LAI LỊCH CHIẾC  MÁY  CHÉM

    Nhân vụ vua Louis XVI của Pháp và vợ ông là Hoàng hậu Marie Antoinette lên đoạn đầu đài năm 1793, tôi xin giới thiệu với bạn đọc về chiếc máy chém

    Huyền Viêm

MÔ  TẢ

Máy  chém là một cái khung hình chữ nhật, hai bên là hai chiếc cột cao 4,50 mét thường làm bằng gỗ lim rất chắc, trên đỉnh có xà ngang dài 0,70 mét, tại đây treo một lưỡi dao nặng 50 ký bằng thép đúc, lưỡi dao không bằng mà xéo, có công dụng giảm lực cản khi rơi trúng cổ tử tội. Lưỡi dao được giữ ở trên cao bằng một cái chốt nối liền với một sợi dây. Phía dưới cũng có một xà ngang khác và một cái giá hẹp để tử tội đặt đầu vào đó, tại đây có bốn miếng ván khoét hình bán nguyệt, ráp lại thành hai hình tròn, chặn phía trên và phía dưới cổ tử tội để lưỡi dao rơi vào giữa. Bên trong hai trụ là hai cái rãnh để lưỡi dao theo đó rơi xuống theo một đường thẳng đứng, khỏi lệch. Kế bên là thùng gỗ để quan tài. Khi hành quyết, đao phủ thủ chỉ cần kéo sợi dây là lưỡi đao rơi phập xuống và đầu tử tội sẽ đứt lìa khỏi cổ. Lưỡi dao nặng 50 ký rơi từ trên cao 4 mét xuống, không một cái cổ nào có thể cưỡng lại.

Rõ  ràng máy chém là một công cụ tử hình nhanh gọn và hữu hiệu nhất, nó giúp tử tội không kịp biết đau đớn vì được chết mau chóng hơn so với các cách xử bắn, ghế điện, hơi ngạt, treo cổ, tiêm thuốc độc, chém bằng đao, tứ mã phanh thây, tùng xẻo… mà các chế độ trước thường dùng.

LAI  LỊCH  CHIẾC  MÁY  CHÉM

Khoảng năm 1280 chiếc máy chém đầu tiên xuất hiện tại Anh quốc mang tên Halifax Gibbet, tên hai đạo luật của nước Anh ghép lại: Gibbet Law và The Laws of Halifax. Máy được đem ra sử dụng tại Halifax và Yorshire (Anh quốc). Trên ba thế kỷ, chiếc máy chém Halifax Gibbet đã chặt đầu vô số tử tội, trong đó có những nhân vật tên tuổi như nữ hoàng Mary Stuart xứ Scotland và vua Charles I của nước Anh. Hai tử tội cuối cùng là Mitchell và Willdrison bị chặt đầu ngày 19-11-1650 đánh dấu ngày tháo gỡ thiết bị tất cả máy chém Halifax Gibbet, không còn được đem ra sử dụng nữa.

Nguyên nhân đưa đến việc ngừng sử dụng máy chém này là vì vụ chặt đầu vua Charles I gây phẫn nộ trong quần chúng Anh. Họ đòi phải hủy máy chém Halifax Gibbet ngay tức khắc. Thấy công luận phẫn nộ dữ dội, chính quyền Anh phải nhượng bộ, cho triệt hạ hết các căn cứ đặt máy chém, nay vẫn còn tàn tích dụng cụ đó ở một vài nơi tại Anh quốc.

Khuyết  điểm của máy Halifax Gibbet là đã gặp trục trặc về lưỡi dao và súc gỗ kê đầu tử tội. Trường hợp tử tội Dennis là một thí dụ. Khi sắp bị hành quyết, y đã nhanh nhẹn rút đầu ra khỏi súc gỗ một tic-tắc trước khi lưỡi dao tử thần rơi xuống. Hội đồng giám trảm cho là điều kỳ diệu nên tha chết cho y, không bị đưa lên chém lại, nhưng phải tuân thủ một số điều kiện trong thời gian thử thách.

Lại thêm một trường hợp thứ hai: tử tội John Lacy cũng thoát chết nhờ kỳ công rút được đầu ra khỏi súc gỗ như Dennis. Y cũng được tha vì đã có tiền lệ, nhưng lại không chịu thi hành các điều khoản luật định trong thời gian thử thách mà lại bỏ trốn. Bảy năm sau y bị bắt và bị đưa lên máy chém ngay tức khắc ngày 26-1-1623, không cần đưa ra toà xét xử lại. Lần này thì Lacy không gặp may như lần trước (*).

Vào thời trung cổ, xứ Scotland đưa ra sử dụng chiếc máy chém mang tên Maiden (trinh nữ). Các phạm nhân thuộc dòng dõi quí tộc đã bị hành quyết bằng chiếc máy chém này. Năm 1581, bá tước James Douglas Morton cũng bị kết liễu cuộc đời dưới lưỡi đao của chiếc máy này.

Trong khoảng thời gian đó, Ý Đại Lợi đưa ra sử dụng chiếc máy chém mang tên Mannaia và chỉ được dùng cho giới quí tộc. Trong một cuốn sách ra đời năm 1459 của Pallicarius, nhan đề “Sự tử đạo của 12 tông đồ”, có một đoạn nói về việc hành quyết thánh Mathias, trong đó có một bức họa vẽ cái đầu thánh Mathias nằm trong một cái máy gần giống với máy Mannaia. Linh mục và cũng là nhà truyền giáo Labat (Jean Baptiste) (1663-1738) người Pháp, đã có dịp được thấy chiếc máy đó tại một nhà tù ở Civita-Vecchia (Ý) nên đã tả lại rất tỉ mỉ. Theo ông thì cái máy ấy cũng tương tự như cái máy chém ngày nay, chỉ khác một số chi tiết nhỏ mà thôi.

MÁY  CHÉM  VÀO  NƯỚC  PHÁP

Bác sĩ Joseph Ignace Guillotin (1738-1814), người Pháp, giáo sư ngành giải phẫu học tại Đại học đường Paris, không phải là người đầu tiên phát minh ra máy chém. Ông chỉ nghiên cứu các máy chém đã có sẵn tại Anh và Ý để chế tạo ra chiếc máy chém tối tân hơn, hoàn thiện hơn vào năm 1792. Sau khi nghiên cứu các loại máy chém, ông chọn chiếc máy Halifax Gibbet làm mẫu vì máy này tuy chưa hoàn hảo nhưng có nhiều ưu điểm hơn các máy khác. Từ năm 1792 đến năm 1977 là năm máy chém được cất vào viện bảo tàng, không một tử tội nào có thể rút đầu ra khỏi máy chém như Dennis và Lacy.

Là  nghị sĩ trong Quốc hội Pháp, ông ra sức thuyết phục các nhà lập pháp hãy dùng chiếc máy chém mới này để hành quyết tử tội vì nó làm cho tử tội chết ngay, không kịp biết đau đớn, thay cho hình phạt treo cổ hay xử bắn. Ông nói :“Những suy nghĩ nhân đạo đã khiến tôi phải nói ra những điều khó khăn này”.

Với luận cứ sắc bén có sức thuyết phục mạnh, ngày 20-3-1792, Quốc hội Pháp cho phép sử dụng máy chém này và máy được mang tên người khai sinh ra nó: Guillotine (vì chữ La Guillotine là giống cái nên người ta thêm chữ e vào cuối tên BS Guillotin). Trước khi mang tên này, máy chém đã có tên La veuve (goá phụ) và Louisette. Vậy bác sĩ Guillotin là ân nhân hay kẻ thù của nhân loại?

“Vị khách” đầu tiên của chiếc máy này là một tên cướp có vũ khí, Nicholas Pelletier, chuyên đánh cướp trên các trục lộ giao thông, bị chặt đầu ngày 25-4-1792. Đoạn đầu đài được dựng lên tại quãng trường Grève ở Paris. Đây là nơi thường hay dùng để hành quyết các tử tù. Những năm 1792-1794 của thời kỳ Đại Cách mạng Pháp, cũng gọi là thời kỳ Đại Khủng Bố, có khoảng 50 máy chém như thế hoạt động, đặt rải rác ở nhiều nơi, có ngày máy làm việc tới sáu giờ liền mà cũng không thể chém hết tội nhân, và số người bị chặt đầu lên đến khoảng 30.000 người. Thật đúng là cái cảnh thây chất như núi, máu chảy thành sông. Thời đó người dân Pháp luôn sống trong sợ hãi, kinh hoàng vì không biết lúc nào mình bị kết tội phản cách mạng và bị đưa lên máy chém bởi ngay cả các vị tai to mặt lớn trong chính quyền, Quốc hội, những người có công với cách mạng cũng lần lượt lên đoạn đầu đài.

Ngoài vua Louis XVI và Hoàng hậu Marie Antoinette lên máy chém năm 1793, còn có các nhà thơ, nhà báo, luật sư, các nhà khoa học, viên chức chính quyền, các nghị sĩ Quốc ước hội… thay nhau lên đoạn đầu đài như thi sĩ André Chénier, nhà bác học Lavoisier, cựu thị trưởng Paris Bailly, các ông Louis Philippe d’Orléans, Camille Desmoulins, Hérault de Séchelles, Fabre d’Eglantine, Hébert, Danton, Robespierre… Danh sách còn dài, không sao kể hết.

Jacques Hébert (1757-1794) viết cho tờ Père Duchesne, một tờ báo chính trị thời cách mạng Pháp, lời và ý rất mạnh mẽ, dữ dội, đã bị Robespierre đưa lên đoạn đầu đài năm 1794.

Danton (Georges-Jacques) (1759-1794) vốn là luật sư, đã từng làm Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ cách mạng. Sáng lập ra đảng Cordeliers, Danton là một yếu nhân đã từng nắm vận mệnh nước Pháp một thời gian sau cách mạng. Được bầu vào Quốc ước hội, ông gia nhập Sơn đảng (đảng Montagnards). Ông có tài hùng biện, tiếng nói như sấm. Vì phản đối chủ trương đẫm máu của Robespierre, bị ông này đưa lên máy chém vì tội phản cách mạng (1794).

Robespierre (1758-1794) xuất thân là luật sư, ông tham gia chính trị ngay từ những ngày đầu cách mạng. Là đại biểu của thủ đô Paris trong Quốc ước hội, ông cương quyết bỏ phiếu xử tử vua Louis XVI rồi dùng phương pháp khủng bố đưa lên đoạn đầu đài vô số những phần tử đối lập với ông, trong đó có những người trước đây là đồng chí của ông trong Sơn đảng như Hébert, Danton…

Robespierre tỏ ra rất độc tài. Nước Pháp sống trong tình trạng khủng bố chưa từng thấy. Tòa án cách mạng có thể chỉ căn cứ vào lời buộc tội mà kết án tử hình, không cần bằng chứng. Bị kết án là chém ngay, không có chuyện phúc thẩm hay giám đốc thẩm. Trong khoảng 47 ngày mà có đến 1400 người bị đưa lên máy chém !

Các phe đối lập với Robespierre lo sợ cho số phận mình bèn bí mật liên kết với nhau

để hạ nhà  độc tài Robespierre. Trong một buổi họp của Quốc ước hội, ông bị truy tố và bị kết án tử hình. Robespierre giết người một cách rất thản nhiên, đến lượt ông, ông cũng thản nhiên lên đoạn đầu đài ngày 9 Thermidor năm dân quốc thứ hai (27-7-1794).

Cả  ba người này đều là những người tài, chỉ  vì đố kỵ và nông cạn mà tàn sát  lẫn nhau lúc cả ba người mới ngoài ba mươi tuổi. Thật đáng tiếc!

Ở các tỉnh, sự tàn sát còn ghê gớm hơn nữa. Ở Nantes, người ta cho rằng máy chém làm việc chậm chạp quá nên đã chở tội nhân ra giữa sông rồi đánh đắm thuyền.

Sau khi Robespierre bị lật đổ, chế độ khủng bố lập tức bị bãi bỏ, một chính phủ ôn hòa lên cầm quyền. Nhân dân Pháp thở phào nhẹ nhõm như vừa trải qua một cơn ác mộng. Năm 1977 Quốc hội Pháp chính thức bãi bỏ án tử hình, chiếc máy chém bị đưa vào viện bảo tàng để hậu thế biết đến  một thời kỳ giết người kinh khủng ở nước Pháp cuối thế kỷ XVIII.

VẤN  ĐỀ  BÃI  BỎ  ÁN  TỬ  HÌNH

Thật ra vấn đề bãi bỏ án tử hình không hề đơn giản mà phải trải qua những cuộc đấu tranh quyết liệt. Thoạt tiên nhà đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885) đã viết cuốn “Ngày cuối cùng của một tử tù” (Le dernier jour d’un Condamné) năm 1829 gây xúc động mạnh cho người đọc và lôi cuốn nhiều người đứng vào hàng ngũ tranh đấu đòi bãi bỏ án tử hình.

Tiếp tục cái sứ mệnh của Victor Hugo, đại văn hào Anh Charles Dickens (1812-1870) viết cuốn “Câu chuyện của hai thành phố” (A tale of two Cities) trong đó ông mô tả cảnh pháp trường nơi hành quyết các nhà quí tộc và các nạn nhân vô tội rất tàn nhẫn và khủng khiếp trong thời kỳ Đại Cách mạng Pháp.

Đầu thế kỷ XX, nhà văn Albert Camus (1913-1960), giải Nobel văn chương 1957, đã viết cuốn “Hồi ức về máy chém Guillotine” trong đó ông cho rằng hơn một trăm năm sử dụng máy chém để răn đe những kẻ lăm le phạm pháp đã không có kết quả gì, trái lại nạn phạm pháp vẫn cứ gia tăng.

Giữa lúc phong trào đấu tranh đòi xóa bỏ án tử hình đang phát triển mạnh mẽ và thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia trên khắp hành tinh thì không may xảy ra hai cuộc đại chiến thế giới khiến phong trào phải chững lại.

Năm 1945 cuộc thế chiến thứ hai chấm dứt, phong trào này lại tiếp tục. Ngày 10-12-1948 Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua bản “Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền”, trong đó điều 3 qui định “Ai cũng có quyền sống”. Các nhà tranh đấu vin vào đó để đòi xóa bỏ án tử hình.

Theo tài liệu của tổ chức Ân xá Quốc tế,  đến cuối năm 2006, gần hai phần ba các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã bãi bỏ án tử hình, nhưng Hoa Kỳ và Việt Nam thì chưa bỏ.

MÁY  CHÉM  SANG  VIỆT  NAM

Năm 1917, máy chém được thực dân Pháp đưa sang Việt Nam để hành quyết những người dân yêu nước. Máy này được đặt tại Khám Lớn Sài Gòn, đường Lagrandière, nay là đường Lý Tự Trọng.

Trước kia, thực dân Pháp vẫn duy trì cách “xử trảm”  theo kiểu cổ điển, sai đao phủ chém người ở  các bãi sông hay cồn cát. Sau, để giết người được “văn minh” hơn, theo lời chúng nói, chúng đã đưa máy chém từ Pháp sang.

Ngày 10-10-1929, hai người lên máy chém là hai đảng viên Cộng sản: Ngô Thêm và Trần Trương Công. Sang năm sau, ngày 17-6-1930, Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã hiên ngang lên đoạn đầu đài ở Yên Bái. Ai nấy đều hô to “Việt Nam!” hay “Việt Nam vạn tuế!” trước khi thọ hình khiến sĩ quan và binh sĩ Pháp phải kiêng nể . Riêng Phó Đức Chính đòi được nằm ngửa để xem lưỡi đao rơi xuống cổ mình như thế nào.

Cái chết oanh liệt của mười ba chiến sĩ Quốc Dân  Đảng ở Yên Bái được những người chứng kiến rất khâm phục, trong đó có cô Nguyễn Thị Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học. Louis Roubaud, nhà báo và nhà sử học Pháp đi cùng xe với các chiến sĩ từ Hà Nội lên Yên Bái và chứng kiến cái chết vẻ vang của họ, khi về Pháp, năm 1931, đã cho xuất bản cuốn “Việt Nam” kể lại cuộc khởi nghĩa Yên Bái và vụ hành quyết mười ba chiến sĩ. Ông viết:  :“Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam!  Mười ba lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. Mười ba người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài chừng hai mét”.

Roubaud không giấu được lòng kính phục Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Yên Bái. Ông viết  :“Nguyễn Thái Học đã cãi lý với với cố đạo Dronet đi theo để rửa tội cho những người sắp chết. Ông nói:

- Chúng tôi không phải là những người có tội., chúng tôi chỉ là những người thất bại. Chúng tôi chẳng có gì phải ăn năn cả.

Rồi  ông đọc mấy câu thơ tiếng Pháp:

      Mourir pour sa patrie

      C’est le sort le plus beau

      Le plus digne d’envie. 

      (Chết vì Tổ quốc

      Cái chết vinh quang.

      Lòng ta sung sướng,

      Trí  ta nhẹ nhàng)”

Ngoài số người bị giết, còn hơn 500 chiến sĩ Quốc Dân Đảng bị lưu đày ở nhà lao An Nam trên đảo Guyane (Nam Mỹ).

Người lên máy chém cuối cùng ở Việt Nam là ông Hồng Lê Kha, Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Tây Ninh, bị hành quyết ngày 12-3-1960.

Chiếc máy chém ra đời đã chặt đầu hàng vạn người, trong đó có biết bao người dân lành vô tội.

_________________________________________________

(*) Theo Nguyễn Văn Thành..

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 21.01.2011 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .