TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




TỪ VŨ


tranh cắt của hoạ sĩ Phú Thảo

Từ Vũ là bút hiệu và cũng là tên thật.

Sinh năm 1945 tại Bắc Việt .

Đi học tại HàNội .

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1953 .

Đi học : Bá Ninh, Lê Qúy Đôn NhaTrang, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Taberd , Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sàigòn...


Đi lính .

Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

Làm việc với tư cách một Giám Đốc cho các công ty sản xuất kỹ nghệ của người Pháp như Weber & Broutin - Lafarge - Allia - Allibert & Sommer....

Làm thơ , viết văn tài tử từ thời đi học và đăng tải trong các nhật báo, tuần báo tại Sàigon trước năm 1975 dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau.








PAULO COELHO

VĂN HÀO BRA-XIN


I - CUỘC ĐỜI

Paulo Coelho chào đời ngày 24 tháng 8 năm 1947 lúc 0 giờ 05 phút tại Rio de Janeiro, Bra-xin (Brésil) , trong một gia đình trung lưu. Cha ông, Pedro, là một kỹ sư và mẹ, Lygia, nội trợ. Paulo theo học trong một trường thầy tu dòng Tên (jésuite) tại San Ignacio, tự "rèn luyện" cho mình một tinh thần đối kháng với sự gò bó bởi nền giáo dục khắt khe của các thầy tu . Khát vọng văn chương của Paulo phát triển cũng sớm như sự cần thiết " nổi loạn" của cậu .

Không may cho Paulo, cha cậu , bối rối vì đứa con khó khăn này, đã đưa Paulo vào một bệnh viện tâm thần , bệnh viện của bác sĩ Eiras, trong khi đó Paulo mới chỉ được 17 tuổi. Tại đây Paulo Coelho đã bị giam 3 lần vào những năm 1966, 1967 và 1968.
Về những năm sau , nhà văn của chúng ta đã rút ra từ kinh nghiệm đau thương này tình tiết cấu kết cho tiểu thuyết xuất bản vào năm 1998 : Veronika decide morrer - " Véronika quyết định kết liễu đời mình ".

Cha mẹ ông muốn ông trở thành một kỹ sư, Paulo lại yêu thích kịch nghệ. Những năm 60 bùng nổ phong trào hippie quốc tế. Paulo nhiệt tâm tham gia .
Năm 1971, Paulo gặp gỡ Raul Seixtas
Năm 1973 hai người gia nhập Sociedad Alternativa, một tổ chức chống kháng chủ nghĩa tư bản. Họ viết một tập nhạc, Khig-HấBangalo, Paulo viết lời, Seixtas soạn nhạc và trình bầy. Những nhạc phẩm của họ như Eu nasci há dez mil anos atrás (I was born ten thousand years ago), Gita and Al Capone...đã đạt được rất nhiều thành công.

Bra-xin (Brésil) rơi vào tay chế độ độc tài quân phiệt. Tinh thần tự do vô chính phủ cuả Paulo qua nhiều hoạt động khác nhau : ký giả, nhạc sĩ, vẽ tranh ... đã đặt Paulo vào vị trí của một phần tử phản động chống đối nhà nước.
Năm 1974, Paulo bị bắt giam 3 lần và bị tra tấn suốt một tuần lễ. Mỉa mai thay, chính nhờ dựa vào "hồ sơ thần kinh" của những năm 1966,1967,1968 Paulo giả dạng làm một người điên nhờ thế nên thoát được thần chết .

Năm 26 tuổi, Paulo vào làm việc cho Polygram Bra-xin, tại đây ông đã gặp người vợ đầu tiên.
Đời sống " bình thường " của ông chỉ kéo dài được vài năm.

Sự hợp tác với Raul Seixtas là một trong những thành công của Paulo, hai người làm việc chung với nhau cho đến năm 1976 và đóng góp vào việc thay đổi khuôn mặt nhạc rock tại Bra-xin. Paulo Coelho đã viết lời cho khoảng hơn 60 bản nhạc.
Năm 1977, Paulo đến Luân Đôn, Anh quốc, để trở thành giám đốc nghệ thuật cho hệ thống truyền hình CBS tại Bra-xin và chia tay với người vợ đầu tiên.

Khi Paulo Coelho đến thăm trại tập trung Dachau, ( một trại tập trung nằm về hướng bắc tỉnh Munich Đức quốc - nơi giam giữ , tra tấn, thủ tiêu của cơ quan SS, Gestapo dưới chế độ quốc xã của Hitler vào những năm 1933 cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1945 khi sư đoàn 45 bộ binh của quân đoàn 7 Hoa Kỳ giải phóng ), tại nơi của chết chóc và đau khổ này đã tạo một bước rẽ quan trọng trong tư tưởng của nhà văn . Bằng những cảm xúc của sự tĩnh tâm, Coelho có một ý niệm về một sự kiện nào đó sẽ xảy ra , rồi sau đó vài tháng ý niệm đã trở thành một cuộc gặp gỡ thật sự tại Hoà Lan : Coelho gặp một người tên Jean, mà Coelho không muốn tiết lộ lai lịch. Người đàn ông này đã đóng vai trò chính yếu cho sự giải hoà với Thiên Chúa giáo và sự tự nguyện văn chương của Coelho.

Năm 1980 Coelho ngưng tất cả các hoạt động của ông với Polygram và CBS rồi đi hành hương tại Saint-Jacques-de-Compostelle (Saint James of Compostella) theo lộ trình cổ truyền của những người hành hương ngày xưa cùng với Christina Oiticica, nữ đồng hành mới mà ông gặp vào năm 1979 ( hiện tại là vợ của ông ) . Nhà văn đã khám phá những bí mật của chính mình và của thế giới, tất cả hợp thành phần chủ yếu cho những lời ông muốn gởi gấm trong tương lai. Những sự việc đó cũng là nguyên liệu để ông sáng tác : Le Pèlerin de Compostelle - Người hành hương ở Compostelle xuất bản năm 1996.

Một phiêu lưu tuyệt vời và cũng có thể là trường hợp duy nhất : Khởi đầu Paulo Coelho với tác phẩm đầu tay chỉ 900 ấn bản được cho ra mắt bởi một nhà xuất bản nhỏ tại Bra-xin, mà hiện nay gần 75 triệu ấn bản, qua 62 ngôn ngữ khác nhau tại hơn 150 quốc gia .
Năm 1999, theo một cuộc điều tra của tờ báo Lire, Paulo Coelho là tác giả thứ nhì có tác phẩm bán nhiều nhất trên thế giới.

Trong vòng 10 năm, những tác phẩm của ông đã quyến rũ hàng triệu độc giả thuộc đủ tầng lớp xã hội, ngôn ngữ, giáo dục, màu da ...khác nhau. Các tác phẩm của ông được khai phá trên những chủ đề lấy từ bước khởi đầu rèn luyện của chính bản thân ông và phục nguyên một giá trị  tinh thần phức tạp bằng những từ ngữ giản dị qua những hình thái khác biệt. Những tác phẩm này đã và đang chiếm giữ vị trí tốt đẹp nhất trong danh sách những best-sellers quốc tế mà truyện O Alquimista - "Alchemist - L'Alchimiste - Người Luyện Giả Kim" - có một chỗ đứng đặc biệt . Truyện hoang đường khai tâm O Alquimista là một hiện tượng thành công được xem như một công trình tín ngưỡng, được so sánh với Le Petit Prince của Antoine de Saint-Exupéry hay Prophète (nhà tiên tri) của Khalil Gibran hoặc Jonathan Livingston Seagull của Richard Bach. O Alquimista được dùng để giảng dạy tại nhiều cơ sở giáo dục ở các quốc gia như Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Brasil, Đài Loan, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha...The Graduate School of Business của trường University of Chicago (Hoa Kỳ) đã khuyến cáo sinh viên tìm đọc trong học trình Cử Nhân Quản Trị Kinh Doanh (Master of Business Administration) .

Hiện nay, Paulo Coelho là người rất được mến mộ và là một khuôn mặt quan trọng trên sân khấu văn chương quốc tế. Tại Bra-xin, quê hương ông, Paulo Coelho vừa được mời gia nhập Viện Hàn Lâm Văn Chương. Paulo Coelho cũng thành lập một cơ quan trợ giúp những người nghèo khó tại Bra-xin và cống hiến vào nhiều chương trình nhân đạo quốc tế, đặc biệt với tổ chức Unesco.

Để kết thúc bản tiểu sử của nhà văn ngoại lệ này, người không ngớt làm chúng ta phải ngạc nhiên, chúng tôi xin được sử dụng những lời nói của một nhà văn người Nhật, Kenzaburo Oe, Nobel Văn chương 1994 :

Hàng triệu người trên thế giới đều có chung một ý nghĩ rằng :
"Paulo Coleho đã nắm được bí quyết của Người Luyện Giả Kim Văn Chương ".

II - GIẢI THƯỞNG , HUÂN CHƯƠNG ĐÃ ĐOẠT :

  • "I Premio Álava en el Corazón" (Spain 2006)
  • "Cruz do Mérito do Empreendedor Juscelino Kubitschek" (Brazil 2006)
  • “Wilbur Award”, presented by the Religion Communicators Council (USA 2006)
  • Kiklop Literary Award for The Zahir in the category "Hit of the Year" (Croatia 2006)
  • DirectGroup International Author Award (Germany 2005)
  • "Goldene Feder Award" (Germany 2005)
  • "The Budapest Prize" (Hungary 2005)
  • "Order of Honour of Ukraine" (Ukraine 2004)
  • "Order of St. Sophia" for contribution to revival of science and culture (Ukraine 2004)
  • "Nielsen Gold Book Award" for The Alchemist (UK 2004)
  • "Ex Libris Award" for Eleven Minutes (Serbia 2004)
  • Golden Bestseller Prize from the largest circulation daily "Večernje Novosti" (Serbia 2004)
  • "Best Fiction Corine International Award 2002" for The Alchemist (Germany 2002)
  • "Club of Budapest Planetary Arts Award 2002" as a recognition of his literary work (Germany 2002)
  • "Bambi 2001 Award" (Germany 2001)
  • "XXIII Premio Internazionale Fregene" (Italy 2001)
  • "Crystal Mirror Award" (Poland 2000)
  • "Chevalier de l'Ordre National de la Légion d'Honneur" (France 1999)
  • "Crystal Award" World Economic Forum (1999)
  • "Golden Medal of Galicia" (Spain 1999)
  • Finalist for the "International IMPAC Literary Award" (Ireland 1997 and 2000)
  • "Comendador de Ordem do Rio Branco" (Brazil 1998)
  • "Golden Book" (Yugoslavia 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, 2000 and 2004)
  • "Super Grinzane Cavour Book Award" (Italy 1996)
  • "Flaiano International Award" (Italy 1996)
  • "Knight of Arts and Letters" (France 1996)
  • "Grand Prix Litteraire Elle" (France 1995)


  • III - TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

    - Arquivos do inferno (1982)
    - Manual prático do vampirismo (1986)
    - O diário de um mago (1987)
    - O alquimista (1988)
    - Brida(1990)
    - O dom supremo (1991)
    - As valkírias (1992)
    - Na margem do rio Piedra eu sentei e chorei (1994)
    - Maktub (1994)
    - Frases (1995)
    - O Monte Cinco (1996)
    - O manual do guerreiro da luz (1997)
    - Veronika decide morrer (1998)
    - Palavras essenciais (1999)
    - O demônio e a Srta. Prym (2000)
    - Histórias para pais, filhos e netos (2001)
    - Onze minutos (2003)
    - O Gênio e as Rosas (2004)
    - O Zahir (2005)


    ĐÓN ĐỌC TRONG NHỮNG NGÀY SẮP TỚI :

    NGƯỜI LUYỆN VÀNG GIẢ (O Alquimista) của PAULO COELHO
    Từ Vũ phỏng dịch.




    TỪ VŨ
    Pháp - 23.10.2006



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN VĂN TRUYỆN NGẮN HỘI HỌA ÂM NHẠC