Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị
Một Sĩ Phu Yêu Nước Thương Dân




Theo hồi ký của ông, thì ông là con thứ trong gia đình, sinh giờ Ngọ, ngày 4 – 11 năm ất Sửu (24 – 12 – 1805) trong một gia đình nhà nho bần bạch ở xã Tam Đăng, tổng An Chung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định)

Ngay từ thưở thiếu niên, ông đã chuyên chú việc học hành khoa cử, lên 8 tuổi Phạm Văn Nghị bắt đầu đi học, 21 tuổi đỗ tú tài, 32 tuổi đỗ cử nhân, 33 tuổi trúng nhị giáp tiến sĩ (tức Hoàng giáp). Điều mà ông đã dốc phần lớn tâm lực và tất cả hào hứng say sưa trong cuộc đời mình là nghề dạy học. Là một nhà giáo, lúc nào ông cũng canh cánh bên lòng là : “Báo ơn nước chỉ còn có việc dạy học, đào tạo nhân tài cho đất nước”. Học trò của ông kể có hàng nghìn, nhiều người không những đỗ đạt cao mà còn có danh vọng sự nghiệp nổi tiếng như : Tam nguyên Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Đình nguyên tiến sĩ Đỗ Huy Liệu, Tống Duy Tân, Vũ Hữu Lợi, phó bảng Lã Xuân Oai, Đặng Ngọc Cầu….

Phạm Văn Nghị là một nhà nho có chí khí lớn, một nhà thơ yêu nước nhiệt thành. Trong hơn 600 tác phẩm thơ văn, câu đối, tự thuật của ông đượm tư tưởng tâm hồn tình cảm của một con người yêu nước thương dân và lạc quan tin tưởng vào lẽ phải

Ông còn là một sĩ phu yêu nước.Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vũ trang xâm lược Việt Nam.Khi đang làm đốc học Nam Định, bằng quan điểm và hành động, Phạm Văn Nghị đã tự xếp mình vào háng ngũ chủ chiến, kiên quyết kháng Pháp. Ông nói : “Hoà với Pháp là một sai lầm”. Năm 1859, ông đã viết “Trà Sơn kháng sớ” (sớ chống giặc) gửi triều đình xin tổ chức đội quân tình nguyện vào Nam chống Pháp. Ông đã dẫn đội nghĩa dũng 365 người từ miền Bắc tiến vào miền Nam.Ngày 21-3-1860, vào tới HUế thì vua Tự Đức đã thoả hiệp với Pháp nên lệnh cho ông đưa đoàn quân quay trở về. Ông còn chỉ huy nhiều trận chiến đấu rất quyết liệt với Pháp và bọn tay sai giành thắng lợi như : Năm 1871, khi đã 67 tuổi, ông vẫn đem dân binh đi tiễu phỉ ở cấc tỉnh (Hải Dương, Quảng Yên). Chiều 10-12-1873 ông chỉ huy đánh tàu chiến Pháp ở cửa sông Độc Bộ. Ngày 25-12-1873, ông dẫn 100 dân binh lên lập căn cứ An Hoà, chuẩn bị lực lượng chiếm lại thành Nam Định.Sau 3 ngày, hơn 7000 người đã tới ứng nghĩa.Tháng 3-1874, Pháp rút khỏi Bắc Kỳ ông mới cho giải tán nghĩa quân An Hoà, thật là :

Vì quốc báo ân hiệp kháng Tây nhung bình quốc nạn
Bảo dân cao khí phách anh tài Nam Việt cứu dân sinh

Ông mất ngày 11-1-1881 (12 tháng Chạp năm Canh Thìn), tại Tam Đăng, thọ 76 tuổi, Phó bảng Đỗ Huy Uyển – người bạn vong niên của ông đã làm bài văn dài viếng ông, trong đó có câu: “ Như tiên sinh đó là bậc khác thường trong những người khác thường ở đời. Lúc làm thầy thì ôn hoà, khi làm tướng thì oanh liệt, đến lúc việc Cần Vương bắt đầu thì lời lẽ, khí tiết khẳng khái, lúc bỏ quan thì ung dung thanh thản “

Nhân dân Sĩ Lâm, nay là xã Nghĩa Lâm huyện Nghĩa Hưng (Nam Định) đã xây đền thờ ông và những người có công khai hoang lấn biển lập ấp từ khi ông còn sống. Đền đã được Bộ Văn Hóa - Thông tin cấp bằng Di tích Lịch sử van hoá ngày 14 - 9- 1989.Hằng năm đến ngày rằm tháng Giêng, nhân dân ở đây tổ chức kị ngài cùng với ngày truyền thống của xã Nghĩa Lâm để nhớ về một nhà giáo, nhà thơ, một sĩ phu yêu nước thương dân

. Đăng ngày 18.02.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .