Tranh vẽ cảnh quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định (1859)

152 Năm Thành Gia Định Thất Thủ
(1859-2011)

Cuộc Kháng Chiến Chống Thực Dân Pháp Xâm Lược.



Cách đây đúng 152 năm, đội hải quân viễn chinh của thực dân Pháp và Tây Ban Nha đã vô cớ ồ ạt đưa tàu chiến vào sông Sài Gòn rồi chạy vào rạch Thị Nghè nổ súng đại bác tấn công cửa đông thành Gia Định mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam dưới triều đại Tự Đức nhà Nguyễn chỉ vì sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân và tư bản phương Tây.

Sách “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, NXB Văn hóa Thông tin 1999” chép như sau :”Đến tháng giêng năm Kỷ mùi (1859) là năm Tự Đức thứ 12, Trung tướng (Rigault de Genouilly) giao quyền lại cho Trung tá Toyon ở lại giữ các đồn tại Đà Nẵng, rồi còn bao nhiêu binh thuyền đem vào Nam Kỳ. Quân Pháp vào cửa Cân Giờ, bắn phá các pháo đài ở hai bên bờ sông Đồng Nai, rồi tiến lên đánh thành Gia Định” (trang 518). Theo đó, ở Gia Định bấy giờ tuy có nhiều binh khí nhưng quân lính không luyện tập, việc võ bị bỏ trễ nải, cho nên khi quân Pháp ở cửa Cần Giờ tiến lên, quân Hộ đốc là Võ Duy Ninh vội vàng tư đi các tỉnh lấy binh về cứu viện, nhưng chỉ trong hai ngày thì thành vỡ. Võ Duy Ninh tự tận. Quân nước Pháp và nước I-Pha-Nho (Tây Ban Nha) vào thành, lấy được 200 khẩu súng đại bác, 8 vạn rưỡi kí lô thuốc súng và độ chừng 18 vạn Phật lăng (francs) cả tiền lẫn bạc, còn các binh khí và thóc gạo thì không biết bao nhiêu mà kể.

Theo các sử liệu, thành Gia Định xây lại năm 1837 gần bên thành Bát quái (hay Quy) kiểu Vauban của Pháp, là một thành vuông vức mỗi bề 475 mét. Trong thành Gia Định, số quân hơn 2.000, đại bác 200 khẩu, thuốc súng 80.000 kilô, nhiều bạc nén, nhất là nhiều thóc, thóc đủ nuôi một vạn quân trong một năm. Ngày nay được biết thành nằm ở vị trí được giới hạn bởi các đường : Nguyễn Bỉnh Khiêm (đông), Mạc Đĩnh Chi (Tây), Nguyễn Đình Chiểu (Bắc) và Nguyễn Du (Nam). Tàu chiến liên quân Pháp – Tây Ban Nha chạy vào rạch Thị Nghè nả đại bác và đổ bộ lên tấn công cửa thành Đông tức chỗ Thảo cầm viên hiện nay. Sách Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 1987 tả lại trận đánh như sau : Rạng ngày 17/2/1859, liên quân Pháp – I Pha Nho nổ pháo tập trung vào gốc đông nam thành Gia Định, đổ bộ, đưa chất nổ tới phá thành, đánh thủng cửa đông, đồng thời dùng thang cao leo thành. Pháo trên thành dội xuống tàu địch gần đó nhưng không bắn chìm được chiếc nào. Hai bên đánh xáp lá cà trong thành. Đến trưa, quân thủ thành rút lui, để lại trong thành hầu hết đại bác, đạn dược, tất cả thóc gạo và hơn trăm chiến thuyền gỗ trên sông Thị Nghè (trang 249).

Sau khi lấy được thành, ngày 18/3/1859 De Genouilly đặt mấy chục ổ thuốc nổ phá tung nhiều đoạn tường thành, đốt dinh thự kho tàng bên trong, đốt cả lúa thóc. Người ta kể lại rằng, kho thóc thành Gia Định cháy mãi đến hai năm mà khói còn nghi ngút. Hai mươi bốn tháng nắng mưa không làm tắt được đám cháy này. Giặc Pháp cũng cướp giựt, đốt luôn nhiều phố xá thương mãi và thôn xóm dân cư. Cụ Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ yêu nước nổi tiếng miền Nam lúc đó đã than thở :

                         Bến Nghé của tiền tan bọt nước
                   Đồng Nai tranh ngói nhuộm màu mây.       

                      (Văn tế chiến sĩ Cần Giuộc)

Triều đình nhà Nguyễn cử thống tướng Nguyễn Tri Phương từng tổ chức đánh chặn thành công giặc Pháp ở Đà Nẵng năm trước, vào đắp thành “Kỳ Hòa” (Chí Hòa) gọi là đại đồn Kỳ Hòa (nay ở vị trí khu du lịch Kỳ Hòa, rộng từ Bảy Hiền tới Phú Thọ, nay thuộc quận 10 và Tân Bình để chống lại giặc Pháp đang đồn trú tại trung tâm Gia Định, nay là khu vực bệnh viện Nhi đồng II quận 1. Nhưng quân xâm lược Pháp đã kéo lên tiến công đại đồn dữ dội và thành thất thủ. Tháng giêng năm Tân Dậu (1861), tướng Charner đem 70 tàu chiến và 3.500 quân bộ tiến từ thành Gia Định đánh lấy đồn Kỳ Hòa. Tướng Nguyễn Tri Phương bị thương và em là Nguyễn Duy tử trận, tướng Phạm Thế Hiển và số lớn quan quân còn lại rút lui về Biên Hòa, một số cố thủ thành hậu Thuận Kiều (nay thuộc xã Tân Thới Nhứt huyện Hốc Môn gần Bà Điểm) mà về sau Trương Định và Phan Công Hớn chiếm giữ thêm một thời gian.

Sau đó, quân giặc đã tràn đi các nơi lân cận như Thủ Dầu Một, Tây Ninh, tướng Page đánh chiếm Định Tường (Mỹ Tho) ngày 15/4/1861, Biên Hòa ngày 7/1/1862 dẫn đến Hòa ước năm Nhâm Tuất 1862 triều đình Tự Đức nhượng địa ba tỉnh miền Đông. Ngày 19/3/1867 Đinh Mão quân Pháp tiếp tục đánh chiếm Vĩnh Long, ngày 20/5 chiếm tỉnh An Giang và ngày 25/5 chiếm tỉnh Hà Tiên. Kinh lược sứ Phan Thanh Giản phải uống thuốc độc tự tử. Sau này, người ta sưu tầm được bài thơ “Phú Gia Định thất thủ” (vô danh) có đoạn cho thấy nỗi lòng của người dân Gia Định trong cơn nguy biến này ở Nam Kỳ trước họa xâm lược của thực dân Pháp đầu tiên xâm chiếm miền Nam nước ta :

                       Ngậm ngùi thay ba bốn lần Gò  Vấp

                       Cây cỏ khô, thân thể  cũng khô

                       Bát ngát nhẽ 18 thôn vườn trầu

                       Hoa trái rụng rời, người cũng rụng

                       Mấy dặm Gò Đen, Rạch Kiến 

                       Ngọn lửa thiêu sự nghiệp sạch không !

Khi giặc ngoại xâm Pháp chiếm thêm ba tỉnh miền Tây, sĩ phu trong nước truyền hịch cho nhân dân biết, trong đó có các câu :

                      Từ đó, cả miền Nam

                      Đều trở thành thuộc địa

                       Phan Thanh Giản căm hờn

                      Tự tử vì việc nghĩa ! 

Giặc Pháp vẫn chưa bằng lòng với miền Nam nên tiếp tục đem quân ra miền Bắc gây sự để đánh chiếm thành Hà Nội ngày 20/11/1873 năm Quý Dậu, tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương rồi tự sát, con là Nguyễn Lâm tử trận. Ngày 25/4/1882 năm Nhân Ngọ, quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, tổng đốc Hoàng Diệu tự tử. Quân Pháp lại tiếp tục đánh chiếm các tỉnh phía Bắc và tới tháng 5/1884 đã làm chủ cả miền Trung châu xứ Bắc Kỳ. Trong khi đó, quân nhà Thanh lại đóng quân ở các tỉnh biên giới từ Lạng Sơn, Cao Bằng tới Lào Cai khiến cho Pháp phải ký hiệp ước Fournier tại Thiên Tân giữa Trung tá Fournier với Lý Hồng Chương để quân nhà Thanh rút về nước giao Bắc Kỳ lại cho Pháp cai trị. Để có toàn quyền đô hộ Việt Nam, lãnh sự Pháp tại Bắc Kinh là Jules Patenôtre đến Huế để ký hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn, Hòa ước Giáp Thân hay Hòa ước Patenốtre được ký ngày 6/6/1884 để cho Pháp thiết lập nền bảo hộ Việt Nam hoàn toàn. Cái ấn tín nhà Thanh phong vương cho nhà Nguyễn từ thời Gia Long phải đem hủy bỏ để chứng tỏ nhà Thanh không còn liên quan tới nhà Nguyễn nữa mà thuộc về Pháp. Vì chuyện này mà quân nhà Thanh đánh nhau với quân Pháp ở các tỉnh giáp giới dẫn đến hai bên phải tương nhượng nhau và ký hòa ước Thiên Tân quy định lại đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trên đất trên biển như nguyên trạng ngày nay (trừ quần đảo Hoàng Sa Trung Quốc chiếm lại năm 1975). Từ đó, Pháp hoàn toàn đô hộ Việt Nam.

Cũng vì vụ Hòa ước Thiên Tân mà triều đình nhà Nguyễn từ thời vua Hàm Nghi lên ngôi đã xảy ra chiến tranh ở Huế và Hàm Nghi phải rời Huế tới Quảng Trị ra hịch Cần Vương chống Pháp ngày 13/6/1885. Từ hịch này mà nhân dân từ Bắc tới Nam đều hướng về Tổ quốc nổi lên kháng chiến chống Pháp từ Phan Đình Phùng ở Trung, Hoàng Hoa Thám ở Bắc đến Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương Võ Duy Dương (con Võ Duy Ninh thời thành Gia Định thất thủ) ở Nam từ Gia Định tới Đồng Tháp Mười v.v…nhưng lần lượt đều thất bại, kéo dài từ đó cho tới đầu thề kỷ 20 vào những năm 1920-1930 nước ta mới có cơ hội đem lại thành công từ Cách mạng tháng Tám 1945 với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người đứng đầu chủ xướng là ông Hồ Chí Minh tức Nguyễn Tất Thành quê ở Nam Đàn, Nghệ Tĩnh theo gương của hai nhà ái quốc Phan Bội Châu (phong trào Đông Du), Phan Chu Trinh (phong trào Tây Du), ra nước ngoài tháng 6/1911 tới Pháp, gia nhập đảng Cộng sản Pháp và tìm ra con đường cứu nước bằng chủ nghĩa Mác – Lê Nin thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trở về nước đầu năm 1941 để trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng kháng Pháp thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945 chấm dứt chế độ phong kiến của nhà Nguyễn và chế độ cai trị thuộc địa của Pháp theo hiệp định quốc tế Genève và sau đó là hiệp định Paris (1972) chấm dứt sự lệ thuộc Mỹ ở miền Nam.

Người ta thường nói “Miền Nam đi trước về sau” trong chặng đường lịch sử đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm từ Pháp cho đến Mỹ vì khởi sự chống Pháp xâm lược miền Nam từ đánh chiếm thành Gia Định năm 1859 và Sài Gòn – Gia Định là cái nôi kháng chiến ngay sau đó và khi kết thúc chiến tranh thống nhất đất nước vẫn diễn ra ở miền Nam tại chính nơi đây.

Sách “Lịch sử đấu tranh, xây dựng của Đảng bộ và nhân dân quận Bình Thạnh 1930-2005”, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh 2008, cho biết sự  phản công chiến đấu anh dũng của nhân dân Bình Hòa – Thạnh Mỹ Tây (Gia Định nay là quận Bình Thạnh) như sau : Ngay từ những ngày đầu, nhân dân Bình Hòa – Thạnh Mỹ Tây cùng với nhân dân Sài Gòn – Gia Định đã có mặt trong những trận đánh ác liệt bảo vệ mảnh đất thân yêu của mình. Nhân dân nơi này đã cùng với nhân dân Phú Nhuận, Gò Vấp có mặt trong hàng ngũ nghĩa quân và đội ngũ hậu cần tiếp tế lương thực cho quân triều đình. Đại đồn thất thủ, Gia Định hoàn toàn rơi vào tay của quân xâm lược Pháp. Triều đình Huế bất lực nhưng nhân dân Gia Định thì vẫn tiếp tục chiến đấu chống ngoại xâm dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước. Nổi bật là trận phục kích của dân làng Phú Mỹ bắn trọng thương tên Harmand đại úy Hải quân Pháp khi hắn đi tuần thám trên sông Thị Nghè vào năm 1860.

Khu vực Thị Nghè – Cầu Bông trở thành di tích lịch sử với những chiến thắng chói lọi trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp lẫn chống Mỹ. Đất Gia Định, đáng nhớ là xã Bình Hòa – Thạnh Mỹ Tây (Bà Chiểu – Thị Nghè) đã đi đầu trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm đầu tiên khi thành Gia Định thất thủ cho đến sau này chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn suốt thời kỳ chống chính quyền đô hộ và tay sai bán nước. Cuộc kháng chiến ngay trong lòng địch lúc bị giặc tạm chiếm kể từ khi có Đảng (3/2/1930) càng mạnh mẽ hơn. Chính những nhà lãnh đạo Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy và Tỉnh ủy đều có mặt tại đây để lãnh đạo nhân dân trong nhiều thời kỳ, nhiều cao trào cách mạng đáng nhớ trong lịch sử.

Hai cây cầu nổi tiếng trong lịch sử của Bình Hòa – Thạnh Mỹ Tây (Thị Nghè, Cầu Bông) luôn là những mặt trận tiền đồn ngăn chặn giặc từ Sài Gòn ra Gia Định, là căn cứ lòng dân chống giặc ngay trong lòng của chúng suốt chặng đường dài lịch sử chống Pháp (1859-1954) đánh Mỹ (1955-1975). Cuối cùng, quận Bình Thạnh vẫn là cửa ngỏ đưa các đoàn quân giải phóng từ các chiến khu miền Đông Nam Bộ và đại quân hùng hậu từ trung ương về để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng vào một mùa xuân đại thắng với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30/4/1975.



_____________________________________________________

(Xuân Tân Mão 2011)



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 19.01.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .