Đầu Thế Kỉ XX

Á Nam Trần Tuấn Khải




Không ít ai là không thuộc câu thơ đã thành ca dao : 

             "Rủ nhau lên núi Kì Lừa 

         Lên thành nhà Mạc, lên chùa Tam Thanh 

               Hang sâu đá vẫn còn xanh 

         Hỏi nàng Tô Thị chung tình với ai ?" 

               " Rủ nhau xuống bể tìm cua  

         Đem về nấu quả me chua trên rừng 

                   Em ơi chua ngọt đã từng  

          Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau"

Đó là thơ của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải, người cùng với Tản Đà ( Nguyễn Khắc Hiếu ) xây dựng nền văn học quốc ngữ đầu thế kỉ XX. " Nếu thi ca Tản Đà nổi bật sự diễm lệ, đa tình thì thơ văn của Á Nam gắn chặt với vận mệnh Tổ Quốc.Lúc quân thù còn dày xéo thống trị giang san nên giọng thơ của cụ vừa bi thiết, vừa trầm hùng thiết tha với sự độc lập của dân tộc.Nhưng chưa tìm được giải pháp cứu nước và cũng có phần bất lực, đành gửi những hoài bão của mình vào văn chương thơ phú"

Á Nam Trần Tuấn Khải sinh ngày 18.9 năm Át Mùi (1895) tại làng Quang Xán,  tổng Như Thức, huyện Mỹ Lộc (nay là Mỹ hà, Mỹ Lộc). Lúc nhỏ tên là Quynh, sau lớn lên được hiển khảo cho đổi là Tuấn Khải, đến khi viết báo, viết văn thường kí nhiều bút hiệu như : Côi Hoàng Khách, Đông A Thị, Tiểu Hoa Nhân, Đông Minh và Công Chính, Giang Hồ Tản Nhân và bút hiệu chính là á Nam  

Từ nhỏ đến khi trường thành danh năm 18 tuổi , ông theo cha là cử nhân Văn Hoán Trần Thuỵ Giáp đi khắp các huyện tỉnh Hà Nam, Hà Đông, Thái Bình, Hải Dương để học chữ và học làm người.Năm 10 tuổi, sức học của ông đã tấn tới, thỉnh thoảng có bài được đưa rabình cho học sinh nghe, có các quan khách và văn thân trong vùng đến phê điểm. Có lần ông phảI bình một bài thơ đầu đề " Miêu một thiên hưng", câu này là lời Mạnh Tử nói về vua Tề Tuyên, đại ý " Nắng thì lúa khô héo, nhưng một trận mưa xuống thì lúa lại bật lên ngay" để ví với dân bị đói khổ thì dân tất nguy ma nếu cho dân lo ấm thì dân tất thịnh vượng được ngay.Trong bài thơ này câu cuối của ông là :

" Miên hưng vũ hậu vương chi phủ 

Vật lý dân tình khả cộng trưng" 

( Đại ý, lúa miên bật lên sau khi được cơn mưa nhuần thấm, nhà vua có biết hay chăng ?Cái lẽ  của giống vật và cáI tình của nhân dân có thể chứng minh cho nhau được ). Hai câu này được các quan khách và văn thân ngồi dự khen tấm tắc, cho là có tư tưởng thiết thực đối với dân tình và lời lẽ cũng rất cảm động thanh thoát. Cũng do câu này, các cụ cho là sau này Tuấn Khải không hợp với con đường khoa cử công danh mà sẽ có những tư tưởng tha thiết vì nước vì dân.Năm 14 tuổi, theo hầu cha đến chơi dinh một quan án kia, quan án cũng chân khoa cử xuất thân, tính người lại rất thích văn quốc ngữ, nhân tiện ngay trước mặt có cuốn " ấu học tân thư" của toà Tu thư mới soạn và in phát cho học sinh các lớp trung học, viên án sát liền nhặt lấy một cuốn trong bốn cuốn đưa cho Khải và bảo thử chọn dịch một bài để xem.Ông giở sách gặp bài dạy về "ái Quần" ( yêu người cùng giống) bèn cầm bút dịch ngay một đoạn đưa lên.Nguyên bài văn chữ Hán như sau : 

Một hữu chủng nhất chủng khi điều phân 

Nhân hữu loại đồng loại khí huyết thân 

Ngã bản nam quốc chủng 

Ngã ái nam quốc nhân 

Hoan ngôn bảo chủng sự  

Mạc thương đồng loại nhân 

Phong tuy độc bất chích đồng quần 

Hồ tuy bạo bất thực đồng khí 

Vật loại thượng như ty 

Nhân loại hồ bất thị 

Phụ sà giảo da kê 

Tích nhân sở thân bỉ 

Chư quân như bất tín 

Khuyến quân độc nam sử 

Ông dịch :

Cây một giống nở nhiều cành chánh

Người cùng loài vây cánh cùng thân

Ta cùng một giống nam nhân 

Thì ta thương lấy nam dân khẻo mà

Vui nói việc giữ giống ta

Đừng tân địa để mà hại nhau

Ong độc cũng chẳng đốt nhau

Hổ kia dẫu dữ cùng hầu cùng yêu 

Ngẫm trăm chiều vật còn như thế 

Huống người ta chẳng nghĩ dễ mà… 

Kia câu cõng rắn cắn gà  

ấy là đời trước người ta chê cười 

Các anh như chẳng tin lời

Thì xin đọc sử các đời vua ta. 

Viên án sát đọc đi đọc lại mấy lượt gật đầu cười nói với hiển khảo : " Cậu này còn ít tuổi, phép văn tuy chưa được thực chỉnh xong khẩu khí rất thần tính, sau này may ra có thể nên người hữu ích". Đoạn ông lục trong tủ sách lấy ra một pho sách chữ Hán trao cho Tuấn Khải và nói :  

- Đây là bộ " Vạn quốc sử ký" tôi mới gửi mua ở Nhật Bản về, xin tặng nhà văn trẻ tuổi và khuyên cố gắng trau dồi để khỏi phụ công quan cử nhà ta. 

Trước khi từ trần, quan cử huấn đạo hiển khảo Trần Thụy Giáp nói với ông : " Công cha dạy con như thế ( ông chỉ có  cha làm thầy học ) cũng không có gì hối hận, con có thể thay cha mà cáng đáng gia đình và nuôi đàn em dại, cha cũng không còn gì đáng nói nữa"

Hiển khảo là một giáo chức, tình cảnh nơi làm quan rất xuông nhạt, thanh bạch, vì thế đối với các việc trong nhà như thổi cơm, khâu vá cùng các nghề làm ăn lặt vặt không gì là Khải không thành thạo. Ông thường phảI thức đến 12 giờ khuya để làm bài vở, 3 giờ sáng lại phải dậy để học bài cho thuộc. Đến 7 giờ là dạy lớp tiểu học, 10 giờ tan lớp mới đến lượt bản thân đọc sách cùng các bạn lớp trên.  

Sau năm Quý Sửu (1913) ông có dịp chu du khắp miền đông xứ bắc, kết giao được với nhiều bạn văn thân cách mạng, được nhiều người tán thưởng về tư tưởng văn chương tinh thần ái quần, ái quốc. Năm Canh Thân ( 1920) nhân anh em khuyến cáo góp nhặt các văn phẩm ngâm vịnh trong mấy lâu đưa lên Hà Nội Sản xuất bản tập văn đầu lấy tên là "Duyên nợ phù sinh" có tên chữ Hán là " Kim sinh luỵ" .Năm 1922 xuất bản " Duyên nợ phù sinh" tập II, năm 1925 xuất bản cuốn tiểu thuyết " Hồn hoa" và " Gương bể dâu", năm 1926 in tập thơ " Bút quan hoài" tập I gồm những bài đầy giọng bi hùng cổ vũ đồng bào các giới tinh thần yêu nước.Tập thơ này bị thực dân Pháp cấm lưu hành, tàng trữ.Năm 1027, nhà cách mạng Phan Bội Châu bị Pháp bắt từ Trung Quốc đem về giam tại Hoả Lò Hà Nội. Người bạn thân của ông đỗ tú tài là nhà văn ái quốc bàn với ông ra trước toà xn ở tù thay cho cụ Phan nhưng chính quyền Pháp không chấp nhận.Phẫn uất trước thời cuộc, năm 1932 ông in các tập thơ " Ngụ ngôn thi tập", " Bài hát nhà quê" , " Hồn tự lập" và một số sách nữa mang tên  " Chơi xuân" lẫn tập kịch " Gương đời".Riêng cuốn " Chơi xuân" bán hết ngay vài ngàn quyển do đó người Pháp để ý, bắt giam tác giả và giám đốc nhà xuất bản tại Hoả lò.Bởi lẽ nội dung quấn sách có ý tưởng hô hào dân chúng chống lại người Pháp.Năm 1936 ông lại cho in tập thơ " Với sơn hà" tập 1, năm 1947 in tiếp " Với sơn hà" tập 2.Có thể nói những tác phẩm xuất hiện liên tiếp của thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải mang nội dung yêu nước và nỗi niềm tâm sự của một tâm hồn yêu đời, yêu quê hương.Tác giả đã giáng bút trên nỗi đau mất nước, kêu gọi kín đáo và không kém thiết tha những ai quên nỗi nhục này hãy bừng tỉnh dậy, hãy vì Tổ Quốc mà hợp sức gánh vác việc giang sơn. 

         Bước đêm thân gái ngại ngùng 

         Nước non gánh nặng, cái đức ông chồng hay hỡi có hay  

                                               ( bài thơ Gánh nước đêm ) 

Nhờ ảnh hưởng của phong trào yêu nước, những sáng tác đầu tiên của Trần Tuấn Khải có tính chiến đấu, bồn chốn, day dứt và thương nước, thương dân với giọng ưu ái chân thành, đặc biệt là trong " Duyên nợ phù sinh" và " Bút quan hoài" 

Ông còn viết thường xuyên cho các báo : Thực nguyệt Dân báo, Hà thành Ngõ báo, Nữ lưu. Thư quán tùng san, Đuốc Nhà nam, Vệ nông, Thời báo đông tây tiểu thuyết, Phụ nữ thời đàn, Văn học tạp chí, Tiểu thuyết nguyệt san…Ông có chân trong ban  biên tập báo Khai Hoá, báo nào cũng gây được  nhiều cảm tình với người đọc, không những các nhà khoa bảng Hán học mà đối với các bạn tân học sau này ảnh hưởng cũng không phải là ít. Năm 1925 có cụ tiến sĩ Ngô Đức Kế, Một đại danh nho ở trung phần ra Hà Thành tham gia làng báo, cụ từng xem, đọc văn của Á Nam, cụ mến thích đã từ lâu lên khi  nhận chức chủ nhiệm tạp chí Hữu Thanh thi lập tức á Nam cùng được hợp tác.Năm 1931 Á Nam tập hợp các bài báo, bài văn thơ bàn với nhà xuất bản Nam - Lý soạn cuốn sách " Chơi xuân" thuật lại nhữg việc sảy ra tại Yên Bái trong năm vừa qua nhân việc Quốc dân Đảng khởi sự bị thất bại. Ông kể lại từng li từng tý các vụ đánh phá, bắt bớ, tàn sát của chế độ thực dân với giong bi hùng kích thích.Cuốn sách đã dược các giới đồng bào hết sức hoan nghênh, chỉ trong một tháng đã án hàng mấy ngàn quyển.Vì thế đầu năm Nhâm Thân người Pháp hạ lệnh bắt cả soạn giả và giám đốc nhà xuất bản giam vào nhà pha Hoả Lò về tội văn thơ báo cí của ông  đã khích lệ xúi dâm làm loạn và quấy rối trị an.Nhưng lại cũng nhờ những lời buộc tội ấy lên tác giả có đựoc những lý luận rất công bằng sắt đáng đứng ra tranh biện không hề sợ trước uy thế cường quyền lên toà chỉ sử phạt án treo và trả tự do cho cả hai người.

Á Nam Trần Tuấn Khải cũng là nhà báo quốc ngữ đã viết cho nhiều tờ báo đầu thế kỉ XX. Hoà bình lập lại, năm 1954 ông vào Nam sinh sống nhưng ngòi bút của ông không tiếp tục viết được. Năm 1949 tờ Văn học tạp chí của ông phải tự đình bản vì không chạy được tiền trả nhà in. Ông đành làm cái chân chuyên viên Hán học tại nhà văn hoá nhưng đến năm 1965 cũng bị mất việc vì kí tên vào bảng kiến nghị đòi vãn hồi hoà bình và những bài viết có tính chất đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc.Thi sĩ Á Nam Trần Tuấn KhảI đã từng là Trưởng Đoàn cố vấn Hội Văn nghệ Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định ( tiền thân của hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh ngày nay ). Ông từ trần ngày 7/3/1983. Vì sự cống hiến trong sự nghiệp văn thơ báo chí yêu nước nên chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã lấy tên ông đăt cho một đường phố, đó là đường Trần Tuấn Khải ( tức đường Nguyễn Huỳnh cũ ) và xây nhà Á Nam ( Á Nam lưu niệm đường) tại 5/4 ấp Bình Chánh, xã Hiệp Bình, quận Thủ Đức.Tại quê hương ông nay là xã Mĩ Hà, huyện Mỹ Lộc, Nam Định cũng đã dành một phần đất đẹp để làm nhà lưu niệm Á nam. 

. Đăng ngày 07.02.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Nam Định.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .