CẢM NGHĨ VỀ TIỂU THUYẾT TỰ THUẬT
“NHỮNG NGÀY THƠ ẤU” CỦA NGUYÊN HỒNG











Nguyên Hồng (1918-1982) xuất thân từ vùng đất văn học thành Nam, hiện diện rất sớm trên văn đàn Việt Nam thời tiền chiến với hai tác phẩm đầu tiên làm xôn xao dư luận: Bỉ vỏ (1936) và Những ngày thơ ấu (1938). Ông sáng tác văn học đến tận những năm cuối đời. Tác phẩm cuối cùng ông viết còn dở dang là tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế mô tả cuộc kháng chiến chống Pháp của vị anh hùng Hoàng Hoa Thám. Bằng nghị lực, ý chí mạnh mẽ và những cống hiến văn học có giá trị nhân văn, ông xứng đáng với danh hiệu một nhà văn hiện thực của thời đại.

Trong các di sản văn học của ông có những tác phẩm tuy không đồ sộ về quy mô nhưng lại khắc sâu vào tâm trí người đọc những ấn tượng và những niềm xúc động. Cuốn truyện tự thuật Những ngày thơ ấu là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng sáng tạo mà người xưa bảo là “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Tập truyện vẻn vẹn chỉ có khoảng một trăm trang, nhưng từng trang, từng dòng đã lay động lòng người biết chừng nào! Có thể nói những điều tác giả đề cập đã trào ra ngoài phạm vi trang giấy. Chúng ta hãy lần lượt phăng ra những điều chất chứa ấy.

Mở  đầu tác phẩm là hình ảnh một gia đình bất hạnh. Cha mẹ cậu bé Hồng lấy nhau do “bài tính”  của hai gia đình. Giữa họ, trước và sau khi kết hôn không hề có tình yêu. Một gia đình như vậy là nấm mồ chôn sống hai con người mà tội tình nhất là người phụ nữ. Hai đứa con, một trai một gái, chỉ là “kết quả” của hai đêm nằm chung miễn cưỡng nhằm thực hiện mục đích “nối dõi tông đường” mà dòng họ yêu cầu!

Không hạnh phúc và không lối thoát, người đàn ông mau chóng trở thành một kẻ chán đời, rốt cuộc  “bán linh hồn cho nàng tiên nâu”, sống cũng như chết. Một đau khổ vô cùng tận dồn hết lên người đàn bà tràn đầy sinh lực. Nguyên Hồng tả mẹ bằng mấy nét đặc trưng: gò má ửng hồng, cặp mắt sáng, khi cảm xúc dạt dào đôi mắt trở nên… sáng quắc, làn môi tươi thắm, và thân thể nồng nàn một làn hương thơm tho lạ thường.

Ngòi bút của Nguyên Hồng sớm đạt tới “chủ  nghĩa nhân bản” khi mô tả những phút giao tình mê say qua ánh mắt của một người đàn bà (con người đích thực chứ không phải thứ hình nộm của những giáo điều tẻ nhạt) với người cai kèn. Người đàn ông này đã bằng tia sét ái tình mà nhận thấy ở người đàn bà trẻ đang dắt đứa con kia cả một trời hạnh phúc. Những ánh mắt giao nhau, gò má người đàn bà ửng lên, hơi thở nàng hổn hển, và phía đằng kia, tiếng kèn trỗi lên thổn thức… Đó là tiếng kêu gọi của hạnh phúc nhân bản bay lượn trên vũng sình lầy của một cuộc đời đang rữa nát.

Tuy khát khao hạnh phúc như vậy nhưng nét đặc trưng của người đàn bà (tên nàng là Lộc) vẫn là  đức hạnh cao đẹp. Không yêu chồng nhưng chị vẫn  ứa nước mắt khi thấy chồng “ôm ngực ho và rữ  rượi nhổ”. Chị cắn răng chịu đựng bao cay đắng, không nói một lời oán trách. Chị bao dung tất cả tội lỗi của người khác… Trong thế giới của những kẻ vị kỉ chắc không có chị.

Nhưng có lẽ sắc sảo hơn hết, Những ngày thơ ấu mô tả chính xác bản chất tâm hồn trẻ thơ thông qua cậu bé Hồng. Đó là một đứa bé thông minh, lanh lợi, tâm hồn trong sáng và nhạy cảm nhưng lớn lên trong một gia đình bất hạnh. Người đọc khó cầm nổi nước mắt khi nghe một đứa trẻ cô đơn, đang bị cả cuộc đời vùi dập và sỉ nhục, kêu lên nỗi thèm khát mẹ và cầu cứu mẹ giúp mình: “Giá ai cho tôi một xu nhỉ? Chỉ một xu thôi! Để tôi mua xôi hay bánh khúc. Vừa đi vừa cắn, ngon xiết bao! Không! Không ai cho tôi cả, vì người ta có phải mẹ tôi đâu!”. Thiếu tình thương yêu và che chở của cha mẹ, đó là nỗi bất hạnh lớn nhất của bất cứ đứa trẻ nào trên thế gian.

Chúng ta liên tiếp chứng kiến tấn bi kịch của cậu bé  Hồng: để có thể sống được, cậu phải tự  rèn luyện mình thành một “chuyên gia đánh đáo ăn tiền”. Cậu bị họ hàng bỏ mặc cho đói rét thảm thương, bị đánh đập, và không gì làm tâm hồn cậu đau đớn bằng khi cậu bị sỉ nhục: “Hồng ơi, bố mày chết đi, nhưng còn mẹ mày nó dạy mày. Cầm bằng mẹ mày đánh đĩ hay theo giai bỏ mày lêu lổng thì đã có chúng tao!”. Chưa đủ, cậu bé này còn bị những cực hình ở nhà trường. Ông thầy, vốn mang thái độ khinh thị với đứa trẻ “đầu đường xó chợ”, một lần thấy cậu bé Hồng nói “mặc kệ mày” với thằng bạn ngồi cạnh, lại tưởng là nói mình. Thế là ông ta thượng cẳng chân hạ cẳng tay đánh đập và chửi mắng cậu vô cùng tàn nhẫn. Sau đó ông bắt cậu quỳ ở góc lớp hết ngày này sang ngày khác, đến nỗi cậu bé đau đầu gối hết chịu nổi.

Người đọc tự hỏi: tại sao con người lại có thể  đối xử với nhau độc ác đến như vậy? Cái ác tồn tại trong xã hội là một hiện thực và nó không chừa trẻ em. Hồi kí của Nguyên Hồng chính là một tiếng chuông đánh thức lòng “nhân” ở con người bằng cách cho họ nhìn thấy tận mắt những thống khổ của một đứa trẻ vô tội khiến họ thương cảm để rồi quay lưng lại với điều ác.

Thế  nhưng sẽ là lầm lẫn nếu chúng ta chỉ thấy hồi kí này là một màn đêm đen tối. Xưa nay trong đêm tối của cuộc đời, chỉ có những linh hồn của con người là chói sáng. Hai nhân vật chính – Hồng và chị Lộc (mẹ cậu) – khác nào những vầng trăng sáng bừng trên nền đen tối của thế gian. Hai mẹ con đã đứng trên trận tuyến của những người bảo vệ nhân phẩm, đối lập với cái xã hội vô nhân đạo kia. Hai mẹ con là những mầm cây lành mạnh, bất chấp mọi sự dập vùi, ngày càng tươi tốt. Người mẹ với thiên chức, với tình thương vô bờ bến dành cho con, là tượng trưng của hạnh phúc đầm ấm nhất. Còn cậu bé, đời cho là “lêu lổng” và “hư hỏng” thì lạ thay, trước mắt chúng ta lại chính là một “tiểu anh hùng” rất đáng yêu. Rõ ràng tác phẩm văn học này đã nêu bật vẻ đẹp chân chất của những con người cùng khổ trong bối cảnh một xã hội trì trệ đầy dẫy khổ đau và con người đối xử với nhau còn nhiều điều tàn nhẫn. Xã hội ấy nhất định phải được thay thế bằng một mô hình xã hội nhân đạo trong đó không còn thấy nhan nhản những bi kịch chua xót của con người.


      [Bài đã đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ  số 242-243 (2003)]




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ SaìGòn ngày 08.02.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com