THOMAS HUNT MORGAN

(1866- 1945)

GIẢI NOBEL Y HỌC 1933

Thomas Hunt Morgan sinh ngày 25 tháng 9 năm 1866 ở Lexington, bang Kentucky nước Mỹ trong một gia đình danh gia vọng tộc. Cậu bé Thomas thích thiên nhiên, sưu tầm trứng chim và xương hóa thạch. Năm 1887, Morgan tốt nghiệp cử nhân khoa học ở Đại học Kentucky và vào làm ở Phòng thí nghiệm vùng biển ở Annisquam. Năm 1890, ông bảo vệ tiến sĩ về bào thai học của con nhện biển ở Đại học Johns Hopkins. Thomas Morgan thấy phương pháp mô tả và so sánh ở ngành Hình thái học và Sinh lý học có thể cung cấp cách giải thích cơ chế di truyền mà lâu nay con người bàn cãi nhiều.

Từ xa xưa, con người nhận thấy ở mọi loài: con cái giống bố mẹ. Theo nhà tiến hóa Darwin, để có thể tồn tại trong môi trường mỗi loài phải thay đổi hình thái, chức năng. Những thay đổi ấy được truyền lại cho thế hệ sau. Năm Morgan chào đời (1866) là năm Gregor Mendel công bố về di truyền ở cây đỗ. Hơn ba mươi năm sau, Thomas Morgan nghiên cứu di truyền ở động vật.

Ở đầu thế kỷ 20, ngành sinh học tế bào phát triển, sự phân chia tế bào với sự xuất hiện các thể nhiễm sắc có thể nhìn thấy qua kính hiển vi. Trong thời gian nghiên cứu di truyền ở Khoa Sinh vật Đại học Columbia (1910-1928), Morgan sử dụng phương pháp thống kê và phương pháp hiển vi. Đối tượng nghiên cứu là con ruồi dấm: một loài dễ nuôi, sinh sản nhanh, dễ phân biệt đực cái.

Cùng với các học trò là C. B. Briges, A. H. Sturtevant, H. J. Mũller, ông làm cho di truyền học đạt được những bước tiến lớn. Bằng các thực nghiệm trên hàng chục vạn con ruồi dấm (Drosophila melanogaster), ông phát hiện ra chúng có tới bốn trăm đột biến và chia ra bốn nhóm di truyền riêng biệt, tương ứng với các gen nằm trên cùng nhiễm sắc thể, làm sáng tỏ cơ chế tế bào của các định luật Mendel và cơ sở di truyền của sự đào thải tự nhiên. Nhờ vậy, ông lập được bản đồ phân bố gen trên các thể nhiễm sắc. Giáo sư động vật học thực nghiệmTrường đại học Columbia. Morgan đã tạo ra một kỷ nguyên mới trong di truyền học. Ông xây dựng thuyết di truyền nhiễm sắc thể và đề ra khái niệm về gen.

Những công trình khoa học của Thomas Hunt Morgan đồng thời là những sách kinh điển về di truyền.

1. Cơ sở vật chất của tính di truyền (The Physical Basis of Heredity, 1919)
2. Di truyền của ruồi dấm (The Genetics of Drosophila, 1925)
3. Lý thuyết về gen (The Theory of the Genes , 1926)
4. Phôi học thực nghiệm (Experimental embryology, 1927)
5. Cơ sở khoa học của tiến hóa (The Scienntific Basis of Evolution, 1932)
6. Phôi học và di truyền học (Embryology and Genetics, 1933)

Thomas Hunt Morgan nhận giải Nobel y học năm 1933

BÀN TAY CỦA TẠO HÓA

Những công bố về nghiên cứu khoa học của Thomas Morgan đồng thời là những sách kinh điển về di truyền. Người ta ví việc tìm ra yếu tố di truyền trên nhiễm sắc thể của Morgan giống như nhà thiên văn học Leverrier tìm ra sao Neptun. Thomas Morgan được coi là cha đẻ của Di truyền học. Phát minh của Morgan cho thấy, tạo hóa sử dụng cùng một cơ chế cho con người cũng như cho sinh vật cấp thấp (ruồi dấm).

Viện hoàng gia Karolinska đánh giá cao đóng góp của Thomas Morgan:
- Những nghiên cứu về di truyền ở người đã sử dụng nhiều đến các khảo sát của Morgan. Không có chúng thì gen học cũng như học thuyết ưu sinh ở người hiện nay không thực hiện được.









© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 11.02.2011 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com