ". Tổ hỏi: "Bởi cớ nào mà ngươi sanh nghi?" Bạch: "Cả thảy chúng sanh đều có hai thân là Sắc Thân và Pháp Thân. Sắc thân là Vô Thường, có sanh, có diệt. Pháp Thân là thường còn, vô tri, vô giác. Kinh nói "Sanh diệt diệt rồi, vắng lặng là vui". Chẳng biết thân nào vắng lặng, còn thân nào hưởng sự vui? Nếu là Sắc Thân thì lúc sắc thân tiêu diệt, bốn chất rả tan, toàn nhiên là khổ, mà Khổ thì không thể nói là Vui được. Còn nếu là PHÁP THÂN, thì Pháp Thân là vắng lặng, tức là giống cỏ, cây, ngói, gạch. Thế thì cái chi hưởng sự Vui? Lại Pháp Tánh là cái thể của sự sanh diệt, Năm Uẩn (Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức) là cái dụng của sự sanh diệt. Một cái Thể năm cái Dụng, sanh diệt là thường. Sanh thì do Thể mà khởi ra Dụng. Diệt thì thân dụng về Thể. Nếu chịu sanh trở lại , tức là loài hữu tình, tâm niệm chẳng dứt, chẳng tắt. Còn nếu chẳng chịu sanh trở lại, thì về cảnh tịch diệt đời đời, đồng với vật vô tình. Thế là các pháp đều bị Niết bàn ngăn chế còn chẳng đặng sanh, có gì là Vui?

Sư nói: Nguơi là con nhà Phật sao lập theo chỗ tà kiến của ngoại đạo mà bàn qua phép tối thượng thừa? Cứ theo chỗ ngươi nói thì ngoài cái Sắc Thân riêng có cài Pháp Thân, lìa chỗ Sanh Diệt cầu nơi Tịch diệt, lại nghĩ cảnh Niết Bàn là thường vui, nói rằng có cái thân thọ dụng. Ấy là cố chấp tiếc thương chỗ sống chết, quá nhiễm cái vui sướng thế gian.

Ngươi nay phải biết, Phật thấy cả thảy các người mê muội, nhận Năm Uẩn Hòa Hiệp là Tướng của Thân Mình. Phân biệt cả thảy các pháp là các tướng của thế gian ở ngoài, ưa sống, ghét chết, niệm niệm đổi dời, chẳng biết sự mộng huyển giả dối, luống chịu sanh tử luân hồi, lấy cảnh Thường Vui Niết Bàn đổi làm trạng tướng khổ não và trọn ngày chỉ cầu ở ngoài. Vì đó Ngài mới động lòng thương xót mà chỉ cái Thiệt Vui Niết Bàn, trong một sát na không có tướng sanh, không có tướng diệt, lại cũng không có sự sanh diệt gì mà nên tắt dứt. Ấy là cái tâm vắng lặng hiện ra rõ ràng, cũng không nghĩ tới chỗ hiện ra. Ấy gọi là Thường Vui.

Sự Thường vui ấy không có thọ cảm, cũng không có chỗ chẳng thọ cảm, há có cái tên một thể năm dụng sao? Hà huống lại nói Niết Bàn ngăn chế các pháp khiến cho đời đời chẳng sanh. Ấy là nhạo Phật chê Pháp vậy".

Thầy Tăng này cũng có đọc Kinh, nhưng hiểu lầm ý Kinh. Thầy cho rằng mỗi con người có hai phần: Sắc Thân, tức là cái thân Ngũ Uẩn phải chịu sự Sinh Diệt, và Pháp Thân là cái vô tri vô giác. Nếu cái Thân đã diệt, cái Pháp Tánh thì vắng lặng thì cái gì hưởng sự Vui?

Những sự hiểu lầm như thế ta thấy nhan nhản trong giới tu hành từ xưa đến nay. Họ có thể bỏ nhà cửa, tiền bạc, danh vọng thế gian, nhưng lại mơ màng cái Danh Uy của con đường tu hành nên vẫn chưa rời được đối đãi là những Pháp thuộc về hữu tướng. Nghe nói Đạo Phật là Độ Khổ thì họ nghĩ ngay đến cái được sướng. Nghe nói cảnh Niết Bàn họ bèn nghĩ ngay đến cái hưởng thụ của đường tu!

Thật vậy, con người quen sống với Khổ, Vui, Sống, Chết, Được, Mất, Hơn, Thua, Có, Không… của những gì Mắt thấy, Tai Nghe, Thân va chạm, Ý thích, ghét trước kia. Không biết rằng có một tình trạng an ổn, thanh tịnh, như như, không còn Khổ, Vui... Đạo Phật gọi là "Viên Như Ý Bửu Châu" mà người tu hành thanh lọc Cái Tâm sẽ gặp được. Gọi là "Như Ý" bởi không còn ham thích, đòi hỏi, so sánh, tìm cầu, như người đã có đầy đủ tất cả.

Cái "Được" của người tu không phải là "bỏ cái nhỏ để được cái lớn" như có vị Hòa Thượng rất có uy tín trong đạo Phật đã dùng đó để khuyến tu! Như vậy rất dễ sinh ra hiểu lầm để người đối phó với thế gian không xong, lại hướng về con đuờng tu hành với ý tưởng có ngày sẽ được như Đức Thích Ca, hay ít ra cũng cầm đầu Tăng chúng. Thu nạp được nhiều đệ tử. Cất được nhiều kiểng chùa to, đẹp để đời! Chứng tỏ là họ chưa biết mục đích tu hành chỉ là để đạt được một sự an lạc, nhẹ nhàng, gọi là THƯỜNG VUI trong Tâm, do Xả hết những cái Chấp Tướng mà có được. Cái Được đó cũng không phải là cái Thân tỏa hào quang, không còn ốm đau bịnh hoạn, dí lửa vào cũng không biết đau, biết trước, biết sau..hay 32 tướng tốt với "chiếc lưỡi rộng dài, trùm phủ tam thiên"...

Nếu có đọc kỹ chính Kinh ta sẽ thấy: Đức Thích Ca đã sống một cuộc đời hết sức bình thường như tất cả chúng ta. Lúc chưa phát tâm tu hành thì cũng có vợ, có con. Khi vào tu rồi thì cũng nhầm lẫn học với ngoại đạo đến 6 năm. Khi tìm được Con Đường Giải Thoát, mở ra giảng dạy cho tới lúc nhập diệt thì Ngài vẫn cùng đệ tử đi khất thực, vẫn tự rửa bát, tự trải tọa cụ để ngồi, không hề tỏ ra là giáo chủ. Cái Thân Ngài cũng bịnh hoạn, nhiều lần Ngài Anan phải mang bình đi xin sữa, và cuối cùng Ngài cũng chết, cũng trà tỳ, đâu có gì khác mọi người? Pháp của Ngài giảng dạy là PHÁP GIẢI THOÁT, để cho những người học, hành theo đó khi sống cũng như lúc chết không còn bị những cảnh Khổ hành hạ, được như Hoa Sen, dù sống trong bùn, nhưng vẫn tinh khiết, không bị bùn làm cho ô nhiễm. Người tu Phật hành trì miên mật không phải là để trở thành Thần Linh hay Thánh Nhân, mà để sống đúng như một người tốt, xứng đáng một kiếp "Nhân thân nan đắc". 32 Tướng Tốt, 80 vẻ đẹp là để khuyến thiện. "Chiếc lưỡi rộng dài bao trùm tam thiên", là ý diễn tả những gì Phật Thích Ca thuyết ra đều là chân thật, dù qua bao đời cũng không bị đào thải mà thôi. Bởi nếu Phật có chiếc lưỡi to đến như vậy, thì mâu thuẫn với lý thuyết của Đạo Phật, vì Phật là Vô Tướng! Tất cả chỉ vì lớp người đi trước đã "Y Kinh giải nghĩa", nên biến Đạo Phật từ Nhất Thừa: Tự tin, Tự Độ, tự Giải Thoát thành Nhị Thừa, Quyền Thừa, làm cho lớp sau thiếu kiểm chứng dễ sinh hiểu lầm, không theo hướng dẫn để tu hành được Giải Thoát, lại thấy Phật là một vị Thần toàn năng nên chỉ thờ phụng Phật để cầu xin mà thôi!

Tóm lại, Cái THƯỜNG VUI của Đạo Phật là do Xả những cái Chấp, do dứt trừ Tham, Sân, Si, do Giới, Hạnh mà tìm được. Cái này không hình tướng, không sinh diệt, không khổ vui, sống chết, không cao thấp hơn thua nên không còn phiền não, là nghĩa của NIẾT BÀN. Xem tượng Đức Di Lặc ta thấy: đó là một ông mập mạp khoe rốn, cười thoải mái với 6 đứa trẻ đeo quanh người, tượng trưng cho người tu đã điều phục được LỤC CĂN. SÁU TÊN GIẶC giờ đây chỉ là sáu đứa con nít, không còn phá phách làm cho người tu phải phiền não nữa và nụ cười đó tượng trưng cho Mùa Xuân Bất Tận mà người quay về với cái Chân Tâm của bản thân sẽ có được. So với Mùa Xuân của trần gian thì Mùa Xuân đó không cần ngoại cảnh hỗ trợ, không cần phải có sự tham gia rầm rộ của nhiều người. Không cần mượn hoa cỏ, âm thanh, màu sắc, cũng chẳng đợi thời tiết đến mới diễn ra.

Cũng giống như người đời, muốn có được Mùa Xuân thì mọi người phải chung tay để làm ra thì Mùa Xuân Thường Hằng của Đạo Phật cũng thế. Cũng phải gây tạo Nhân lành, phải kiên trì, phải học, phải tu sửa, phải Xả nhiều thứ mới có được, và được thực hiện nơi Cái Tâm của mỗi người.

Khác với những tôn giáo có lời hứa hẹn của giáo chủ: "cứ đăt trọn niềm tin, giữ đúng các giáo điều thì sẽ được ban ơn khi sống, lúc chết được về nước của các vị". Đạo Phật lại dạy Tự Độ. Chỉ riêng hai từ đó cũng đủ nói lên tất cả những cầu xin, nương tựa... không phải là Đạo Phật chân chính. Vì thế, nếu ta thấy những ai còn màu mè sắc tướng, vọng ra để tìm bên ngoài, tạc tượng cho to, cho đẹp để chiêm bái, khấn vái, cầu xin... thì ta có thể hiểu được là họ chưa ý thức được rằng cái THƯỜNG LẠC chỉ có ở nơi cái tâm rỗng rang thanh tịnh, và phải hành trì mới có. Không phải do vật chất đầy đủ, hoàn cảnh thuận lợi, cũng không phải do cầu xin mà được ban cho vậy.


______________________________________________

(1/2010)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 24.02.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .